1001+ bài văn nghị luận văn học hay nhất cho mọi thể loại
200+ bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ song thất lụ.. Top 45 Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích một tác phẩm thơ song thất lục bát hay nhất>
I. Mở bài - Giới thiệu ngắn gọn về tác giả và tác phẩm - Nêu thể thơ song thất lục bát và cảm nhận chung về tác phẩm
Dàn ý
I. Mở bài
- Giới thiệu ngắn gọn về tác giả và tác phẩm
- Nêu thể thơ song thất lục bát và cảm nhận chung về tác phẩm
II. Thân bài
- Khía cạnh 1: Phân tích các cặp câu 7-7
+ Phân tích âm điệu, vần tạo cảm giác dồn dập, nghẹn ngào, bế tắc.
+ Tập trung vào các hình ảnh, từ ngữ đặc tả tâm trạng, bối cảnh buồn.
- Khía cạnh 2: Phân tích cặp câu 6-8
+ Phân tích sự chuyển đổi nhịp điệu từ dồn dập (thất) sang uyển chuyển, dàn trải, nhẹ nhàng (lục bát) như tiếng than dài, sự tự an ủi hay nỗi buồn lan tỏa.
+ Phân tích các biện pháp tu từ (so sánh, ẩn dụ, đảo ngữ, câu hỏi tu từ) trong câu thơ.
- Khía cạnh 3: Phân tích tổng thể nội dung và nghệ thuật
+ Sự kết hợp giữa 4 câu (thất-thất-lục-bát) để tạo nên một đoạn thơ hoàn chỉnh mang âm hưởng sâu lắng.
+ Tâm trạng chủ đạo của nhân vật trữ tình: đau xót, cô đơn, mong chờ, hoài niệm...
+ Ý nghĩa của thể thơ đối với việc thể hiện nội dung (ví dụ: diễn tả tâm trạng ngâm khúc, bi kịch).
III. Kết bài
- Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật độc đáo của tác phẩm.
- Nêu cảm xúc, ấn tượng cá nhân về tác phẩm.
Bài siêu ngắn Mẫu 1
Đoạn trích “Sau phút chia li” trong Chinh phụ ngâm là một trong những khúc ngâm tiêu biểu thể hiện rõ vẻ đẹp của thể thơ song thất lục bát. Qua những câu thơ giàu cảm xúc, tác giả đã khắc họa sâu sắc nỗi đau chia ly và tâm trạng cô đơn của người chinh phụ khi tiễn chồng ra trận.
Ngay từ những câu đầu, sự chia cách đã được thể hiện rõ qua hình ảnh đối lập:
“Chàng thì đi cõi xa mưa gió,
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.”
Một bên là “cõi xa mưa gió” đầy hiểm nguy, một bên là “buồng cũ” quen thuộc nhưng lạnh lẽo. Sự đối lập ấy không chỉ là khoảng cách không gian mà còn là khoảng cách tâm trạng. Người ra đi mang theo trách nhiệm, còn người ở lại phải gánh chịu nỗi cô đơn và chờ đợi.
Nỗi buồn chia ly được đẩy lên cao qua hình ảnh:
“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.”
Hình ảnh “ngàn dâu” mang ý nghĩa biểu tượng cho sự cách trở. Không gian dường như kéo dài vô tận, khiến nỗi nhớ càng thêm mênh mang. Cái “trông lại” thể hiện sự lưu luyến, nhưng “chẳng thấy” lại là hiện thực đau lòng.
Đặc biệt, câu hỏi tu từ:
“Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”
đã diễn tả nỗi băn khoăn, day dứt. Nỗi sầu không thể đo đếm, bởi cả hai đều đau khổ trong cảnh chia ly. Đây chính là điểm đặc sắc của thể song thất lục bát: vừa dồn nén cảm xúc, vừa tạo âm hưởng da diết, kéo dài.
Qua đoạn thơ, tác giả không chỉ thể hiện nỗi buồn cá nhân mà còn gián tiếp lên án chiến tranh phi nghĩa. Chiến tranh đã chia cắt hạnh phúc lứa đôi, đẩy con người vào cảnh biệt ly đầy đau đớn.
Tóm lại, “Sau phút chia li” là một đoạn thơ giàu giá trị nghệ thuật và nhân đạo. Với ngôn ngữ tinh tế và nhịp điệu trầm buồn, tác phẩm đã khắc họa thành công nỗi đau chia ly, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Bài siêu ngắn Mẫu 2
“Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” là đoạn trích tiêu biểu trong Chinh phụ ngâm, thể hiện rõ khả năng diễn tả nội tâm tinh tế của thể thơ song thất lục bát. Qua đó, tác giả đã khắc họa nỗi cô đơn, buồn tủi của người phụ nữ có chồng ra trận.
Hình ảnh người chinh phụ hiện lên trong không gian vắng lặng:
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”
Những hành động lặp lại cho thấy sự bế tắc, buồn chán. Không gian “hiên vắng”, “rèm thưa” càng làm nổi bật sự cô đơn. Người chinh phụ không biết làm gì ngoài việc đối diện với nỗi nhớ và sự trống trải. Nỗi cô đơn ấy càng sâu sắc khi nàng tìm đến thiên nhiên nhưng không nhận được hồi đáp:
“Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?”
Con chim thước – biểu tượng của tin vui – nay lại im lặng. Người chinh phụ quay sang chiếc đèn, như tìm một tri kỷ, nhưng đó chỉ là sự vô vọng. Nỗi cô đơn trở nên tuyệt đối khi không có ai thấu hiểu. Thời gian cũng góp phần làm tăng nỗi buồn:
“Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.”
Không gian đêm khuya tĩnh lặng khiến nỗi cô đơn càng rõ nét. Thời gian trôi qua chậm chạp, kéo dài sự chờ đợi và nhớ thương.
Đoạn trích đã thể hiện sâu sắc giá trị nhân đạo khi cảm thông với số phận người phụ nữ. Đồng thời, tác phẩm cũng gián tiếp tố cáo chiến tranh phi nghĩa đã phá vỡ hạnh phúc gia đình. Tóm lại, bằng thể thơ song thất lục bát giàu nhạc điệu và cảm xúc, đoạn trích đã khắc họa thành công nỗi cô đơn của người chinh phụ, để lại nhiều xúc động cho người đọc.
Bài siêu ngắn Mẫu 3
Cung oán ngâm khúc là một tác phẩm tiêu biểu của thể thơ song thất lục bát trong văn học Việt Nam. Đoạn trích đã khắc họa bi kịch của người cung nữ, qua đó phản ánh hiện thực xã hội phong kiến đầy bất công.
Người cung nữ ý thức sâu sắc về sự ngắn ngủi của kiếp người:
“Trăm năm còn có gì đâu,
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì.”
Câu thơ mang màu sắc triết lý, thể hiện cái nhìn bi quan về cuộc đời. Với người cung nữ, nỗi đau càng lớn khi tuổi xuân và nhan sắc bị lãng phí trong chốn cung đình. Sự thay đổi số phận được thể hiện qua hình ảnh đối lập:
“Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.”
Từ cuộc sống xa hoa đến cảnh bị lãng quên, người cung nữ rơi vào bi kịch. Hình ảnh “hoa giữa đường” gợi sự rẻ rúng, tàn phai. Không gian sống càng làm nổi bật nỗi cô đơn:
“Phòng không lạnh ngắt như tờ,
Gối loan đâu tá, giường ngà đâu đây?”
Những vật dụng xa hoa chỉ càng làm tăng cảm giác trống trải. Người cung nữ sống giữa nhung lụa nhưng thiếu vắng tình cảm. Qua đoạn trích, tác giả đã thể hiện sự cảm thông sâu sắc với số phận người phụ nữ, đồng thời lên án xã hội phong kiến bất công.
Tóm lại, với thể thơ song thất lục bát giàu cảm xúc, Cung oán ngâm khúc đã khắc họa thành công bi kịch của người cung nữ, để lại giá trị nhân đạo sâu sắc.
Bài tham khảo Mẫu 1
Cảnh chia ly của những cặp vợ chồng trẻ luôn chạm đến trái tim người đọc một cảm giác đau thắt, hiu quanh. Nếu như trong Tống biệt hành, người con gái đang tiễn người chồng đi tìm cái lí tưởng cao đẹp: “Đưa người ta không đưa sang sông/ Sao có tiếng sóng ở trong lòng?” thì trong 12 khổ thơ cuối của đoạn trích Nỗi niềm chinh phụ của Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm dịch, cũng là người vợ ấy, cũng là người con trai đang tìm công danh ấy, nhưng sao thật đắng cay, bởi người chồng đang cất bước ra chiến trường. Cả đoạn thơ là lời than thở, buồn đau, hi vọng được gặp chồng của người chinh phụ khi “tống biệt” chồng ra trận:
“Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.
…
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”
Mười hai câu thơ trên thuộc phần cuối của đoạn trích Nỗi niềm chinh phụ, trích trong tác phảm Chinh phụ ngâm, nguyên tác của Đặng Trần Côn, bản dịch của Đoàn Thị Điểm. Tuy nhiên, cho đến nay, bản dịch này chắc chắn của Đoàn Thị Điểm không lại là vấn đề mà chưa ai dám khẳng định, nhưng phần đông các nhà nghiên cứu đều cho rằng bà là người dịch nguyên tác của Đặng Trần Côn ra chữ Nôm. Tác phẩm Chinh phụ ngâm (hay Khúc ngâm của người phụ nữ có chồng ra trận) được Đặng Trần Côn sáng tác trong khoảng năm 1710 - 1712 bằng chữ Hán. Cả bài ngâm khúc là lời tâm sự, giãi bày của người chinh phụ tiễn chồng ra trận. Trong mười hai câu thơ cuối bài, nỗi niềm ai oán, nhớ nhung của người chinh phụ càng đậm nét hơn cả.
Người chinh phụ mang nỗi hờn tủi, cô quạnh sau khi tiễn chồng đi:
“Chàng thì đi cõi xa mưa gió,
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.”
Thủ pháp đối được tác giả sử dụng vô cùng tài tình và ý nhị. Chàng thì “đi”, còn thiếp thì “về”, nơi chàng đi là ‘cõi xa mưa gió”, nơi nàng về là “buồng cũ chiếu chăn”. Khoảnh cách giữa người chinh phụ và người chinh phu ngày càng bị kéo dài ra. “cõi xa mưa gió” là hình ảnh ẩn dụ, chỉ nơi chiến trường mà người chinh phu phải đến, hoặc cũng có thể, đây là hình ảnh chỉ sự hi sinh của người chinh phu trên trận mạc. Còn hình ảnh “buồng cũ chiếu chăn” ý chỉ nơi mà hai vợ chồng từng mặn nồng với nhau, giờ đây chỉ còn lại mình nàng. Người chinh phụ phải cô đơn lẻ bóng, lo lắng chồng mình ở chiến trường, không biết rồi mai, liệu chồng còn trở về bên mình.
Người chinh phụ nhìn mãi, ngóng theo chồng nơi xa, nhưng càng trông theo lại càng không thấy bóng dáng chồng:
“Đoái trông theo đã cách ngăn,
Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh.”
Nàng nhìn về phía chồng, không thấy đạn khói của chiến tranh, chỉ thấy “mây biếc” và “núi xanh”. Màu xanh bao trùm lấy hai câu thơ, không chỉ miêu tả khung cảnh trước mắt người chinh phụ, mà còn gợi cảm giác heo hút, lãnh lẽo, cô đơn trong cõi lòng của nàng. Biện pháp đảo ngữ “tuôn màu mây biếc” và “trải ngần núi xanh” khiến không gian thiên nhiên như trải dài vô tận.
Xa mặt nhưng không cách lòng, người chinh phụ và người chinh phu luôn nhớ đến nhau:
“Chốn Hàm Kinh chàng còn ngoảnh lại.
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.”
Hàm Dương và bến Tiêu Tương “cách mấy trùng”, nhưng hai người ở hai bên luôn gửi những nỗi nhớ mong, hi vọng cho nhau. Người chinh phu “ngoảnh lại”, nhìn về phía quê nhà, nơi vợ con đang ngóng chông chàng. Trước khi lên ngựa đi xa, chàng bịn rịn vợ con: “Nhủ rồi nhủ lại cầm tay,/ Bước đi một bước dây dây lại dừng”, chàng đi một bước, lại ngoảnh đầu nhìn người vợ một lúc. Và giờ đây, khi đã ra chiến trường, chàng cũng vẫn ngoảnh đầu nhớ thương vợ. Còn người chinh phụ ở nhà luôn “trông sang”, trông đến nơi chiến trường đổ máu. Biện pháp đối tài tình vẫn tiếp tục được sử dụng trong các câu thơ, như đang thể hiện sự đối lập giữa hoàn cảnh của hai người, nhưng lại có sợi dây vô hình gắn kết trái tim của người chinh phu và người chinh phụ.
Niềm hi vọng chồng trở về của người chinh phụ ngày càng le lói, thay vào đó là nỗi nhớ đến đỉnh điểm, nỗi đau đớn dâng trào:
“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”
Màu xanh lại xuất hiện trong mắt người chinh phụ, nhưng đây không phải màu xanh tươi mát của bầu trời, mà là màu xanh ngắt trải dài của ruộng dâu. Biện pháp điệp ngữ ‘cùng…”, điệp từ “thấy”, “ngàn dâu” như đang diễn tả sự luẩn quẩn, sự sầu đau không thể diễn tả của người chinh phụ. Nàng nhìn ra xa, ngóng chồng mãi, nhưng chỉ thấy ruộng dâu xanh ngắt. Một cảm giác cô đơn, hiu quạnh ngập tràn trong lòng người đọc. Cũng dùng màu sắc để diễn tả cuộc chia tay, nhưng có lẽ, sắc đỏ trong bài thơ Cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn My phần nào mang cảm giác hi vọng hơn: “Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ/ Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa.” Kết thúc đoạn thơ là một câu hỏi tu từ mà mãi sẽ không bao giờ có câu trả lời: “Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”. Thiếp và chàng đều mang trong mình những nỗi đau khắc khoải, không biết chàng hay thiếp, ai mang nỗi sầu đau hơn? Câu hỏi cất lên như giãi bày hết mọi sầu đau, như tiếng thét đau đớn tột cùng cất lên.
Như vậy, với cách sử dụng biện pháp đảo ngữ, phép đối, câu hỏi tu từ hết sức khéo léo, ngôn ngữ bình dân kết hợp với ngôn ngữ bác học, Đặng Trần Côn đã diễn tả sâu sắc hơn nỗi niềm xót thương, lo lắng, nhớ nhung chồng và ai oán cho thân phận mình của người chinh phụ. Qua đó, ta càng hiểu hơn về những mất mát mà chiến tranh đã gây ra với nhân dân ta.
Bài tham khảo Mẫu 2
Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) để lại khoảng 800 bài thơ chữ Nôm và chữ Hán trong đó có ngót một trăm bài thơ viết về tình bạn. Có bài như "Bạn đến chơi nhà" thì hầu như ai cũng biết. Viết về Dương Khuê (1839 - 1902) bạn chí thân của mình, Nguyễn Khuyến đã có bốn bài thơ chữ Hán. Riêng bài thơ thứ tư "Vãn đồng niên Vân Đình tiến sĩ Dương Thượng thư" (Viếng bạn đồng khoa là Vân Đình tiến sĩ Dương Thượng thư) được tác giả dịch ra chữ Nôm thành bài "Khóc Dương Khuê".
Đây là bài thơ khóc bạn rất tha thiết cảm động của Nguyễn Khuyến cũng là bài thơ khóc bạn rất nổi tiếng trong nền thơ ca dân tộc. Dương Khuê là bạn đồng khoa với Nguyễn Khuyến tại khoa thi Hương năm 1864. Dương Khuê đỗ tiến sĩ, làm quan to, để lại nhiều bài thơ hát nói tuyệt bút. Từ bạn đồng khoa đã phát triển thành bạn tri âm tri kỉ nên Nguyễn Khuyến mới có thơ khóc bạn cảm động và tha thiết như vậy. Có thể xem đây cũng là một bài văn tế được viết bằng thể thơ song thất lục bát, giọng thơ réo rắt thấm đầy lệ, gồm có 38 câu thơ. Hai câu thơ mở đầu:
"Bác Dương thôi đã thôi rồi.
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta"
Phong cách và bút pháp Nguyễn Khuyến vốn thâm thuý, cảm xúc lắng đọng. Tất cả nỗi đau mất bạn dường như dồn nén vào câu thơ lực bát mở đầu này. Dòng lục (Bác Dương thôi đã thôi rồi) ngắn gọn cất lên tiếng kêu thương đột ngột. Tin dữ về người bạn tri âm tri kỉ đến bất ngờ quá khiến cho Nguyễn Khuyến bàng hoàng, đau đớn và thất vọng. Biện pháp nghệ thuật nói giảm “thôi đã thôi rồi”, với từ “thôi” được lặp lại hai lần có tác dụng gợi nỗi đau đột ngột, sự thảng thốt, sự trống vắng không gì bù đắp nổi.
Dòng bát (Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta) dàn trải, diễn tả về sự mất mát đau thương ấy của Nguyễn Khuyến. Từ láy “man mác” đã diễn tả được cả không gian cũng nhuộm màu tang tóc. Có lẽ, lòng người đau đến quặn thắt như đứt ra từng khúc ruột “ngậm ngùi” nên nỗi đau ấy lan toả cùng mây trời non nước. Người bạn tri âm tri kỉ vừa ra đi làm cho nhà thơ thấy hẫng hụt, trống vắng đến khôn cùng.
Tác giả nhắc lại, nhớ lại những kỉ niệm sâu sắc với người đã quá cố. Với nhà nho thì bạn đồng khoa là bạn đẹp nhất, tự hào nhất. Nguyễn Khuyến và Dương Khuê cùng đỗ đạt, cùng làm quan, tình bạn ấy là "duyên trời" tác hợp nên:
"Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau.
Kính yêu từ trước đến sau,
Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời"
Các từ ngữ "sớm hôm", "cùng nhau", "từ trước đến sau" thể hiện một tình bạn vô cùng thân thiết, chung thuỷ. Mỗi một kỉ niệm là một mảnh tâm hồn của nhà thơ được nhắc lại với bao nhiêu giọt lệ. Nguyễn Khuyến như vẫn thấy Dương Khuê đang cùng mình hiển hiện. Phải là bạn tâm đầu ý hợp, phải là những tao nhân mặc khách mới có những kỉ niệm cầm ca, thi tửu đẹp và đáng nhớ như vậy.
Nhớ những cuộc du ngoạn, thăm thú nơi "dặm khách" chan hoà với thiên nhiên, thảnh thơi giữa chốn lâm tuyền: "Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo". Nhớ những lần cùng nhau đi hát ả đào nơi lầu cao, thưởng thức cung đàn, giọng hát:
"Có khi từng gác cheo leo,
Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang"
Nguyễn Khuyến và Dương Khuê không chỉ chuyên cần học tập mà hai người cùng có những thú vui thật tao nhã: cầm, kì, thi, hoạ... Tình bạn ấy thật trong sáng và cao đẹp. Đó là tình bạn của những nhà nho chân chính. Cả hai ông đều là những người chăm chỉ dùi mài kinh sử mong được ghi tên vào bảng vàng bia đá, lưu danh muôn thuở. Cả hai ông đều đậu đại khoa dưới triều Nguyễn. Với biết bao kỉ niệm êm đẹp như vậy nên khi nhận tin Dương Khuê mất tâm trạng nhà thơ thảng thốt và đau đớn đến bàng hoàng.
Có kỉ niệm vui, có kỉ niệm buồn. Nguyễn Khuyến và Dương Khuê cùng làm quan to dưới thời nhà Nguyễn. Nhưng rồi đất nước ta bị xâm lăng, dân tộc ta bị giặc Pháp thống trị, là kẻ sĩ, là nhà nho "cùng nhau hoạn nạn". Cách ứng xử của mỗi người đểu có chỗ khác nhau. Nguyễn Khuyến đã cáo bệnh, từ quan về sống cuộc đời bình dị giữa xóm làng quê hương. Không tham miếng "đẩu thăng", lương bổng của triều đình. Còn Dương Khuê vẫn làm quan. Trong bài thơ chữ Hán "Gửi thăm quan Thượng thư họ Dương", Nguyễn Khuyến tỏ ra rất thông cảm với bạn: "Tôi biết bác vì cha mẹ phải làm quan để lấy tấm lụa - Bác biết tôi nghèo phải làm quan để kiếm đấu gạo lương". Cảnh ngộ và cách ứng xử tuy có khác nhau, kẻ làm quan, người từ quan, nhưng Tam nguyên Yên Đổ vẫn tỏ ra bao dung bạn, vẫn "kính yêu từ trước đến sau", không bao giờ thay lòng đổi dạ:
"Bác già tôi cũng già rồi,
Biết thôi, thôi thế, thì thôi, mới là"
Chữ "rồi" vần với ba chữ "thôi" liên tiếp như một tiếng thở dài, tự an ủi mình, như muốn quên đi thật nhanh những điều bất đắc chí. Không nỡ, không muốn nhắc đến nữa mới là bạn bè tâm giao! Lời than khóc trở nên xót xa khi nhà thơ nhắc lại điển tích Tử Kỳ - Bá Nha và Trần Phồn - Từ Trĩ. Chiếc giường dành riêng tiếp bạn nay đã trở nên "hững hờ". Tiếng đàn cũng "ngẩn ngơ" mất hồn vì lẻ bạn. Một cách nói thậm xưng để cực tả nỗi đau tê tái khi bạn thân qua đời. Khi còn sống thì đôi bạn cùng đi chơi "dặm khách", cùng "lựa chiều cầm xoang", "rượu ngon cùng nhắp", cùng "bàn soạn câu văn"... Lúc bạn qua đời chẳng còn người tri âm tri kỉ để cùng nhau uống rượu, làm thơ, nghe đàn, năng lui tới thăm nom, chia ngọt sẻ bùi cùng nhau. Nguyễn Khuyến đã có nhiều cách nói rất sâu sắc, cảm động diễn tả sự thương xót bạn và nỗi buồn cô đơn của mình.
Trải qua bao mưa nắng, bao thăng trầm hoạn nạn, Tam nguyên Yên Đổ còn đâu nhiêu nước mắt để khóc bạn, chí còn biết "lấy nhớ làm thương". Tuy nhiên cả bài thơ, nhất là bốn câu kết đã "chứa chan" nước mắt đau xót. Hai câu thơ: "Bác chẳng ở dẫu vẫn chẳng ở - Tôi tuy thương lấy nhớ làm thương" với cách diễn đạt trùng điệp và tăng cấp đã tạo nên giọng thơ buồn thê thiết, Nguyễn Khuyến để lại nhiều tiếng khóc: khóc cho đất nước và dân tộc, khóc vợ, khóc con, khóc bạn,… Tiếng khóc nào cũng xúc động, tê tái, nặng tình, nặng nghĩa. Riêng bài "Khóc Dương Khuê" lại được viết bằng thể thơ song thất lục bát, lời khóc bạn càng trở nên thiết tha, não nùng, lúc thì nức nở, thảng thốt, lúc thì kể lể thở than, lúc thì phân trần, lúc thì trách móc, lời thơ thủ thỉ như nói với người còn sống, rất cảm động. Giọng thơ liền mạch, lời thơ tinh tế, biểu cảm đã thể hiện nghệ thuật vừa bình dị, vừa điêu luyện.
Qua bài thơ, ta thấy Nguyễn Khuyến không chỉ là người tài cao học rộng mà còn là người rất nghĩa tình. Ông thuỷ chung trong tình bạn. Tình cảm đối với bạn của tác giả thật đáng trân trọng, đáng cho chúng ta học tập.
Bài tham khảo Mẫu 3
Hai chữ nước nhà là bài thơ mở đầu tập Bút quan hoài I của Trần Tuấn Khải, được sáng tác vào năm 1926. Bài thơ lấy đề tài lịch sử thời kì nước ta bị quân Minh xâm lược (thế kỉ XV). Cha con Nguyễn Trãi đã bị thất thế trong cuộc xâm lược này của quân giặc. Nguyễn Phi Khanh bị giặc bắt giải về Trung Quốc, Nguyễn Trãi định theo cha nhưng tới biên giới phía Bắc, Nguyễn Phi Khanh khuyên Nguyễn Trãi nên quay trở về để tính chuyện trả thù cho cha, cho dân tộc.
Tác giả bài thơ đã mượn lời người cha căn dặn con để viết nên tác phẩm mang tinh thần yêu nước sâu sắc và ý nguyện độc lập dân tộc. Đoạn trích “Hai chữ nước nhà” gồm 36 câu thơ được Trấn Tuấn Khải sáng tác vào năm 1926, in trong tập Bút quan hoài I. Những đề tài lịch sử, những gương anh hùng dân tộc đã được Trần Tuấn Khải ghi lại nhằm khích lệ tinh thần yêu nước, nói lên nỗi nhục của những người mất nước, qua đó thể hiện khác vọng độc lập, tự do của tác giả.
Trong lời đề từ của bài thơ, tác giả nói rõ cảm hứng của mình là Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu. Từ chi tiết này, ta có thể thấy Hai chữ nước nhà là bài thơ mượn đề tài lịch sử để thể hiện tinh thần yêu nước của tác giả.
Phần đầu của bài thơ, tác giả gợi lên cảnh đau thương của đất nước khi bị quân Minh xâm lược. Những hình ảnh nhân hóa rất gợi cảm như mây sầu ảm đạm, gió thảm đìu hiu, hổ thét chim kêu đã cho thấy sự đau thương của đất nước dưới ách đô hộ của nhà Minh. Sông núi cũng mang một nỗi đau như con người. Cả một không gian rộng lớn từ chốn ải Bắc đến cõi giời Nam và khắp bốn bể đều thấm máu và nước mắt của bao con người Việt Nam.
Chốn ải Bắc mây sầu ảm đạm,
Cõi giời Nam gió thảm đìu hiu,…
Chút thân tàn lần bước dặm khơi,
Trông con tầm tã châu rơi
Trước cảnh đất nước bị đô hộ người cha trên đường đi đày vẫn còn ngỗn ngang nỗi niềm. Các chữ trong đoạn thơ đã thể hiện niềm uất hận của người anh hùng thất thế, một bi kịch mà người cha đang gặp. Câu thơ thấm đầy nỗi niềm, giọng thơ vừa thiết tha vừa nào nùng: Con ơi, con nhớ lấy lời cha khuyên. Trước khi ra đi, người cha chỉ kịp nhắn gửi đến con những nỗi niềm của mình giao phó trách nhiệm trọng đại lại cho con
Giống Hồng Lạc hoàng tiên đã định,
Mấy ngàn năm suy thịnh đổi thay
Giời Nam riêng một cõi này,
Anh hùng hiệp nữ xưa nay kém gì!
Câu Anh hùng hiệp nữ xưa nay kém gì! như muốn nhắc người con khắc ghi lòng tự tôn dân tộc, nối tiếp truyền thống của những người đi trước quên mình vì độc lập của dân tộc. Những câu thơ sau trở nên đầy hận khí khi người cha nói về những tội ác tày trời của quân giặ
Bốn phương khói lửa bừng bừng,
Xiết bao thảm họa xương rừng máu sông
Những hình ảnh như khói lửa bừng bừng, xương rừng máu sông, thành tung quách vỡ, đất khóc giời than… tuy mang tính ước lệ nhưng vẫn có sức truyền cảm mạnh mẽ vì đã gợi lên bao nỗi nhục mất nước, lòng căm thù đối với quân giặc. Người cha trước khi đi nhìn cảnh đất nước mà đau đớn lòng. Càng lo cho vận mệnh của đất nước thì nỗi đau ấy càng thêm chất chứa. Câu cảm thán kết hợp với câu hỏi tu từ cất lên vô cùng thống thiết:
Con ơi! càng nói càng đau,
Lấy ai tế độ đàn sau đó mà
Lời thơ như chứa đầy lệ, có lời than, có tiếng nức nở. Ở đây không còn là lời cha dặn con đơn thuần mà là lời của cả một dân tộc. Những câu cuối cùng trong bài thơ vừa nói lên bi kịch của người cha: tuổi già sức yếu, sa cơ đành chịu bó tay, vừa đặt niềm tin vào người con trong việc trả thù nhà, gánh nợ nước: Giang sơn gánh vác sau này cậy con. Những lời tha thiết dặn con lần cuối như vì nước, nhớ tổ tông mệnh lệnh cho người con trong hoàn cảnh đau buồn của đất nước.
Con nên nhớ tổ tông khi trước
Đã từng phen vì nước gian lao,
Bắc Nam bờ cõi phân mao
Ngọn cờ độc lập máu đào còn đây…
Hai chữ nước nhà là bài thơ hay và cảm động. Bài thơ thể hiện một cách cô đọng nỗi đau mất nước, đồng thời khích lệ tinh thần yêu nước của nhân dân ta, nêu cao khát vọng độc lập tự do của cả dân tộc. Hai chữ nước nhà không còn là lời giữa hai cha con với nhau mà là lời của Tổ quốc, của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp.
Bài tham khảo Mẫu 4
"Đêm khuya tự tình với sông Hương" là một trong những bài thơ nổi bật của Hàn Mặc Tử, thể hiện sự giao thoa giữa tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ và vẻ đẹp thần tiên của dòng sông Hương. Bài thơ không chỉ mang dấu ấn của thi pháp hiện đại mà còn phản ánh sâu sắc tâm trạng, cảm xúc của tác giả trong những đêm khuya tĩnh lặng.
Hàn Mặc Tử sử dụng hình ảnh dòng sông Hương như một người bạn tri kỷ, vừa là thiên nhiên vừa là tâm hồn của chính mình. Trong đêm khuya tĩnh lặng, dòng sông trở thành nguồn cảm hứng, nơi tác giả trải lòng tâm sự, chia sẻ những nỗi niềm riêng. Sông Hương được miêu tả với những hình ảnh thơ mộng, tinh tế, mang trong mình vẻ đẹp lãng mạn và mộng mơ. Tác giả đã tạo ra những liên tưởng phong phú, gắn liền với tâm trạng của mình.
Nỗi cô đơn là cảm xúc chủ đạo trong bài thơ. Hàn Mặc Tử thường xuyên bị dằn vặt bởi nỗi cô đơn, sự khắc khoải trong tâm hồn. Sông Hương, trong cái nhìn của tác giả, không chỉ là một dòng sông mà còn là nơi để trải lòng, tìm kiếm sự đồng điệu. Tình yêu với thiên nhiên và khao khát giao cảm với con người thể hiện rõ nét qua những hình ảnh quen thuộc nhưng đầy sâu lắng. Dòng sông trở thành chứng nhân cho những suy tư, tình cảm của tác giả.
Bài thơ không chỉ dừng lại ở nỗi cô đơn mà còn thể hiện khát vọng sâu sắc về cái đẹp và cái thiện trong cuộc sống. Hàn Mặc Tử mong muốn tìm kiếm ý nghĩa, vẻ đẹp để bù đắp cho những mất mát trong cuộc đời. Qua hình ảnh sông Hương, tác giả thể hiện ước muốn được sống hòa mình với cái đẹp, tìm kiếm sự thanh bình giữa những ồn ào, xô bồ của cuộc sống.
Hàn Mặc Tử đã sử dụng ngôn từ tinh tế, ẩn dụ phong phú để thể hiện được sắc thái cảm xúc. Âm điệu nhẹ nhàng, du dương của bài thơ tạo nên cảm giác tĩnh lặng, đầy chất thơ. Thi pháp hiện đại trong cấu trúc ngữ điệu giúp bài thơ trở nên gần gũi, dễ tiếp cận hơn với người đọc.
Dòng sông Hương không chỉ đơn thuần là một hình ảnh quen thuộc trong thơ ca mà còn là biểu tượng cho tâm trạng, cho khát vọng và ước mơ của tác giả. Những hình ảnh thiên nhiên kết hợp với cảm xúc con người tạo nên một bức tranh hài hòa, giàu sức sống và ý nghĩa.
"Đêm khuya tự tình với sông Hương" của Hàn Mặc Tử là một bài thơ đậm chất trữ tình, thể hiện sự giao hòa giữa tâm hồn nhạy cảm của tác giả với vẻ đẹp của thiên nhiên. Bài thơ không chỉ đơn thuần là sự bộc lộ cảm xúc mà còn là một tác phẩm nghệ thuật mang trong mình những suy tư sâu sắc về cuộc sống, tình yêu và khát vọng. Tác phẩm là minh chứng cho tài năng và tâm hồn nghệ sĩ của Hàn Mặc Tử, đồng thời khẳng định giá trị trường tồn của thơ ca Việt Nam.
Bài tham khảo Mẫu 5
Mỗi khi mưa rơi, dường như cảm xúc trong mỗi người lại trở nên nhạy cảm hơn. Tiếng mưa đi kèm với những tâm trạng nhớ nhung, khắc khoải và những suy tư về cuộc sống. Cũng như chúng ta, đứng trước mưa mà xao xuyến nỗi lòng, Bích Khê đã đưa cảm xúc ấy vào chính tác phẩm của mình, bài thơ Tiếng đàn mưa.
Mở đầu bài thơ, tác giả đã gợi nên khung cảnh về một ngày mưa:
“Mưa hoa rụng, mưa hoa xuân rụng
Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan
Mưa rơi ngoài nẻo dặm ngàn
Nước non rả rích giọng đàn mưa xuân.”
Sự vật như rơi rụng cùng những giọt mưa nặng hạt. Những giọt mưa rơi xuống, rơi xuống từng hạt rồi xuống “lầu”, xuống cả “thềm lan”. Mưa bao trùm mọi thứ xung quanh. Khung cảnh của một ngày mưa được tái hiện cùng sự rụng rơi của những sự vật. Một khung cảnh tả thực, được vẽ nên bằng chính ngòi bút của tác giả. Ông gọi tiếng những giọt mưa rơi ấy là “giọng đàn mưa xuân”. Mưa xuân, mùa mưa mang đến hạnh phúc, vậy nên tiếng mưa dưới mùa xuân nghe thấy tiếng đàn. Tiếng đàn ấy mang sức thôi miên con người, nghĩ về những gì đã qua êm ái, những gì tốt đẹp còn vương lại trong tâm trí. Mưa rơi, bao phủ lên mọi nẻo, mọi chốn:
“Lầu mưa xuống, thêm lan mưa xuống
Cùng nước non hoa rụng mưa xuân
Mưa rơi ngoài nội trên ngàn
Nghe trong ý khách giọt đàn mưa rơi.”
Mưa rơi xuống lầu, lại rơi xuống thềm hoa lan xinh đẹp. Mưa rơi từ những cánh đồng tới những núi non suối thác. Một khung cảnh chỉ toàn những giọt nước mưa rửa trôi những thứ cũ để mang đến những cái mới lạ. “Nghe trong ý khách giọt đàn mưa rơi” đâu đó ta nghe thấy tiếng của nỗi lòng đầy tâm sự. Tiếng đàn có thể cất lên trong tiếng mưa chút buồn. Nó gợi lên cái tâm tư riêng khó đoán của người khách. Lúc vui lúc buồn, chỉ có thể là nhớ và tìm những hoài niệm xưa chốn cũ:
“Đầm mưa xuống nẻo đồi mưa xuống
Bóng dương tà rụng bóng tà dương
Hoa xuân rơi với bóng dương
Mưa trong ý khách mưa cùng nước non.”
Lại tiếp tục là một khổ thơ nói tới những nơi mưa rơi xuống, cảnh vật cũng rơi cũng rụng theo mưa. Khắp nẻo đồi thấy mưa rơi thành đầm. Khi mà mặt trời chuẩn bị lặn, cùng với những cánh hoa xuân, khung cảnh mờ ảo, hư thực mà đầy mơ mộng. Ta thấy được sự cảm nhận, tình yêu thiên nhiên sâu sắc mới có thể tinh ý nhận ra vẻ đẹp đến từ thiên nhiên dưới những cơn mưa như vậy. “Mưa trong ý khách mưa cùng nước non”, đâu đó ta thấy được tình yêu thiên nhiên, đất nước, nơi đang tồn tại của nhân vật. Chính những cung bậc cảm xúc và tình yêu thiên nhiên như vậy, mới nghe được tiếng mưa như một tiếng đàn và cũng mới thấu được cái đẹp mà thiên nhiên đem lại. Mượn cảnh mà cũng gợi được tình, gợi cái cảm xúc và suy tư:
“Rơi hoa kết mưa còn rả rích
Càng mưa rơi cánh tịch bóng dương
Bóng dương với khách tha hương
Mưa trong ý khách muôn hàng lệ rơi”.
Mưa rơi khơi nguồn cảm xúc. Sự cô đơn dưới “bóng dương” đã làm tâm trạng sầu càng thêm sầu, buồn càng thêm buồn. Sự cô đơn như bao trùm, cùng nỗi nhớ về vùng đất xưa mà “muôn hàng lệ rơi”. Khổ thơ cuối như lý giải cảm xúc của cả bài thơ. Sự buồn rầu, nhớ nhung, cô đơn đã biến tiếng mưa trở thành tiếng đàn, ngân lên khúc nhạc đầy xao xuyến, khắc khoải, đầy nỗi nhớ nhung đang tuôn chảy vào từng lớp cảm xúc và tâm hồn của “người khách tha hương”.
Bích Khê đã thành công sử dụng thể thơ song thất lục bát kết hợp với những ngôn từ giàu sức biểu cảm để nói lên tâm trạng một cách sâu sắc. Cùng với đó là những biện pháp tu từ gần gũi như liệt kê cảnh vật trong mưa, lặp đi lặp lại những cảnh vật và đặc biệt là từ “mưa” để nhấn mạnh không gian gợi nên cảm xúc. Kết hợp với giọng thơ nhẹ nhàng, đã gợi nên cảm xúc từng câu từng chữ cũng cứ nhẹ nhàng lướt trong tâm trí người đọc. Nói về nỗi nhớ, sự cô đơn mà không hề nặng nề về cảm xúc mà cứ nhẹ rơi như những giọt mưa mang âm thanh của tiếng đàn.
Tiếng đàn mưa đã thành công khắc họa nên tâm trạng của con người tha hương trước cảnh mưa rơi. Rời xa quê hương, cảm nhận được sự cô đơn mà cuộc sống mang lại, con người lại nhớ về những khung cảnh đầy quen thuộc. Nỗi khắc khaoir của một tâm hồn, mang một nỗi nhớ nhung xa vời. “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, và khi người buồn, thì tiếng mưa rơi cũng trở thành một tiếng đàn buồn thương, xuyến xao và ngập tràn nỗi nhớ thương.
Bài thơ không dài, không dùng quá nhiều từ ngữ và chi tiết những vẫn đem lại đủ cả hình ảnh và những tâm tư tình cảm của nhân vật trữ tình. Một bài thơ hết sức thành công trong bút pháp nghệ thuật của Bích Khê.
Bài tham khảo Mẫu 6
Đã từ lâu, tình bạn đã được đề cập đến trong các tác phẩm văn học. Nguyễn Khuyến là nhà văn sở hữu số lượng lớn các bài thơ mang chủ đề rất quen thuộc trong đời sống hàng ngày như thế. Nếu như trong Bạn đến chơi nhà, ông dùng giọng văn hóm hỉnh, khôi hài để nói về tình bạn không màng vật chất, thì sang bài thơ Khóc Dương Khuê, giọng thơ đã thay đổi hẳn. Cả bài thơ như tiếng khóc nấc lên trong sự buồn bã của Nguyễn Khuyến khi đến đám tang của người bạn Dương Khuê. Đặc biệt trong 16 câu thơ cuối:
“Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,
Tôi lại đau trước bác mấy ngày.
…
Tuổi già hạt lệ như sương,
Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!”
Nỗi xót thương cho người bạn quá cố càng được thể hiện đậm nét.
Nguyễn Khuyến xuất thân là nhà nho, có tài văn chương, đỗ đầu cả ba kỳ thi nên còn được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ. Ông thường viết về gia đình, bạn bè, quê hương và châm biếm bọn thực dân. Bài thơ Khóc Dương Khuê ban đầu được viết bằng chữ Hán, sau được Nguyễn Khuyến dịch lại bằng chữ Nôm. Dương Khuê là bạn của Nguyễn Khuyến, mặc dù kém tuổi nhưng Dương Khuê cũng đỗ chức tước cao, trở thành tri âm của Nguyễn Khuyến. Mười sáu câu thơ cuối là nỗi đau đáu, thương xót của Nguyễn Khuyến trước sự ra đi đột ngột của bạn.
Hai câu thơ mở đầu được nhà thơ viết bằng giọng văn khôi hài, nhưng chua xót, bộc lộ sự đau lòng của ông:
“Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,
Tôi lại đau trước bác mấy ngày.”
Quả thật, Nguyễn Khuyến hơn Dương Khuê bốn tuổi, nhưng Nguyễn Khuyến vẫn gọi Dương Khuê bằng giọng thân mật “tôi - bác”. Câu thơ “đau trước bác mấy ngày” sử dụng biện pháp ẩn dụ, ý chỉ sự ra đi của Dương Khuê quá đột ngột, khiến tác giả không thôi giật mình và đau đớn.
Trong bốn câu thơ tiếp theo, nhà thơ tiếp tục mạch cảm xúc trầm lắng, đau thắt lòng:
“Làm sao bác vội về ngay,
Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời.
Ai chẳng biết chán đời là phải,
Sao vội vàng mà mải lên tiên.”
Tác giả sử dụng biện pháp nói giảm, nói tránh và biện pháp nói quá rất khéo léo,, ý nhị. Để chỉ sự ra đi của người bạn thân, ông dùng những từ “vội về ngay”, “chán đời”, “vội vàng”, “lên tiên”, với mục đích để giảm đi sự đau thương, nhưng sao câu thơ vẫn đau bội phần như vậy. Nói tránh đi sự ra đi của bạn, Nguyễn Khuyến phóng đại nỗi đau của mình “chân tay rụng rời”. Chắc hẳn, vì quá bất ngờ, ông đã không kìm được cảm xúc mà suy sụp, đau như “chân tay rụng rời”.
Trước kia, tất cả những thú vui trên cõi đời đều có ông và Dương Khuê hưởng thụ. Nhưng nay, những niềm vui đó bỗng trở nên chán chường, vô nghĩa bởi đã mất bạn rồi:
“Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua.
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,
Viết đưa ai, ai biết mà đưa;
Giường kia treo cũng hững hờ,
Đàn kia gãy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn.”
Rượu luôn là thức uống yêu thích của thi nhân, thế nên mới có thi tửu. Nhưng rượu chỉ ngon khi được uống cùng bạn hiền. Biện pháp điệp từ “không” ba lần liên tiếp trong một câu thơ như nhân lên ba lần sự vô vị, không ham muốn thi tửu của Nguyễn Khuyến khi không có bạn. Hôm nay không mua rượu, không phải do không có tiền, mà là do không còn tri âm.
Bài thơ vẫn còn dang dở, chưa viết xong, bởi với ông, mất bạn rồi thì còn ai để đọc. Một lần nữa, biện pháp điệp ngữ lại xuất hiện, điệp từ “ai” và”đưa” hai lần, kết hợp với biện pháp chơi chữ “viết đưa ai” - “ai biết mà đưa”. Đây như một vòng luẩn quẩn, viết xong cũng không biết đưa cho ai, mà cũng không có ai để đưa. Mất đi Dương Khuê, Nguyễn Khuyến gần như mất đi cả một người đọc tri kỉ của mình.
Các sự vật tạo niềm vui khác như giường, đàn cũng mất đi sự sống, trở nên “hững hờ” và “ngẩn ngơ”. Đây là hai từ láy rất đặc sắc trong đoạn thơ, đồng thời là hai từ ngữ nhân hóa, khiến các sự vật tưởng như vô cảm ấy cũng đang hòa dần với nỗi đau mất mát bạn của nhà thơ. Sau cùng, thú vui để thưởng ngoạn với bạn, mất bạn rồi, thú vui cùng dần trở thành nỗi buồn sâu lắng.
Đau đớn là vậy, xót thương là vậy, nhưng Nguyễn Khuyến cũng đành chấp nhận sự thật rằng bạn đã đi xa:
“Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở,
Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương.
Tuổi già hạt lệ như sương,
Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!”
Nguyễn Khuyến trách móc, hờn dỗi bạn khi “Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở”. Đây là một điều vô lý nhưng hết sức hợp lý. Vô lý bởi Dương Khuê mất do tuổi già, nên cho dù nhà thơ có trách móc, van nài thì Dương Khuê cũng đâu thể nghe thấy được. Nhưng hợp lý là bởi, Nguyễn Khuyến quá nhớ thương Dương Khuê, mong muốn bạn ở lại với mình, nên mới buông lời mà trách nhẹ nhàng thế.
Mãi đến tận cuối bài thơ, ta mới thấy xuất hiện giọt nước mắt của nhà thơ. Nhưng sao giọt nước mắt ấy lại “như sương”, mà còn phải ‘ép” mới ra? Đọc đến đây, ta chợt nhớ lại giọt nước mắt cũng phải “ép” mới ra của Lão Hạc trong tác phẩm của Nam Cao. Một phần cũng là do tuổi cao nên khó chảy nước mắt. Nhưng phần nhiều, do lão quá đau khổ vì mất cậu Vàng, nên không thể khóc thành dòng được nữa. Cũng như vậy, Nguyễn Khuyến cũng nói một phần do “tuổi già”, nhưng thật ra, sâu trong thâm tâm, ông đau lòng đến độ thật khó để có “hai hàng chứa chan”. Nước mắt chảy ngược vào trong, như thể ông đang “nuốt” cái thương bạn vào trong bụng.
Bằng những câu thơ sử dụng ngôn ngữ bình dân mộc mạc, gần gũi, từng câu thơ chất chứa cảm xúc mãnh liệt, sử dụng tài tình biện pháp nhân hóa, phép điệp ngữ, biện pháp so sánh, Nguyễn Khuyến đã bộc lộ lòng thương bạn, đau đớn muôn phần khi mất bạn, nhưng đồng thời cũng thể hiện thái độ chấp nhận sự thật. Đọc bài thơ, ta càng thêm trân trọng hơn những tình bạn đẹp đẽ, trong sáng giữa đời thường
Bài tham khảo Mẫu 7
Hồ Dzếnh (1916 – 1991) là tác giả đã khẳng định được tên tuổi từ phong trào Thơ mới. Các thi phẩm của ông gợi cho người đọc ấn tượng về một giọng thơ ấm áp, chân thật. Đọc thơ ông, ta có cảm giác như ông đang kể câu chuyện cuộc đời mình. Bài thơ Trưa vắng in trong tập thơ Quê ngoại (1942) là một sáng tác tiêu biểu cho giọng thơ, hồn thơ của thi sĩ.
Bài thơ mở đầu bằng lời chia sẻ:
Hồn tôi đấy: căn trường nho nhỏ,
Nước vôi xanh, bờ cỏ tươi non
Lâu rồi, còn thoảng mùi thơm
Chân đi nghe động tới hồn ngây thơ.
Đó là câu chuyện của “hồn tôi” được nhà thơ kể lại, một thế giới ăm ắp những kỉ niệm, những xúc cảm thân thương. Nơi ấy có ngôi trường “nho nhỏ” tác giả từng gắn bó thời thơ ấu. Ngôi trường ấy được quét “nước vôi xanh”, cỏ “bờ cỏ tươi non” và “thoảng mùi thơm”, rộn vang tiếng “chân đi”,... Hình ảnh ngôi trường lưu lại trong tâm hồn tác giả rõ mồn một từng chi tiết, được cảm nhận qua cả thị giác, khứu giác và thính giác, như vẫn đang hiện hữu với vẻ đẹp xinh xắn, tinh khôi. Những câu thơ song thất lục bát giàu vần điệu (mỗi khổ thơ gồm một cặp câu thơ 7 chữ và một cặp lục bát luôn có tới 7 tiếng được gieo vần, điều không một thể thơ nào khác có được) dẫn dắt người đọc vào thế giới tâm hồn của thi sĩ, ở đó, những câu chuyện diễn ra từ thuở cắp sách đến trường mà có cảm giác như đang sống động trước mắt.
Trong thế giới của kí ức ấy, có bao kỉ niệm không thể nào quên, khiến tác giả kể một cách say sưa:
Sâu rộng quá những giờ vui trước!
Nhịp cười say trên nước chưa trôi.
Trưa hè thường thấy hai tôi
Ném đầu chim chích, bắt đuôi chuồn chuồn.
Khi miêu tả “những giờ vui trước” là “sâu rộng” (biện pháp tu từ ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, dùng cảm nhận không gian để miêu tả thời gian), thi nhân muốn thể hiện những xúc cảm đang ngập tràn tâm hồn mình. Đó là niềm vui một thời cùng anh trai (tác giả có hai người anh trai, nhân vật “hai tôi” chính là người anh cả) của mình đùa chơi trên sông, nghịch trò “ném đầu chim chích, bắt đuôi chuồn chuồn”. Câu thơ “Ném đầu chim chích, bắt đuôi chuồn chuồn" miêu tả những trò chơi tuổi dại khờ năm xưa, đồng thời gợi ra biết bao trò tinh nghịch khác (nhờ hiệu quả của phép đối), giờ đã trở thành kỉ niệm vô giá của hai anh em.
Những năm tháng không thể nào quên ấy không chỉ luôn sống trong kí ức mà còn trở thành nguồn động lực để đi tới tương lai: trở thành nhà thơ vì thấy cuộc đời quá đẹp!
Đời đẹp quá, tôi buồn sao kịp?
Trang sách đầu chép hết giây mơ.
Ngả mình trên bóng nhung tơ,
Tôi nguyền: sau lớn làm thơ suốt đời!
Vẻ đẹp của cuộc đời và tình yêu tha thiết dành cho cuộc đời được thi sĩ thể hiện qua câu hỏi tu từ: “Đời đẹp quá, tôi buồn sau kịp?”. Vì muốn ghi lại những vẻ đẹp ấy, thể hiện tình yêu ấy, tác giả đã nguyện “làm thơ suốt đời”. Câu thơ “Tôi nguyền: sau lớn làm thơ suốt đời!” có thể sử dụng một trong hai cách ngắt nhịp 2/2/2/2 hoặc 2/6. Nếu cách ngắt đều đặn theo nhịp 2/2/2/2 tạo cảm nhận về một lời giãi bày, tâm sự, thì cách ngắt nhịp 2/6 lại tạo ra sự biến điệu: hai tiếng đầu là lời “tuyên thệ” dõng dạc, tự hứa với lòng mình; sáu tiếng còn lại là nội dung “tuyên thệ” đầy tâm huyết, thiết tha. Dù chọn cách ngắt nhịp nào thi hai tiếng “tôi nguyền” vẫn được ngắt riêng, thể hiện một quyết tâm mạnh mẽ, dứt khoát, không gì lay chuyển được. Lời nguyện ước năm ấy của “tôi” đã trở thành hiện thực, và chúng ta nhận ra rằng mỗi phút giây mà con người trải qua không phải là một sự trôi đi, biến mất trong dĩ vãng, mà là một sự lắng lại, tiếp tục hiện hữu, như phù sa bồi đắp nên đôi bờ. Đời thơ ấy đã lắng đọng nên hồn thơ ấy.
Kể từ đó, thời gian thấm thoắt thoi đưa:
Cỏ mấy bận xanh rồi lại tạ
Gió lùa thu trong lá bao lần...
Bạn trường: những bóng phù vân,
Xót thương mái tóc nay dần hết xanh.
Cuộc sống đã có biết bao biến đổi: cỏ cây đã bao lần héo úa rồi lại xanh tươi; trời đất đã bao độ thu đến rồi lặn, bạn học cùng mái trường năm ấy giờ như “bóng phù vân”, mỗi người mỗi ngả, bản thân thi sĩ cũng dần bạc mái đầu. Dấu chấm lửng nằm giữa những câu thơ miêu tả thiên nhiên và miêu tả con người không tạo sự ngăn cách giữa hai nhóm đối tượng này, mà như một khoảng lặng thẫn thờ của thi sĩ, chất chứa những ngậm ngùi trước dòng chảy của thời gian.
Tuy vậy, với Hồ Dzếnh, cuộc sống có thay đổi thế nào thì dấu ấn của những kỉ niệm xưa vẫn không phai mờ trong tâm trí:
Hồn xưa dậy: chim cành động nắng,
Lá reo trên hồ lặng lờ trong
Trưa im, im đến não nùng
Tôi ngờ trống học trong lòng trưa vang...
Người yêu thơ không khó để nhận ra sự đồng điệu về xúc cảm giữa khổ thơ này với những câu thơ “Gì sâu bằng những trưa thương nhớ/ Hiu quạnh bên trong một tiếng hò!” và “Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh/ Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi!” trong bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu. Buổi trưa ở xứ nhiệt đới là khoảng thời gian nghỉ ngơi, là quãng lặng giữa hai buổi làm việc trong ngày. Chính quãng lặng của trưa vắng ấy đã trở thành một khoảng thời gian đặc biệt, có thể khiến tâm hồn con người sống dậy những hồi tưởng, hoài niệm. Trong buổi trưa vắng hôm ấy, không rõ tiếng trống làm thức dậy kỉ niệm xưa hay kỉ niệm xưa làm dậy vang tiếng trống trong hồn thi nhân. Dấu chấm lửng cuối bài thơ thể hiện âm vang tiếng trống trường năm xưa còn chưa dứt. Với thi nhân, quá khứ không chỉ là những hoài niệm. Quá khứ vẫn đang hiện hữu trong hiện tại.
Bài thơ được viết bằng ngôn ngữ tự nhiên, mộc mạc và giàu biểu cảm như một tự truyện ngọt ngào, thể hiện những rung cảm nhẹ nhàng mà sâu lắng của tâm hồn thi nhân. Thể thơ song thất lục bát xen kẽ từng cặp câu thơ bảy chữ và cặp câu thơ lục bát đầy biến tấu, giàu vần điệu, ngắt nhịp đa dạng, có khả năng chuyển tải những xúc cảm muôn màu, rất phù hợp để nhà thơ bộc bạch lòng mình. Bài thơ làm sống dậy trong ta những kỉ niệm của tuổi ấu thơ, thuở cắp sách tới trường, khiến ta thêm yêu quý, trân trọng những phút giây mình đã và đang sống.
Bài tham khảo Mẫu 8
Trong kho tàng văn học Việt Nam, "Ai tư vãn" là một tác phẩm nổi bật, thể hiện nỗi đau thương, tiếc nuối và lòng thủy chung của Công chúa Ngọc Hân đối với chồng là vua Quang Trung. Được viết theo thể song thất lục bát, bài thơ không chỉ là tiếng lòng đầy bi thương của một người phụ nữ mất đi người bạn đời mà còn phản ánh bức tranh lịch sử đầy biến động của thời Tây Sơn. Đây là một tác phẩm có giá trị lớn về cả nội dung và nghệ thuật, thể hiện tâm trạng đau thương và tình yêu sâu sắc của tác giả đối với vị anh hùng dân tộc.
Bài thơ mở đầu bằng những dòng thơ tràn đầy nỗi đau và tiếc nuối. Công chúa Ngọc Hân than khóc trước sự ra đi của Quang Trung, người anh hùng kiệt xuất đã mang lại hòa bình cho đất nước nhưng lại ra đi khi sự nghiệp còn dang dở:
Trời đất từ đây sấm vắng vang,
Non sông vằng vặc bóng trăng tàn.
Hai câu thơ thể hiện nỗi mất mát lớn lao khi vua Quang Trung qua đời. Sự vắng lặng của sấm chớp, bóng trăng tàn ám chỉ sự suy tàn của một thời đại, đồng thời cũng thể hiện sự hụt hẫng, đau xót của tác giả. Nỗi đau của bà không chỉ là nỗi đau của một người vợ mất chồng mà còn là sự xót xa trước thời cuộc đầy biến động, khi triều đại Tây Sơn suy tàn sau cái chết của vị minh quân.
Bên cạnh nỗi đau mất mát, bài thơ cũng gợi nhắc những kỷ niệm đẹp về quãng thời gian hạnh phúc bên nhau. Công chúa Ngọc Hân nhớ về những ngày tháng êm đềm khi còn được sống dưới sự chở che của Quang Trung:
Duyên thiên chưa thỏa, tình đã dứt,
Tơ trời vương vấn, mối còn vương.
Sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại làm nổi bật bi kịch của tác giả: từ một bậc mẫu nghi thiên hạ trở thành người phụ nữ cô đơn, lẻ loi giữa chốn cung cấm lạnh lẽo. Điều này không chỉ phản ánh số phận riêng của Ngọc Hân mà còn đại diện cho những nỗi đau chung của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Về phương diện nghệ thuật, "Ai tư vãn" được sáng tác theo thể song thất lục bát – một thể thơ có nhịp điệu linh hoạt, dễ truyền tải cảm xúc. Cách dùng từ ngữ trang nhã, tinh tế, kết hợp với những hình ảnh ẩn dụ, so sánh đầy biểu cảm giúp thể hiện tâm trạng đau đớn, tiếc thương của tác giả.
Hình ảnh ẩn dụ: "sấm vắng vang", "trăng tàn" tượng trưng cho sự sụp đổ của một thời đại và nỗi đau mất mát của tác giả. Sử dụng điển cố: Các hình ảnh "tơ trời vương vấn", "bể ái" mang ý nghĩa sâu sắc, diễn tả tình yêu thủy chung, son sắt của Công chúa Ngọc Hân. Nhịp điệu song thất lục bát: Với sự kết hợp hài hòa giữa các dòng thất ngôn và lục bát, bài thơ tạo nên nhịp điệu du dương nhưng không kém phần bi thương.
Không chỉ mang giá trị nghệ thuật, "Ai tư vãn" còn có ý nghĩa sâu sắc về tư tưởng, thể hiện lòng thủy chung son sắt của Công chúa Ngọc Hân đối với vua Quang Trung, khẳng định tình yêu và sự tận tụy của người phụ nữ đối với chồng. Là tiếng khóc than cho số phận bi thương của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, khi họ không có quyền quyết định số phận của mình mà phải chịu nhiều mất mát, đau khổ. Phản ánh sự suy vong của một triều đại, từ đó khơi gợi lòng tiếc nuối của tác giả trước thời đại Tây Sơn oanh liệt nhưng ngắn ngủi.
Tóm lại, "Ai tư vãn" không chỉ là một tác phẩm văn học xuất sắc mà còn là một bức tranh lịch sử đầy xúc động, giúp người đọc hiểu hơn về nỗi đau của Công chúa Ngọc Hân cũng như bối cảnh đầy biến động của triều đại Tây Sơn. Với giá trị nội dung sâu sắc và nghệ thuật tinh tế, bài thơ vẫn mãi để lại dấu ấn trong lòng độc giả hôm nay. Đây không chỉ là lời khóc than cho một mối tình đẹp nhưng dở dang mà còn là tiếng nói đầy thương cảm cho số phận những người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Bài tham khảo Mẫu 9
Cảnh chia ly của những cặp vợ chồng trẻ luôn chạm đến trái tim người đọc một cảm giác đau thắt, hiu quanh. Nếu như trong Tống biệt hành, người con gái đang tiễn người chồng đi tìm cái lý tưởng cao đẹp: “Đưa người ta không đưa sang sông/ Sao có tiếng sóng ở trong lòng?” thì trong 12 khổ thơ cuối của đoạn trích Nỗi niềm chinh phụ của Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm dịch, cũng là người vợ ấy, cũng là người con trai đang tìm công danh ấy, nhưng sao thật đắng cay, bởi người chồng đang cất bước ra chiến trường. Cả đoạn thơ là lời than thở, buồn đau, hi vọng được gặp chồng của người chinh phụ khi “tống biệt” chồng ra trận:
“Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.
…
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”
Mười hai câu thơ trên thuộc phần cuối của đoạn trích Nỗi niềm chinh phụ, trích trong tác phẩm Chinh phụ ngâm, nguyên tác của Đặng Trần Côn, bản dịch của Đoàn Thị Điểm. Tuy nhiên, cho đến nay, bản dịch này chắc chắn của Đoàn Thị Điểm không lại là vấn đề mà chưa ai dám khẳng định, nhưng phần đông các nhà nghiên cứu đều cho rằng bà là người dịch nguyên tác của Đặng Trần Côn ra chữ Nôm. Tác phẩm Chinh phụ ngâm (hay Khúc ngâm của người phụ nữ có chồng ra trận) được Đặng Trần Côn sáng tác trong khoảng năm 1710 - 1712 bằng chữ Hán. Cả bài ngâm khúc là lời tâm sự, giãi bày của người chinh phụ tiễn chồng ra trận. Trong mười hai câu thơ cuối bài, nỗi niềm ai oán, nhớ nhung của người chinh phụ càng đậm nét hơn cả.
Người chinh phụ mang nỗi hờn tủi, cô quạnh sau khi tiễn chồng đi:
“Chàng thì đi cõi xa mưa gió,
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.”
Thủ pháp đối được tác giả sử dụng vô cùng tài tình và ý nhị. Chàng thì “đi”, còn thiếp thì “về”, nơi chàng đi là ‘cõi xa mưa gió”, nơi nàng về là “buồng cũ chiếu chăn”. Khoảng cách giữa người chinh phụ và người chinh phu ngày càng bị kéo dài ra. “cõi xa mưa gió” là hình ảnh ẩn dụ, chỉ nơi chiến trường mà người chinh phụ phải đến, hoặc cũng có thể, đây là hình ảnh chỉ sự hi sinh của người chinh phu trên trận mạc. Còn hình ảnh “buồng cũ chiếu chăn” ý chỉ nơi mà hai vợ chồng từng mặn nồng với nhau, giờ đây chỉ còn lại mình nàng. Người chinh phụ phải cô đơn lẻ bóng, lo lắng chồng mình ở chiến trường, không biết rồi mai, liệu chồng còn trở về bên mình.
Người chinh phụ nhìn mãi, ngóng theo chồng nơi xa, nhưng càng trông theo lại càng không thấy bóng dáng chồng:
“Đoái trông theo đã cách ngăn,
Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh.”
Nàng nhìn về phía chồng, không thấy đạn khói của chiến tranh, chỉ thấy “mây biếc” và “núi xanh”. Màu xanh bao trùm lấy hai câu thơ, không chỉ miêu tả khung cảnh trước mắt người chinh phụ, mà còn gợi cảm giác heo hút, lạnh lẽo, cô đơn trong cõi lòng của nàng. Biện pháp đảo ngữ “tuôn màu mây biếc” và “trải ngần núi xanh” khiến không gian thiên nhiên như trải dài vô tận.
Xa mặt nhưng không cách lòng, người chinh phụ và người chinh phụ luôn nhớ đến nhau:
“Chốn Hàm Kinh chàng còn ngoảnh lại.
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.”
Hàm Dương và bến Tiêu Tương “cách mấy trùng”, nhưng hai người ở hai bên luôn gửi những nỗi nhớ mong, hi vọng cho nhau. Người chinh phu “ngoảnh lại”, nhìn về phía quê nhà, nơi vợ con đang ngóng trông chàng. Trước khi lên ngựa đi xa, chàng bịn rịn vợ con: “Nhủ rồi nhủ lại cầm tay,/ Bước đi một bước dây dây lại dừng”, chàng đi một bước, lại ngoảnh đầu nhìn người vợ một lúc. Và giờ đây, khi đã ra chiến trường, chàng cũng vẫn ngoảnh đầu nhớ thương vợ. Còn người chinh phụ ở nhà luôn “trông sang”, trông đến nơi chiến trường đổ máu. Biện pháp đối tài tình vẫn tiếp tục được sử dụng trong các câu thơ, như đang thể hiện sự đối lập giữa hoàn cảnh của hai người, nhưng lại có sợi dây vô hình gắn kết trái tim của người chinh phụ và người chinh phụ.
Niềm hy vọng chồng trở về của người chinh phụ ngày càng le lói, thay vào đó là nỗi nhớ đến đỉnh điểm, nỗi đau đớn dâng trào:
“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”
Màu xanh lại xuất hiện trong mắt người chinh phụ, nhưng đây không phải màu xanh tươi mát của bầu trời, mà là màu xanh ngắt trải dài của ruộng dâu. Biện pháp điệp ngữ ‘cùng…”, điệp từ “thấy”, “ngàn dâu” như đang diễn tả sự luẩn quẩn, sự sầu đau không thể diễn tả của người chinh phụ. Nàng nhìn ra xa, ngóng chồng mãi, nhưng chỉ thấy ruộng dâu xanh ngắt. Một cảm giác cô đơn, hiu quạnh ngập tràn trong lòng người đọc. Cũng dùng màu sắc để diễn tả cuộc chia tay, nhưng có lẽ, sắc đỏ trong bài thơ Cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn My phần nào mang cảm giác hi vọng hơn: “Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ/ Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa.” Kết thúc đoạn thơ là một câu hỏi tu từ mà mãi sẽ không bao giờ có câu trả lời: “Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”. Thiếp và chàng đều mang trong mình những nỗi đau khắc khoải, không biết chàng hay thiếp, ai mang nỗi sầu đau hơn? Câu hỏi cất lên như giãi bày hết mọi sầu đau, như tiếng thét đau đớn tột cùng cất lên.
Như vậy, với cách sử dụng biện pháp đảo ngữ, phép đối, câu hỏi tu từ hết sức khéo léo, ngôn ngữ bình dân kết hợp với ngôn ngữ bác học, Đặng Trần Côn đã diễn tả sâu sắc hơn nỗi niềm xót thương, lo lắng, nhớ nhung chồng và ai oán cho thân phận mình của người chinh phụ. Qua đó, ta càng hiểu hơn về những mất mát mà chiến tranh đã gây ra với nhân dân ta.
Bài tham khảo Mẫu 10
Mỗi khi mưa rơi, dường như cảm xúc trong mỗi người lại trở nên nhạy cảm hơn. Tiếng mưa đi kèm với những tâm trạng nhớ nhung, khắc khoải và những suy tư về cuộc sống. Cũng như chúng ta, đứng trước mưa mà xao xuyến nỗi lòng, Bích Khê đã đưa cảm xúc ấy vào chính tác phẩm của mình, bài thơ Tiếng đàn mưa.
Mở đầu bài thơ, tác giả đã gợi nên khung cảnh về một ngày mưa:
“Mưa hoa rụng, mưa hoa xuân rụng
Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan
Mưa rơi ngoài nẻo dặm ngàn
Nước non rả rích giọng đàn mưa xuân.”
Sự vật như rơi rụng cùng những giọt mưa nặng hạt. Những giọt mưa rơi xuống, rơi xuống từng hạt rồi xuống “lầu”, xuống cả “thềm lan”. Mưa bao trùm mọi thứ xung quanh. Khung cảnh của một ngày mưa được tái hiện cùng sự rụng rơi của những sự vật. Một khung cảnh tả thực, được vẽ nên bằng chính ngòi bút của tác giả. Ông gọi tiếng những giọt mưa rơi ấy là “giọng đàn mưa xuân”. Mưa xuân, mùa mưa mang đến hạnh phúc, vậy nên tiếng mưa dưới mùa xuân nghe thấy tiếng đàn. Tiếng đàn ấy mang sức thôi miên con người, nghĩ v về những gì đã qua êm ái, những gì tốt đẹp còn vương lại trong tâm trí. Mưa rơi, bao phủ lên mọi nẻo, mọi chốn:
“Lầu mưa xuống, thêm lan mưa xuống
Cùng nước non hoa rụng mưa xuân
Mưa rơi ngoài nội trên ngàn
Nghe trong ý khách giọt đàn mưa rơi.”
Mưa rơi xuống lầu, lại rơi xuống thềm hoa lan xinh đẹp. Mưa rơi từ những cánh đồng tới những núi non suối thác. Một khung cảnh chỉ toàn những giọt nước mưa rửa trôi những thứ cũ để mang đến những cái mới lạ. “Nghe trong ý khách giọt đàn mưa rơi” đâu đó ta nghe thấy tiếng của nỗi lòng đầy tâm sự. Tiếng đàn có thể cất lên trong tiếng mưa chút buồn. Nó gợi lên cái tâm tư riêng khó đoán của người khác. Lúc vui lúc buồn, chỉ có thể là nhớ và tìm những hoài niệm xưa chốn cũ:
“Đầm mưa xuống nẻo đồi mưa xuống
Bóng dương tà rụng bóng tà dương
Hoa xuân rơi với bóng dương
Mưa trong ý khách mưa cùng nước non.”
Lại tiếp tục là một khổ thơ nói tới những nơi mưa rơi xuống, cảnh vật cũng rơi cũng rụng theo mưa. Khắp nẻo đồi thấy mưa rơi thành đầm. Khi mà mặt trời chuẩn bị lặn, cùng với những cánh hoa xuân, khung cảnh mờ ảo, hư thực mà đầy mơ mộng. Ta thấy được sự cảm nhận, tình yêu thiên nhiên sâu sắc mới có thể tinh ý nhận ra vẻ đẹp đến từ thiên nhiên dưới những cơn mưa như vậy. “Mưa trong ý khách mưa cùng nước non”, đâu đó ta thấy được tình yêu thiên nhiên, đất nước, nơi đang tồn tại của nhân vật. Chính những cung bậc cảm xúc và tình yêu thiên nhiên như vậy, mới nghe được tiếng mưa như một tiếng đàn và cũng mới thấu được cái đẹp mà thiên nhiên đem lại. Mượn cảnh mà cũng gợi được tình, gợi cái cảm xúc và suy tư:
“Rơi hoa kết mưa còn rả rích
Càng mưa rơi cánh tịch bóng dương
Bóng dương với khách tha hương
Mưa trong ý khách muôn hàng lệ rơi”.
Mưa rơi khơi nguồn cảm xúc. Sự cô đơn dưới “bóng dương” đã làm tâm trạng sầu càng thêm sầu, buồn càng thêm buồn. Sự cô đơn như bao trùm, cùng nỗi nhớ về vùng đất xưa mà “muôn hàng lệ rơi”. Khổ thơ cuối như lý giải cảm xúc của cả bài thơ. Sự buồn rầu, nhớ nhung, cô đơn đã biến tiếng mưa trở thành tiếng đàn, ngân lên khúc nhạc đầy xao xuyến, khắc khoải, đầy nỗi nhớ nhung đang tuôn chảy vào từng lớp cảm xúc và tâm hồn của “người khách tha hương”.
Bích Khê đã thành công sử dụng thể thơ song thất lục bát kết hợp với những ngôn từ giàu sức biểu cảm để nói lên tâm trạng một cách sâu sắc. Cùng với đó là những biện pháp tu từ gần gũi như liệt kê cảnh vật trong mưa, lặp đi lặp lại những cảnh vật và đặc biệt là từ “mưa” để nhấn mạnh không gian gợi nên cảm xúc. Kết hợp với giọng thơ nhẹ nhàng, đã gợi nên cảm xúc từng câu từng chữ cũng cứ nhẹ nhàng lướt trong tâm trí người đọc. Nói về nỗi nhớ, sự cô đơn mà không hề nặng nề về cảm xúc mà cứ nhẹ rơi như những giọt mưa mang âm thanh của tiếng đàn.
Tiếng đàn mưa đã thành công khắc họa nên tâm trạng của con người tha hương trước cảnh mưa rơi. Rời xa quê hương, cảm nhận được sự cô đơn mà cuộc sống mang lại, con người lại nhớ về những khung cảnh đầy quen thuộc. Nỗi khắc khaoir của một tâm hồn, mang một nỗi nhớ nhung xa vời. “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, và khi người buồn, thì tiếng mưa rơi cũng trở thành một tiếng đàn buồn thương, xuyến xao và ngập tràn nỗi nhớ thương.
Bài thơ không dài, không dùng quá nhiều từ ngữ và chi tiết những vẫn đem lại đủ cả hình ảnh và những tâm tư tình cảm của nhân vật trữ tình. Một bài thơ hết sức thành công trong bút pháp nghệ thuật của Bích Khê.
Bài tham khảo Mẫu 11
Một trong những tác phẩm tiêu biểu của thể thơ song thất lục bát trong văn học trung đại Việt Nam là đoạn trích “Sau phút chia li” (trích Chinh phụ ngâm). Đoạn thơ đã khắc họa sâu sắc nỗi đau chia ly và tâm trạng cô đơn, khắc khoải của người chinh phụ khi tiễn chồng ra trận, qua đó thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc.
Thể thơ song thất lục bát với nhịp điệu trầm buồn, da diết đặc biệt phù hợp để diễn tả những cung bậc cảm xúc tinh tế. Ngay từ những câu thơ đầu, tác giả đã vẽ nên khung cảnh chia ly đầy xót xa:
“Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn”
Hai hình ảnh đối lập “chàng đi” – “thiếp về” đã gợi ra sự chia cách không gian và cũng là sự chia cắt về tâm hồn. Người chinh phu lên đường nơi “cõi xa mưa gió” đầy hiểm nguy, còn người chinh phụ trở về với không gian quen thuộc nhưng giờ đây trở nên trống trải, lạnh lẽo. Sự đối lập ấy làm nổi bật nỗi cô đơn, lẻ loi của người ở lại.
Nỗi buồn chia ly tiếp tục được đẩy lên cao khi không gian và thời gian như giãn ra vô tận:
“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu”
Cái “trông lại” thể hiện sự lưu luyến, nhưng “cùng chẳng thấy” lại là hiện thực phũ phàng. Hình ảnh “ngàn dâu” không chỉ mang ý nghĩa tả thực mà còn là biểu tượng cho khoảng cách xa xôi, cho sự cách trở không thể vượt qua. Từ đó, nỗi nhớ thương trở nên mênh mang, vô tận.
Đặc biệt, đoạn thơ đã khắc họa tinh tế diễn biến nội tâm của người chinh phụ. Từ buồn thương, lưu luyến đến lo âu, thấp thỏm:
“Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”
Câu hỏi tu từ vang lên như một tiếng thở dài. Người chinh phụ không chỉ đau vì xa cách mà còn vì nỗi lo cho người chinh phu nơi chiến trận. Đó là tình yêu sâu nặng, là sự đồng cảm và gắn bó trong tâm hồn. Nỗi sầu không thể đo đếm, không thể so sánh, chỉ có thể cảm nhận bằng trái tim.
Thể thơ song thất lục bát trong đoạn trích đã phát huy tối đa khả năng biểu cảm. Những câu thất (7 chữ) thường mang âm điệu dồn nén, gợi cảm xúc mạnh, trong khi câu lục bát lại mềm mại, ngân nga, tạo nên sự hòa quyện giữa nhịp điệu và cảm xúc. Nhờ đó, nỗi buồn chia ly không chỉ được kể mà còn được “thấm” vào từng nhịp thơ, khiến người đọc như đồng cảm, rung động theo từng câu chữ.
Không chỉ dừng lại ở việc diễn tả nỗi buồn cá nhân, đoạn thơ còn mang ý nghĩa tố cáo chiến tranh phi nghĩa đã chia cắt hạnh phúc lứa đôi. Qua nỗi lòng của người chinh phụ, tác giả bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với số phận con người, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ là những người chịu nhiều thiệt thòi, phải sống trong cảnh chờ đợi mòn mỏi và lo âu triền miên.
Tóm lại, “Sau phút chia li” là một đoạn thơ đặc sắc của thể song thất lục bát, vừa giàu giá trị nghệ thuật vừa thấm đẫm giá trị nhân đạo. Qua hình ảnh và ngôn ngữ tinh tế, tác phẩm đã khắc họa thành công nỗi đau chia ly và tâm trạng cô đơn của người chinh phụ, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Bài tham khảo Mẫu 12
Trong nền văn học trung đại Việt Nam, Chinh phụ ngâm là một tác phẩm đặc sắc, tiêu biểu cho thể thơ song thất lục bát với khả năng diễn tả nội tâm tinh tế. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã khắc họa sâu sắc nỗi cô đơn, buồn tủi của người phụ nữ có chồng ra trận, qua đó thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc.
Mở đầu đoạn trích là bức tranh sinh hoạt thường ngày nhưng thấm đẫm nỗi buồn:
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen”
Hình ảnh “dạo hiên vắng”, “ngồi rèm thưa” gợi lên không gian tĩnh lặng, hiu quạnh. Những hành động lặp đi lặp lại “gieo từng bước”, “rủ thác đòi phen” cho thấy sự bế tắc trong đời sống tinh thần. Người chinh phụ dường như không biết làm gì ngoài việc đối diện với nỗi cô đơn của chính mình.
Nỗi cô đơn ấy càng trở nên sâu sắc khi người chinh phụ tìm đến thiên nhiên, nhưng thiên nhiên cũng vô cảm:
“Ngoài rèm thước chẳng mách tin
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?”
Con chim thước – biểu tượng của tin vui – nay “chẳng mách tin”, khiến hy vọng trở nên mong manh. Người chinh phụ quay sang chiếc đèn, như tìm một người tri kỷ để sẻ chia. Nhưng câu hỏi “đèn biết chăng?” chỉ là lời tự vấn đầy tuyệt vọng. Chiếc đèn vô tri không thể thấu hiểu, cũng như nỗi lòng nàng không ai sẻ chia.
Đỉnh cao của nỗi cô đơn là khi người chinh phụ đối diện với chính mình:
“Đèn có biết dường bằng chẳng biết
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”
Câu thơ như một lời khẳng định: nỗi đau ấy là riêng tư, là không thể chia sẻ. Cảm xúc được đẩy lên đến tận cùng của sự cô độc. Đây chính là điểm mạnh của thể thơ song thất lục bát: những câu thất dồn nén cảm xúc, trong khi câu lục bát trải dài nỗi buồn, tạo nên âm hưởng da diết.
Không chỉ có không gian, thời gian trong đoạn trích cũng trở thành yếu tố làm tăng nỗi buồn:
“Gà eo óc gáy sương năm trống
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên”
Âm thanh “gà gáy” và hình ảnh “bóng hòe” gợi ra thời gian đêm khuya vắng lặng. Đây là thời điểm con người dễ đối diện với nỗi cô đơn nhất. Thời gian trôi qua chậm chạp, kéo dài nỗi nhớ, nỗi buồn.
Đặc biệt, đoạn trích đã diễn tả sâu sắc nỗi nhớ thương chồng:
“Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời”
Từ “đằng đẵng” gợi sự kéo dài vô tận, còn “đường lên bằng trời” là cách nói phóng đại, thể hiện khoảng cách xa xôi không thể đo đếm. Nỗi nhớ không chỉ là cảm xúc mà đã trở thành nỗi ám ảnh, chi phối toàn bộ đời sống tinh thần của người chinh phụ.
Qua đoạn trích, ta thấy rõ giá trị nhân đạo của tác phẩm. Tác giả đã thể hiện sự cảm thông sâu sắc với người phụ nữ trong xã hội phong kiến – những con người phải sống trong chờ đợi, cô đơn, và đau khổ vì chiến tranh. Đồng thời, tác phẩm cũng gián tiếp lên án chiến tranh phi nghĩa đã phá vỡ hạnh phúc gia đình.
Tóm lại, “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” là một đoạn thơ đặc sắc của thể song thất lục bát. Với ngôn ngữ tinh tế, hình ảnh giàu sức gợi và nhịp điệu trầm buồn, đoạn trích đã khắc họa thành công nỗi cô đơn và tâm trạng khắc khoải của người chinh phụ, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Bài tham khảo Mẫu 13
Dù Truyện Kiều chủ yếu viết theo thể lục bát, nhưng đoạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích” vẫn mang đậm âm hưởng của những khúc ngâm song thất lục bát, đặc biệt ở cách diễn tả nội tâm sâu sắc. Đoạn trích là bức tranh tâm trạng đầy xúc động của Thúy Kiều khi bị giam lỏng, qua đó thể hiện tài năng bậc thầy của Nguyễn Du.
Mở đầu đoạn trích là không gian cô lập:
“Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung”
Không gian “khóa xuân” gợi sự giam cầm, tù túng. Kiều bị tách khỏi thế giới bên ngoài, chỉ còn thiên nhiên làm bạn. Nhưng thiên nhiên ấy cũng mang màu sắc buồn bã, tĩnh lặng.
Nỗi cô đơn của Kiều được thể hiện rõ qua hình ảnh:
“Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”
Hai hình ảnh “mây sớm” và “đèn khuya” tượng trưng cho thời gian trôi qua, nhưng không làm vơi đi nỗi buồn. Kiều rơi vào trạng thái “nửa tình nửa cảnh”, nghĩa là cảnh vật cũng nhuốm màu tâm trạng.
Nỗi nhớ của Kiều được chia thành nhiều lớp: nhớ Kim Trọng, nhớ cha mẹ. Khi nhớ người yêu, Kiều đau đớn vì lời thề dang dở:
“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trông mai chờ”
Nỗi nhớ gắn với sự day dứt, ân hận. Kiều cảm thấy mình có lỗi vì không giữ trọn lời hẹn ước.
Khi nhớ cha mẹ, nỗi đau lại chuyển sang sự xót xa:
“Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?”
Đây là nỗi đau của chữ hiếu. Kiều lo lắng cho cha mẹ già không có người chăm sóc, thể hiện tấm lòng hiếu thảo sâu sắc.
Đặc biệt, đoạn thơ nổi bật với bút pháp tả cảnh ngụ tình:
“Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”
Cảnh vật được nhìn qua lăng kính tâm trạng. Mỗi hình ảnh thiên nhiên đều gợi lên một nỗi buồn: buồn cô đơn, buồn lo lắng, buồn vô vọng.
Dù không phải song thất lục bát hoàn chỉnh, đoạn thơ vẫn mang tinh thần của thể loại này: nhấn mạnh vào cảm xúc, sử dụng nhịp điệu trầm buồn, và khai thác sâu nội tâm nhân vật.
Tóm lại, đoạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một kiệt tác trong nghệ thuật miêu tả tâm lý. Qua đó, Nguyễn Du không chỉ thể hiện tài năng nghệ thuật mà còn bộc lộ tấm lòng nhân đạo sâu sắc.
Bài tham khảo Mẫu 14
Cung oán ngâm khúc là một trong những đỉnh cao của thể thơ song thất lục bát trong văn học Việt Nam. Tác phẩm đã khắc họa số phận bi kịch của người cung nữ, qua đó phản ánh hiện thực xã hội phong kiến đầy bất công.
Ngay từ đầu, tác giả đã dựng lên hình ảnh người cung nữ tài sắc nhưng bất hạnh:
“Trăm năm còn có gì đâu
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì”
Câu thơ mang tính triết lý sâu sắc về cuộc đời. Sự ngắn ngủi của kiếp người khiến mọi vinh hoa trở nên vô nghĩa. Đây chính là nỗi đau của người cung nữ – sống trong nhung lụa nhưng không có tự do.
Nỗi cô đơn của cung nữ được thể hiện qua không gian cung đình:
“Phòng không lạnh ngắt như tờ
Gối loan đâu tá, giường ngà đâu đây?”
Không gian “phòng không” gợi sự trống vắng tuyệt đối. Những vật dụng xa hoa như “gối loan”, “giường ngà” chỉ càng làm nổi bật sự cô độc.
Người cung nữ ý thức rõ về thân phận của mình:
“Khi sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường”
Sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại làm nổi bật bi kịch. Từ một người được sủng ái, nàng trở thành kẻ bị lãng quên. Hình ảnh “hoa giữa đường” gợi sự rẻ rúng, tàn phai.
Thể thơ song thất lục bát đã góp phần quan trọng trong việc thể hiện cảm xúc. Nhịp điệu lúc dồn dập, lúc kéo dài tạo nên âm hưởng ai oán, phù hợp với tâm trạng nhân vật.
Tác phẩm không chỉ là tiếng than của một cá nhân mà còn là lời tố cáo xã hội phong kiến. Người phụ nữ dù tài sắc vẫn không thể làm chủ số phận, bị biến thành công cụ trong chốn cung đình.
Tóm lại, Cung oán ngâm khúc là một tác phẩm xuất sắc của thể song thất lục bát. Với ngôn ngữ tinh tế và cảm xúc sâu sắc, tác phẩm đã khắc họa thành công bi kịch của người cung nữ, đồng thời thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc.
Bài tham khảo Mẫu 15
Trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam, Cung oán ngâm khúc nổi bật như một khúc bi ca thấm đẫm nước mắt của người phụ nữ chốn cung đình. Được viết bằng thể thơ song thất lục bát, tác phẩm không chỉ giàu giá trị nghệ thuật mà còn chứa đựng nội dung nhân đạo sâu sắc. Đoạn trích “Nỗi sầu oán của người cung nữ” đã khắc họa chân thực bi kịch của một kiếp người tài sắc nhưng bị lãng quên, qua đó tố cáo xã hội phong kiến bất công.
Mở đầu đoạn trích là tiếng than về thân phận con người, mang màu sắc triết lý sâu sắc:
“Trăm năm còn có gì đâu,
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì.”
Hai câu thơ như một lời chiêm nghiệm cay đắng về kiếp người. Cuộc đời dù vinh hoa hay nghèo khó, cuối cùng cũng chỉ là “một nấm cỏ khâu”. Với người cung nữ, nhận thức này càng trở nên xót xa hơn, bởi tuổi xuân và nhan sắc – những gì quý giá nhất – cũng sẽ bị thời gian vùi lấp. Đây chính là nỗi đau mang tính tồn tại, không chỉ của riêng một cá nhân mà còn là của cả một tầng lớp phụ nữ trong xã hội cũ.
Từ suy ngẫm chung về kiếp người, tác giả đi sâu vào bi kịch cá nhân của người cung nữ. Nàng từng là người được sủng ái, sống trong cảnh xa hoa, nhưng rồi bị lãng quên giữa chốn thâm cung:
“Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.”
Sự đối lập giữa “khi sao” và “giờ sao” đã làm nổi bật sự thay đổi phũ phàng của số phận. Nếu trước đây nàng được sống trong nhung lụa, được vua yêu chiều, thì giờ đây lại bị bỏ rơi, trở nên tàn tạ như “hoa giữa đường”. Hình ảnh này gợi lên sự rẻ rúng, bị giày xéo, không còn giá trị. Qua đó, tác giả đã thể hiện sâu sắc nỗi đau của người phụ nữ khi bị xem như một món đồ có thể thay thế.
Không gian sống của người cung nữ cũng góp phần làm nổi bật nỗi cô đơn:
“Phòng không lạnh ngắt như tờ,
Gối loan đâu tá, giường ngà đâu đây?”
Cụm từ “phòng không” gợi sự trống trải tuyệt đối. Những vật dụng từng gắn liền với tình yêu và hạnh phúc như “gối loan”, “giường ngà” giờ chỉ còn là kỷ niệm. Không gian càng xa hoa thì nỗi cô đơn càng trở nên sâu sắc, bởi nó làm nổi bật sự vắng mặt của tình cảm con người. Đây là nghịch lý đau đớn: sống giữa cung vàng điện ngọc nhưng lại thiếu đi điều quan trọng nhất – tình yêu và sự quan tâm.
Đặc biệt, đoạn trích đã khắc họa tinh tế diễn biến nội tâm của người cung nữ. Nỗi buồn không chỉ dừng lại ở sự cô đơn mà còn chuyển hóa thành oán hận:
“Đã không duyên phận thì thôi,
Còn chi mà lại đứng ngồi trông mong.”
Câu thơ thể hiện sự buông xuôi, chấp nhận số phận nhưng đồng thời cũng ẩn chứa nỗi chua xót. Người cung nữ ý thức được rằng mình không thể thay đổi hoàn cảnh, nhưng vẫn không thể dứt bỏ hy vọng. Chính sự giằng xé giữa lý trí và tình cảm đã làm cho nỗi đau trở nên day dứt hơn.
Thể thơ song thất lục bát đã góp phần quan trọng trong việc thể hiện cảm xúc. Những câu thất (7 chữ) thường mang nhịp điệu dồn dập, diễn tả sự uất ức, bức bối, trong khi câu lục bát lại mềm mại, kéo dài nỗi buồn. Sự kết hợp này tạo nên âm hưởng ai oán, phù hợp với nội dung tác phẩm. Nhờ đó, nỗi sầu oán của người cung nữ không chỉ được kể lại mà còn được cảm nhận một cách sâu sắc qua từng nhịp thơ.
Bên cạnh giá trị nghệ thuật, đoạn trích còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Qua số phận của người cung nữ, tác giả đã lên án chế độ phong kiến tàn bạo, nơi con người – đặc biệt là phụ nữ – không được làm chủ cuộc đời mình. Họ bị biến thành công cụ phục vụ cho quyền lực và dục vọng của kẻ thống trị. Đồng thời, tác phẩm cũng thể hiện sự cảm thông sâu sắc với những con người bất hạnh, qua đó khẳng định giá trị nhân đạo tiến bộ.
Tóm lại, đoạn trích “Nỗi sầu oán của người cung nữ” trong Cung oán ngâm khúc là một minh chứng tiêu biểu cho sức mạnh biểu đạt của thể thơ song thất lục bát. Với ngôn ngữ tinh tế, hình ảnh giàu sức gợi và giọng điệu ai oán, tác phẩm đã khắc họa thành công bi kịch của người cung nữ, đồng thời gửi gắm những suy tư sâu sắc về thân phận con người. Đây không chỉ là tiếng than của một cá nhân mà còn là lời tố cáo mạnh mẽ đối với một xã hội bất công, khiến tác phẩm vẫn còn giá trị cho đến ngày nay.
Các bài khác cùng chuyên mục
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Tết này nhớ mẹ (Nguyễn Trọng Tạo)
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Con nợ mẹ (Nguyễn Văn Chung) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Mẹ (Trần Quốc Minh) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Nghề giáo tôi yêu (Đinh Văn Nhã) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Thời nắng xanh (Trương Nam Hương) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Tết này nhớ mẹ (Nguyễn Trọng Tạo)
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Con nợ mẹ (Nguyễn Văn Chung) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Mẹ (Trần Quốc Minh) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Nghề giáo tôi yêu (Đinh Văn Nhã) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Thời nắng xanh (Trương Nam Hương) hay nhất




Danh sách bình luận