1001+ bài văn nghị luận văn học hay nhất cho mọi thể loại
200+ bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ thất ngôn bá.. Top 45 Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích một tác phẩm thơ thất ngôn bát cú hay nhất>
1, Mở đoạn: - Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nêu cảm nhận chung (đề tài, cảm xúc chủ đạo). 2, Thân đoạn.
Dàn ý
1, Mở đoạn:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nêu cảm nhận chung (đề tài, cảm xúc chủ đạo).
2, Thân đoạn:
- Hai câu đề: Nêu bối cảnh, thời gian, không gian và ý tưởng chính.
- Hai câu thực: Cụ thể hóa cảnh vật/tâm trạng, sử dụng nghệ thuật đối, từ ngữ gợi cảm.
- Hai câu luận: Mở rộng tâm trạng, sự tương phản/tương đồng, đẩy cảm xúc lên cao.
- Hai câu kết: Đúc kết lại tâm tư, tình cảm của tác giả (tình yêu thiên nhiên, nỗi niềm thời thế...).
- Lưu ý: Lồng ghép phân tích nghệ thuật (niêm, luật, đối, nhãn tự) với nội dung.
3, Kết đoạn: Khẳng định giá trị nghệ thuật và nội dung của bài thơ.
Bài siêu ngắn Mẫu 1
Thu điếu của Nguyễn Khuyến là bức tranh mùa thu mang vẻ đẹp tĩnh lặng, thanh sơ của làng quê Bắc Bộ. Hai câu đề mở ra không gian nhỏ bé với ao thu và chiếc thuyền câu, gợi cảm giác cô quạnh. Các câu thực và luận tiếp tục khắc họa cảnh vật qua những chuyển động rất nhẹ như sóng biếc, lá vàng, tạo nên một thế giới gần như bất động. Đến hai câu kết, hình ảnh người câu cá xuất hiện nhưng dường như chỉ là cái cớ để bộc lộ tâm trạng nhàn tản, cô đơn. Bài thơ sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình tinh tế, qua đó thể hiện nỗi lòng của nhà thơ trước thời thế.
Bài siêu ngắn Mẫu 2
Thương vợ của Trần Tế Xương là bài thơ giàu cảm xúc về tình nghĩa vợ chồng. Sáu câu đầu khắc họa hình ảnh bà Tú tảo tần, chịu thương chịu khó qua những chi tiết đời thường giản dị. Câu thơ “nuôi đủ năm con với một chồng” vừa chân thực vừa chứa đựng nỗi tự trào của tác giả. Hai câu kết thể hiện sự tự ý thức, khi nhà thơ nhận ra sự bất lực của mình trước gánh nặng gia đình. Bài thơ vừa chan chứa tình thương, vừa mang sắc thái trào phúng, tạo nên chiều sâu nhân văn.
Bài siêu ngắn Mẫu 3
Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến thể hiện vẻ đẹp của tình bạn chân thành, giản dị. Sáu câu đầu liệt kê hàng loạt cái “không có” như trẻ đi vắng, chợ xa, vườn rộng…, tạo nên tình huống éo le nhưng hóm hỉnh. Chính trong cái thiếu thốn ấy, tình bạn lại càng trở nên đáng quý. Hai câu kết “ta với ta” khẳng định sự đồng điệu tâm hồn, không cần vật chất làm trung gian. Bài thơ mang giọng điệu tự nhiên, gần gũi, cho thấy tài năng của Nguyễn Khuyến trong việc đưa chất đời thường vào thơ Đường luật.
Bài tham khảo Mẫu 1
Bài thơ "Qua Đèo ngang" thuộc thể loại thơ Thất Ngôn Bát Cú của nhà thơ Huyện Thanh Quan, nổi tiếng trong văn học dân gian Việt Nam. Bài thơ mang đậm tinh thần dân tộc và sự quê hương, kể về hành trình vượt qua đèo khó khăn, một biểu tượng của cuộc sống đầy gian truân và thử thách của người dân Việt Nam. Trong bài thơ, ngôn từ tươi sáng và hình ảnh sống động được sử dụng để mô tả cảnh đẹp tự nhiên và sức sống của những con người vượt qua khó khăn. Đèo trở thành biểu tượng cho những khó khăn, thách thức mà con người phải đối mặt trong cuộc sống. Tuy nhiên, qua từng cung đường, dưới bóng rừng thông, bước chân người đi mang theo tinh thần kiên trì và quyết tâm, thể hiện sức mạnh và lòng gan dạ của dân tộc Việt Nam. Bài thơ không chỉ là một hình ảnh của quê hương, mà còn là biểu tượng của tinh thần bất khuất của người Việt Nam trước mọi khó khăn và thách thức. Nó là sự tôn vinh cho lòng can đảm và ý chí kiên cường, cũng như sự kiên nhẫn và hy sinh của dân tộc trong hành trình vươn lên và phát triển. Tóm lại, bài thơ "Qua Đèo ngang" không chỉ là một tác phẩm văn học mà còn là biểu tượng của tinh thần bất khuất và sức mạnh của người dân Việt Nam trong cuộc sống đầy gian nan.
Bài tham khảo Mẫu 2
Một tác phẩm tiêu biểu khác của thơ thất ngôn bát cú Đường luật là Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến. Bài thơ thể hiện tình bạn chân thành, mộc mạc nhưng sâu sắc của tác giả. Sáu câu đầu dựng lên hoàn cảnh éo le khi bạn đến thăm mà chủ nhà lại “không có gì”: từ trẻ đi vắng, chợ xa, đến “ao sâu nước cả”, “vườn rộng rào thưa”, tất cả đều thiếu thốn. Những chi tiết ấy vừa mang tính tả thực đời sống nông thôn, vừa tạo giọng điệu hóm hỉnh, tự nhiên. Tuy nhiên, ẩn sau cái “không có” vật chất lại là cái “có” rất lớn về tinh thần. Hai câu kết “Bác đến chơi đây ta với ta” đã khẳng định tình bạn tri kỉ, không cần lễ nghi hay vật chất làm cầu nối. Cụm từ “ta với ta” vừa thể hiện sự đồng điệu tâm hồn, vừa tạo âm hưởng thân mật, gần gũi. Bài thơ tuân thủ chặt chẽ thể thơ thất ngôn bát cú nhưng giọng điệu lại rất đời thường, giản dị, cho thấy tài năng của Nguyễn Khuyến trong việc đưa chất dân dã vào thơ Đường luật, qua đó tôn vinh vẻ đẹp của tình bạn thuần khiết
Bài tham khảo Mẫu 3
Một tác phẩm tiêu biểu của thơ thất ngôn bát cú Đường luật là Thu điếu của Nguyễn Khuyến. Bài thơ khắc họa bức tranh mùa thu nơi làng quê Bắc Bộ với vẻ đẹp thanh sơ, tĩnh lặng, đồng thời gửi gắm tâm trạng u hoài của tác giả. Hai câu đề mở ra không gian thu quen thuộc với “ao thu lạnh lẽo nước trong veo” và “một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”, hình ảnh nhỏ bé, tinh tế gợi cảm giác cô quạnh. Hai câu thực tiếp tục làm nổi bật vẻ tĩnh mịch qua chuyển động nhẹ nhàng của “sóng biếc” và “lá vàng”, mọi thứ dường như chỉ khẽ lay động. Đến hai câu luận, không gian được mở rộng với “tầng mây lơ lửng” và “ngõ trúc quanh co”, tạo chiều sâu cho bức tranh thu, đồng thời gợi cảm giác vắng vẻ, hiu hắt. Hai câu kết “tựa gối ôm cần lâu chẳng được / cá đâu đớp động dưới chân bèo” không chỉ tả cảnh câu cá mà còn thể hiện tâm trạng nhàn tản, cô đơn, như chờ đợi một điều gì đó mơ hồ. Bài thơ tuân thủ nghiêm ngặt niêm luật Đường thi, sử dụng ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi, góp phần thể hiện bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Qua đó, Nguyễn Khuyến đã gửi gắm nỗi lòng trước thời thế và tình yêu sâu nặng với quê hương đất nước.
Bài tham khảo Mẫu 4
Nhắc đến thơ thất ngôn bát cú giàu giá trị tư tưởng, không thể bỏ qua Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi. Mở đầu bài thơ là bức tranh thiên nhiên mùa hè tràn đầy sức sống với sắc đỏ rực của hoa lựu, sắc xanh tươi của tán hòe và ánh sáng chan hòa của ngày dài. Những hình ảnh ấy không chỉ gợi tả cảnh vật mà còn phản ánh một tâm hồn rộng mở, yêu đời. Ở hai câu thực, Nguyễn Trãi đưa người đọc đến gần hơn với cuộc sống dân dã qua âm thanh “lao xao” của chợ cá, khiến bức tranh thiên nhiên không còn tĩnh tại mà trở nên sống động, có hồn. Đến hai câu luận, tiếng ve râm ran như nhấn mạnh nhịp điệu mùa hè, đồng thời tạo nên sự giao hòa giữa thiên nhiên và con người. Tuy nhiên, điểm lắng đọng nhất lại nằm ở hai câu kết khi tác giả bộc lộ ước nguyện “dân giàu đủ khắp đòi phương”. Từ một bài thơ tả cảnh, tác phẩm vươn lên tầm tư tưởng, thể hiện lí tưởng nhân nghĩa và tấm lòng vì dân vì nước. Với ngôn từ giản dị mà giàu sức gợi, kết cấu chặt chẽ, bài thơ không chỉ cho thấy tài năng nghệ thuật mà còn khắc họa nhân cách lớn của Nguyễn Trãi – một con người luôn đặt lợi ích nhân dân lên trên hết.
Bài tham khảo Mẫu 5
Trong dòng thơ trữ tình hiện thực, Thương vợ của Trần Tế Xương nổi bật bởi sự kết hợp độc đáo giữa tình cảm chân thành và giọng điệu trào phúng. Ngay từ những câu thơ đầu, hình ảnh bà Tú hiện lên với cuộc sống lam lũ “quanh năm buôn bán ở mom sông”, gợi sự vất vả triền miên. Các chi tiết đời thường được đưa vào một cách tự nhiên nhưng lại có sức gợi lớn, đặc biệt là câu “nuôi đủ năm con với một chồng” – vừa là lời kể, vừa là lời tự trào cay đắng của nhà thơ. Ở hai câu luận, hình ảnh “thân cò” và cảnh “eo sèo mặt nước” không chỉ gợi sự nhọc nhằn mà còn khắc sâu thân phận nhỏ bé của người phụ nữ trong xã hội cũ. Đến hai câu kết, giọng thơ chuyển hẳn sang tự ý thức, khi tác giả tự nhận mình vô dụng, để vợ phải gánh vác gia đình. Chính sự tự phê phán ấy đã làm nên chiều sâu nhân văn của bài thơ, khiến tình thương không chỉ là lời ca ngợi mà còn là nỗi day dứt. Tác phẩm vì thế vượt lên khuôn khổ một bài thơ gia đình, trở thành tiếng nói cảm thông với người phụ nữ và phê phán xã hội đương thời.
Bài tham khảo Mẫu 6
Nếu “Thu điếu” thiên về tĩnh lặng, thì Thu ẩm của Nguyễn Khuyến lại mang sắc thái trầm buồn pha chút men say của thi nhân. Hai câu đề mở ra khung cảnh mùa thu quen thuộc của làng quê Bắc Bộ, với không khí dịu nhẹ nhưng phảng phất nỗi cô quạnh. Đến hai câu thực, cảnh vật dường như thu hẹp lại trong sự tĩnh vắng, ít chuyển động, khiến con người trở nên lẻ loi giữa không gian rộng lớn. Hai câu luận là điểm nhấn khi hình ảnh chén rượu xuất hiện, không chỉ là thú vui tao nhã mà còn là cách nhà thơ tìm đến để giải tỏa tâm trạng. Cái “say” ở đây mang nhiều tầng ý nghĩa: say cảnh, say tình và cũng là say để quên đi thực tại đầy biến động. Ở hai câu kết, nỗi cô đơn hiện lên rõ nét hơn bao giờ hết, khi thi nhân như tách biệt khỏi thế giới xung quanh, chìm vào suy tư riêng. Bài thơ có giọng điệu nhẹ nhàng nhưng sâu lắng, sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc trưng của thơ trung đại. Qua đó, Nguyễn Khuyến không chỉ vẽ nên bức tranh mùa thu mà còn kín đáo bộc lộ tâm sự của một trí thức trước thời thế đổi thay.
Bài tham khảo Mẫu 7
Trong hệ thống thơ Nôm Đường luật, Thu vịnh của Nguyễn Khuyến là một thi phẩm tiêu biểu cho vẻ đẹp trầm lắng của mùa thu Bắc Bộ. Ngay từ hai câu đề, nhà thơ đã mở ra một không gian thu cao rộng, thoáng đãng với bầu trời trong và ánh sáng dịu nhẹ. Không gian ấy không rực rỡ mà thanh sơ, gợi cảm giác bình yên nhưng cũng phảng phất nỗi buồn. Đến hai câu thực, cảnh vật được cụ thể hóa qua những chi tiết quen thuộc như ngõ trúc, sân vắng, làm nổi bật sự tĩnh lặng gần như tuyệt đối. Hai câu luận tiếp tục khắc sâu cái “tĩnh” ấy bằng những hình ảnh ít chuyển động, khiến thời gian như ngưng đọng. Tuy nhiên, chính trong cái tĩnh đó lại ẩn chứa một nỗi niềm sâu kín. Hai câu kết là nơi cảm xúc được bộc lộ rõ hơn, khi nhà thơ hướng nội, suy tư về bản thân và thời thế. Bài thơ không chỉ đơn thuần tả cảnh mà còn thể hiện tâm trạng cô đơn, bất lực của một nhà nho trước xã hội biến động. Với bút pháp tinh tế, ngôn ngữ giàu tính gợi, “Thu vịnh” góp phần hoàn thiện bức tranh thu trong thơ Nguyễn Khuyến, đồng thời thể hiện chiều sâu tâm hồn của một thi nhân yêu nước thầm lặng.
Bài tham khảo Mẫu 8
Một trong những bài thơ thể hiện rõ phong cách trào phúng sắc sảo là Vịnh khoa thi Hương của Trần Tế Xương. Ngay từ hai câu đề, khung cảnh trường thi hiện lên đông đúc nhưng hỗn tạp, phản ánh sự xuống cấp của nền khoa cử cuối thế kỉ XIX. Hình ảnh “lôi thôi sĩ tử”, “ậm oẹ quan trường” không chỉ mang tính miêu tả mà còn chứa đựng sự châm biếm sâu cay. Hai câu thực tiếp tục khắc họa cảnh thi cử với những chi tiết vừa cụ thể vừa mang tính phóng đại, làm nổi bật sự giả dối, hình thức. Đến hai câu luận, giọng điệu trào phúng được đẩy lên cao trào khi nhà thơ phơi bày sự lố bịch của cả người thi lẫn người chấm thi. Tuy nhiên, ẩn sau tiếng cười ấy là nỗi đau xót trước một nền giáo dục suy thoái. Hai câu kết khép lại bằng cảm xúc chua chát, thể hiện thái độ bất mãn của tác giả trước thời cuộc. Bài thơ không chỉ là một bức tranh hiện thực sinh động mà còn là lời phê phán mạnh mẽ đối với xã hội đương thời. Với nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ sắc bén, giàu tính châm biếm, Trần Tế Xương đã biến thể thơ Đường luật trang trọng thành công cụ để bộc lộ cái nhìn hiện thực đầy cá tính.
Bài tham khảo Mẫu 9
Trong mạch thơ trữ tình trung đại, Tự tình II của Hồ Xuân Hương là một bài thơ thất ngôn bát cú giàu sức biểu đạt, thể hiện sâu sắc bi kịch tâm hồn của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Ngay từ hai câu đề, không gian đêm khuya tĩnh lặng với “văng vẳng trống canh dồn” đã gợi lên bước đi nặng nề của thời gian, đồng thời đánh thức nỗi cô đơn trong lòng nhân vật trữ tình. Hình ảnh “trơ cái hồng nhan với nước non” vừa mang sắc thái tủi hổ, vừa cho thấy sự ý thức sâu sắc về thân phận. Đến hai câu thực, nỗi buồn được cụ thể hóa qua hành động “chén rượu hương đưa say lại tỉnh”, một vòng luẩn quẩn không lối thoát. Cảnh vật cũng nhuốm màu tâm trạng, khi “vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn” gợi liên tưởng đến cuộc đời dang dở. Hai câu luận là điểm bùng nổ của cảm xúc, với những hình ảnh “xiên ngang mặt đất rêu từng đám / đâm toạc chân mây đá mấy hòn”, thể hiện sự phản kháng mạnh mẽ, đầy bản lĩnh của cái tôi cá nhân. Tuy nhiên, đến hai câu kết, giọng thơ lại trầm xuống trong nỗi chán chường: “ngán nỗi xuân đi xuân lại lại”, thời gian trôi đi nhưng hạnh phúc vẫn xa vời. Bài thơ kết thúc bằng tiếng thở dài đầy ám ảnh, cho thấy bi kịch không lối thoát của người phụ nữ. Với ngôn ngữ giàu hình ảnh, giọng điệu biến hóa linh hoạt, tác phẩm không chỉ là lời tự tình mà còn là tiếng nói nhân đạo sâu sắc.
Bài tham khảo Mẫu 10
Một trong những thi phẩm thể hiện rõ tâm trạng hoài cổ, cô đơn của người trí thức xưa là Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan. Mở đầu bài thơ, tác giả đưa người đọc đến với khung cảnh Đèo Ngang trong buổi chiều tà – thời điểm dễ khơi gợi nỗi buồn. Không gian thiên nhiên hiện lên hoang sơ, vắng lặng với núi non trùng điệp, cỏ cây chen đá, tất cả tạo nên một bức tranh vừa hùng vĩ vừa hiu quạnh. Hai câu thực tiếp tục khắc họa sự sống thưa thớt qua hình ảnh “lom khom dưới núi tiều vài chú / lác đác bên sông chợ mấy nhà”, những từ láy giàu sức gợi đã làm nổi bật cái vắng vẻ của cảnh vật. Đến hai câu luận, âm thanh của “con quốc quốc, cái gia gia” vang lên như xé tan sự tĩnh lặng, đồng thời gợi nỗi nhớ nước, thương nhà sâu sắc. Đây chính là điểm giao hòa giữa cảnh và tình, khi ngoại cảnh trở thành phương tiện biểu đạt nội tâm. Hai câu kết khép lại bài thơ bằng hình ảnh “một mảnh tình riêng ta với ta”, diễn tả nỗi cô đơn tuyệt đối của cái tôi trữ tình giữa không gian rộng lớn. Bài thơ tuân thủ nghiêm ngặt niêm luật Đường thi, sử dụng ngôn ngữ trang nhã, hàm súc, đồng thời vận dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình một cách điêu luyện. Qua đó, tác giả không chỉ vẽ nên bức tranh thiên nhiên đặc sắc mà còn bộc lộ nỗi lòng hoài cổ, cô đơn của một con người trước thời thế đổi thay.
Các bài khác cùng chuyên mục
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Tết này nhớ mẹ (Nguyễn Trọng Tạo)
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Con nợ mẹ (Nguyễn Văn Chung) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Mẹ (Trần Quốc Minh) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Nghề giáo tôi yêu (Đinh Văn Nhã) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Thời nắng xanh (Trương Nam Hương) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Tết này nhớ mẹ (Nguyễn Trọng Tạo)
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Con nợ mẹ (Nguyễn Văn Chung) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Mẹ (Trần Quốc Minh) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Nghề giáo tôi yêu (Đinh Văn Nhã) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Thời nắng xanh (Trương Nam Hương) hay nhất




Danh sách bình luận