1001+ bài văn nghị luận văn học hay nhất cho mọi thể loại 200+ bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện ngắn

Top 45 Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích một tác phẩm truyện ngắn hay nhất


I. Mở bài - Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Nêu tên tác giả và truyện ngắn cần phân tích - Dẫn dắt vấn đề: Nêu nhận xét, đánh giá tổng quát về giá trị nội dung hoặc nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Dàn ý

I. Mở bài

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Nêu tên tác giả và truyện ngắn cần phân tích

- Dẫn dắt vấn đề: Nêu nhận xét, đánh giá tổng quát về giá trị nội dung hoặc nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm

II. Thân bài 

1. Tóm tắt và giới thiệu khái quát: Tóm tắt ngắn gọn cốt truyện để làm cơ sở cho việc phân tích.

2. Phân tích nội dung

- Luận điểm 1: Nhân vật chính/Diễn biến tâm trạng: Phân tích ngoại hình, ngôn ngữ, hành động và diễn biến tâm lý của nhân vật qua các sự kiện quan trọng.

- Luận điểm 2: Chủ đề, thông điệp: Truyện phản ánh thực tế xã hội nào? Tác giả gửi gắm tư tưởng nhân đạo, phê phán hay ngợi ca gì?.

3. Phân tích nghệ thuật 

- Nghệ thuật xây dựng nhân vật 

- Ngôi kể 

- Tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn.

III. Kết bài 

- Khẳng định giá trị: Khẳng định lại ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm đối với nền văn học và người đọc.

- Ấn tượng cá nhân: Nêu cảm nghĩ, bài học rút ra từ câu chuyện. 

Bài siêu ngắn Mẫu 1

Đi lấy mật là một đoạn trích từ tác phẩm Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi kể về cuộc đời phiêu bạt của cậu bé tên An. Qua đoạn trích đi lấy mật, tác gia đã cho người đọc cảm nhận được về cậu bé An là một con người hồn nhiên, trong sáng và rất ham học hỏi.

An là nhân vật chính, cũng đóng vai là người kể chuyện. Cậu đã được nhà văn khắc họa qua nhiều phương diện khác nhau. Trong hành trình đi lấy mật cùng với tía nuôi và Cò, An đã có được một nhiều nghiệm thú vị. Trước hết, An cũng giống như bao đứa trẻ khác, nghịch ngợm nên đã có những hành động như: “Chen vào giữa, quảy tòn ten một cái gùi bé”; “Đảo mắt khắp nơi để tìm bầy ong mật”; “Reo lên khi nhìn thấy bầy chim đẹp”; “Ngước nhìn tổ ong như cái thúng… ”. Qua những hành động này, có thể thấy An là một đứa trẻ khá hiếu động và nghịch ngợm.

Hồn nhiên là vậy nhưng An vẫn biết suy nghĩ, ham tìm hiểu. Bên cạnh đó, không chỉ tinh nghịch và ưa khám phá, cậu còn có con mắt quan sát thật tinh tế và sâu sắc. Dưới con mắt của An, cảnh rừng U Minh hiện lên sống động và hoang sơ, trù phú: “Buổi sáng, đất rừng yên tĩnh”, còn “ánh sáng trong vắt, hơi gợn một chút óng ánh trên những đầu hoa tràm rung rung, khiến ta nhìn cái gì cũng giống như là nó bao qua một lớp thủy tinh”. Điều này cho thấy, An là một cậu bé có tinh tế, biết phát hiện ra những cái đẹp của thiên nhiên.

Qua đoạn trích đi lấy mật, tất cả những chi tiết từ câu chuyện của mẹ đã cho ta thấy An là một cậu bé ngoan ngoãn, ham học hỏi, thích quan sát và yêu thiên nhiên.

Bài siêu ngắn Mẫu 2

Nam Cao là một nhà văn hiện thực xuất sắc. Hai mảng đề tài chính trong các tác phẩm của ông là người nông dân và tri thức nghèo. Một trong những tác phẩm tiêu biểu viết về người nông dân là truyện ngắn Lão Hạc.

Nhân vật chính trong truyện là lão Hạc, một người nông dân nghèo khổ nhưng sống tình cảm. Điều này được thể hiện rõ qua sự gắn bó, đau xót, tiếc thương của lão khi phải bán đi cậu Vàng. Bên cạnh đó, lão còn là một người cha yêu thương con hết mực, luôn nghĩ cho con và dành dụm cho con. Không chỉ vậy, Lão cũng là một người có lòng tự trọng. Dù sống trong hoàn cảnh thiếu thốn, khó khăn nhưng không có những suy nghĩ, việc làm trái với lương tâm và cũng không muốn ảnh hưởng, phiền hà đến bất cứ ai. Nhân vật ông giáo xuất hiện với vai trò người kể chuyện, xưng “tôi”. Nhân vật này là hàng xóm cũng có thể coi là người bạn tâm giao của lão Hạc.

Bên cạnh những thành công về nội dung, truyện ngắn còn gây ấn tượng với người đọc bởi nghệ thuật tác giả sử dụng vô cùng đặc sắc. Đầu tiên phải kể đến nghệ thuật xây dựng và khắc họa nhân vật vô cùng tiêu biểu, đậm nét. Lấy hình ảnh một con người để nói đến một bộ phận người. Tiếp đến là nghệ thuật miêu tả chân dung nhân vật vô cùng tài tình. Sự kết hợp giữa phương thức tự sự và trữ tình cũng tạo nên sự đa chiều của câu chuyện. Có lúc là giọng văn tự sự mẫu mực, có lúc lại khiến người đọc rưng rưng xúc động với những xúc cảm do tác giả thể hiện.

Lão Hạc của nhà văn Nam Cao xứng đáng là một tác phẩm hay. Truyện không chỉ thành công bởi những giá trị về nội dung mà còn cả bởi giá trị về nghệ thuật.

Bài siêu ngắn Mẫu 3

Nguyễn Dữ là một trong những tác giả nổi tiếng về truyện truyền kỳ. Trong những tác phẩm của ông, có lẽ “Chuyện người con gái Nam Xương” là câu chuyện đặc sắc nhất. Tác phẩm viết về số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa, ca ngợi phẩm chất cao đẹp của họ

Vũ Nương là người con gái “tính tình thùy mị nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp”. Chồng nàng là Trương Sinh, một người đa nghi và hay ghen. Mặc dù vậy, với tính cách dung hòa của mình, “nàng luôn giữ gìn khuôn phép”. Khi Trương Sinh phải sung binh, nàng lại là người vợ chung thủy, một lòng một dạ với chồng, chỉ mong chàng lên đường bình an trở về, không mong đeo được ấn phong hầu. Tình yêu và ước mơ của nàng thật giản dị và ý nghĩa. Chồng đi xa, nàng sinh con và chăm sóc mẹ chồng một cách chu đáo. Khi mẹ chồng mất, nàng đau xót, lo liệu ma chay như với cha mẹ đẻ của mình. Tuy nhiên, người phụ nữ đức hạnh ấy lại phải chịu đựng một nỗi oan và dẫn đến cái chết thương tâm của nàng. Trong thời gian chồng đi tòng quân, nàng thường hay đùa với con bằng cách trỏ vào bóng mình trên tường và nói đó là cha Đản. Tuy nhiên, Trương Sinh một mực không tin và nghi nàng ngoại tình, nàng đã gieo mình xuống bến Hoàng Giang mà chết. Chi tiết này đã nói lên nét đẹp con người Vũ Nương, nàng sẵn sàng lấy cái chết để chứng minh sự trong sạch của mình. Hành động mà Vũ Nương nhờ Phan Lang về nói với Trương Sinh yêu cầu của nàng cũng một lần nữa nói nên tấm lòng chung thủy, một lòng son sắt của nàng. Khi hiểu ra sự tình, Trương Sinh đã vô cùng ân hận, đàn giải oan đã khiến cho Vũ Nương được trả lại sự trong sạch.

Tác phẩm của Nguyễn Dữ, một tác phẩm truyền kỳ có sử dụng những yếu tố hoang đường kỳ ảo. Nhưng từ đó lại thấy được cái nhìn, sự trân trọng và cảm thông của tác giả đối với số phận người phụ nữ xưa, ca ngợi phẩm chất cao đẹp của họ.

Bài tham khảo Mẫu 1

Rất nhiều tác phẩm văn học đã sinh ra từ không khí hào hùng của thời đại kháng chiến chống Mĩ. Truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi được Lê Minh Khuê viết vào năm 1971, khi cuộc chiến đấu của quân dân ta đang ở giai đoạn cam go, ác liệt nhất. Tác phẩm ra đời từ một ngòi bút trực tiếp tham gia công tác và chiến đấu tại tuyến đường Trường Sơn, nên đã chuyển tải được sự ác liệt của bom đạn và làm nổi bật lên vẻ đẹp tâm hồn của những con người Việt Nam trẻ tuổi, mà đại diện tiêu biểu chính là Nho, Thao và Phương Định.

Lê Minh Khuê miêu tả từng nhân vật với những nét tính cách khác nhau. Đầu tiên là chị Thao, tiểu đội trưởng. Thao xứng đáng là người chỉ huy của cả đội, bởi chị lúc nào cũng rất bình tĩnh. Ấy vậy mà cô gái này lại "thấy máu, thấy vắt là chị nhắm mắt lại, mặt tái mét, áo lót của chị cái nào cũng thêu chỉ màu. Chị lại hay tỉa đôi lông mày của mình, tỉa nhỏ như cái tăm.", đó là vẻ đẹp mang màu sắc nữ tính của chị Thao. 

Còn khi miêu tả Nho, nhà văn để cho nhân vật xuất hiện trong cái nhìn rất thương mến của Phương Định. Đó là lúc Nho đi từ dưới suối lên, cái cổ tròn, trông nhẹ "mát mẻ như một que kem". Nho có những mơ ước bình dị "Xong chiến tranh, sẽ xin vào một nhà máy thuỷ điện lớn. Nó làm thợ hàn, sẽ trở thành cầu thủ bóng chuyền của nhà máy. Nó sẽ đập thật giỏi. Và biết đâu lại sẽ được người ta tuyển vào đội bóng chuyền miền bắc". Vẻ đẹp của Nho giản dị như thế đấy, nhưng cô gái thanh niên xung phong này có thể đảm đương những nhiệm vụ khó khăn nhất. 

Nhưng có thể nói nhân vật trung tâm mà Lê Minh Khuê miêu tả thật sâu sắc phải kế đến Phương Định, người ở ngôi thứ nhất kể lại câu chuyện này. Về nguồn gốc xuất thân, Phương Định vốn là một cô gái Hà Nội vừa rời ghế nhà trường đã xung phong ra trận, đó là vẻ đẹp lý tưởng ở những con người trẻ tuổi thuộc thế hệ đánh Mỹ. Ngoại hình của Phương Định khá xinh đẹp. Vẻ đẹp tươi tắn của Phương Định hoàn toàn tương phản với khung cảnh chiến tranh, nó khiến cho người đọc thêm căm ghét cuộc chiến tranh xâm lược tàn ác mà kẻ thù đã gây ra.

Nhà văn miêu tả tính cách của Phương Định vẫn còn nhiều nét lãng mạn, tinh nghịch. Cô thích ca hát: "Tôi thích nhiều bài hát, dân ca quan họ dịu dàng, dân ca Ý trữ tình giàu có". Cô cũng thích ngắm mình trong gương. Những cử chỉ, hành động và suy nghĩ của Phương Định cho ta thấy cô gái này là một con người giản dị, yêu đời, rất đỗi ngây thơ, trong sáng và có nội tâm phong phú.

Trong truyện ngắn, nhà văn Lê Minh Khuê đã khám phá ra đằng sau vẻ đẹp dịu dàng của Phương Định là một tâm hồn đầy sức mạnh và lòng dũng cảm của một người chiến sĩ. Điều này thể hiện trong những lần Phương Định phá bom. Quả bom của kẻ thù là phương tiện tàn ác gieo rắc cái chết, để có những con đường an toàn cho đoàn xe ra trận, Phương Định và đồng đội của cô đối mặt với những quả bom đáng sợ đó. Nhà văn Lê Minh Khuê không né tránh miêu tả thực tại phũ phàng trần trụi của chiến tranh. Đó là lúc Phương Định để lộ mình trên cao điểm, và cảm nhận sự hiểm nguy sát ngay bên cạnh. Nhưng cũng chính giây phút đó, cô gái thanh niên xung phong không thấy mình đơn độc, cô cảm thấy ánh mắt của các anh bộ đội đang dõi theo mình, động viên và bảo vệ. Vì thế, Phương Định không đi khom, cô giữ tư thế hiên ngang khi đến gần quả bom. "Cảm thấy có ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình, tôi không sợ nữa. Tôi sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi lom khom khi có thể cứ đàng hoàng mà bước tới".... Những lúc như thế, Phương Định cũng có nghĩ đến cái chết, nhưng tinh thần trách nhiệm và khát khao hoàn thành nhiệm vụ mạnh mẽ hơn. Phương Định hiểu rõ ý nghĩa việc mình làm, thế nên đối mặt với cái chết, cô vẫn chủ động, bình tĩnh, dũng cảm và sẵn sàng hi sinh cho con đường ra trận được thông suốt. Đó chính là vẻ đẹp tâm hồn cao cả của cô và đồng đội!

Là một cô gái thanh niên xung phong anh dũng, nhưng trái tim Phương Định lại dịu dàng và chan chứa yêu thương, nhất là đối với những người đồng đội cô xem như ruột thịt. Khi thấy Nho bị bom vùi, Phương Định cuống cuồng bới đất cứu bạn, và chăm sóc Nho với tất cả tấm lòng người chị em gái. Đối với chị Thao, Phương Định cũng hiểu rõ tính cách, sở thích và những tâm tình của bạn, sẵn sàng giúp đỡ và sẻ chia tâm sự. Nghe giọng hát rất chua của chị Thao, Phương Định cảm thấy sự thân thiết và niềm động viên khi tình thế nước sôi lửa bỏng. Cũng như Thao và Nho, Phương Định có một tâm hồn trong sáng, nhạy cảm. Trong những ngày xa Hà Nội, cô nhớ da diết những hình ảnh thân thương của quê hương, nhớ xe bán kem, nhớ cả những ngôi sao xa xôi trên bầu trời Hà Nội. Đó là những kỷ niệm đẹp đẽ mà Phương Định đã gói ghém làm hành trang khi tham gia vào cuộc trường chinh vĩ đại của dân tộc đánh Mỹ.

Có thể nói, ở ba cô gái này, ta cảm nhận những nét tính cách đối lập: họ vừa là người chiến sĩ dũng cảm, gan dạ, sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc, vừa là ba cô gái hồn nhiên, đầy nữ tính và có lòng yêu quê hương đất nước lắng sâu da diết. Đó không phải chỉ là vẻ đẹp tâm hồn của riêng họ, mà là nét đẹp tâm hồn chung của những con người Việt Nam trẻ tuổi thời đại chống Mỹ cứu nước.

Lê Minh Khuê đã làm nổi bật tâm hồn trong sáng, mơ mộng, tinh thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh nhưng hồn nhiên và lạc quan của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn đầy khói lửa. Truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi có thể được coi là một khúc ca ca ngợi vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam:

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai"

(Tố Hữu)

Bài tham khảo Mẫu 2

Thạch Lam là nhà văn tiêu biểu thuộc nhóm Tự lực văn đoàn. Truyện ngắn Gió lạnh đầu mùa là một truyện ngắn xuất sắc của ông viết về đề tài trẻ em.

Truyện bắt đầu bằng khung cảnh của buổi sáng mùa đông được nhà văn khắc họa tinh tế. Chỉ sau một đêm mưa rào, trời bắt đầu nổi gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu đến khiến con người tưởng rằng mình đang ở giữa mùa đông rét mướt. Sơn tung chăn tỉnh dậy, cậu thấy mọi người trong nhà, mẹ và chị đã trở dậy, ngồi quạt hỏa lò để pha nước chè uống. Mọi người đều “đã mặc áo rét cả rồi”. Ở ngoài sân “Gió vi vu làm bốc lên những màn bụi nhỏ, thổi lăn những cái lá khô lạo xạo. Bầu trời không u ám, toàn một màu trắng đục”. Những cây lan trong chậu “lá rung động và hình như sắt lại vì rét”. Và sơn cũng thấy lạnh, cậu vơ vội cái chăn trùm lên đầu rồi gọi chị.

Mẹ Sơn đã bảo Lan - chị gái của Sơn vào buồng lấy thúng áo ra. Mẹ Sơn lật cái vỉ buồm, lục đống quần áo rét. Bà giơ lên một chiếc áo bông cánh xanh đã cũ nhưng còn lành. Đó chính là chiếc áo của Duyên - đứa em gái đáng thương của Sơn đã mất năm lên bốn tuổi. Người vú già đã “với lấy cái áo lật đi lật lại ngắm nghía, tay mân mê các đường chỉ”. Khi nghe mẹ nhắc về em gái, Sơn cũng cảm thấy “nhớ em, cảm động và thương em quá”. Cậu xúc động khi thấy mẹ “hơi rơm rớm nước mắt”. Chiếc áo bông chính là kỉ vật gợi nhớ về người em gái đã mất với biết bao tình yêu thương sâu sắc.

Sau khi mặc xong áo ấm, chị em Sơn đi ra chợ chơi.Thằng Cúc, thằng Xuân, con Tí, con Túc - những đứa trẻ em nghèo khổ vẫn phải mặc những bộ quần áo nâu bạc đã rách vá nhiều chỗ. Môi chúng nó “tím lại”, chỗ áo quần rách “da thịt thâm đi”. Gió lạnh thổi đến, chúng nó lại “run lên, hai hàm răng đập vào nhau”. Khi nhìn thấy Sơn và Lan trong những bộ quần áo ấm áp, chúng cảm thấy xuýt xoa, ngưỡng mộ. Hai chị em Sơn tỏ ra thân thiết với chúng chứ không khinh khỉnh như các em họ của Sơn.

Và đặc biệt là khi Lan nhìn thấy Hiên đang đứng “co ro” bên cột quán, trong gió lạnh chỉ mặc có manh áo “rách tả tơi”, “hở cả lưng và tay”. Cả hai chị em đều cảm thấy thương xót cho con bé. Sơn chợt nhớ ra mẹ cái Hiên rất nghèo, nhớ đến em Duyên ngày trước vẫn cùng chơi với Hiên ở vườn nhà. Một ý nghĩ tốt thoáng qua trong tâm trí Sơn - đó là đem chiếc áo bông cũ của em Duyên cho Hiên. Nghĩ vậy, cậu đã nói với chị gái của mình, nhận được sự đồng tình của chị. Chị Lan đã “hăm hở” chạy về nhà lấy áo. Còn Sơn thì đứng yên lặng đợi chờ, trong lòng tự nhiên thấy “ấm áp vui vui”. Cái áo cũ mà chị em Sơn đem cho Hiên thể hiện tấm lòng nhân hậu của hai đứa trẻ.

Về đến nhà, hai chị em Sơn lo lắng khi người vú già biết mẹ đã biết chuyện hai chị em lén mang áo cho Hiên. Sơn cảm thấy lo lắng, sợ hãi và sang nhà tìm Hiên để đòi lại áo. Nhưng đó là một phản ứng bình thường của một đứa trẻ khi mắc lỗi và bị phát hiện. Đến khi trở về nhà, chị em Sơn vô cùng ngạc nhiên khi thấy mẹ con cái Hiên đang ở nhà mình. Mẹ Hiên đem chiếc áo bông đến trả mẹ của Sơn. Có thể thấy dù sống khó khăn, khổ cực nhưng bà vẫn giữ vững phẩm chất tốt đẹp: “Đói cho sạch, rách cho thơm”. Còn người mẹ của Sơn, sau khi nghe rõ việc, bà đã cho mẹ của Hiên mượn năm hào về may áo ấm cho con. Điều đó thể hiện mẹ Sơn là một người trái tim nhân hậu. Sau khi mẹ con Hiên về, mẹ Sơn không tức giận, đánh mắng con mà còn “vẫy hai con lại gần, rồi âu yếm”. Đó chính là tấm lòng vị tha cũng như giàu lòng yêu thương của người mẹ.

Truyện ngắn “Gió lạnh đầu mùa” nhẹ nhàng mà thật sâu sắc. Tác phẩm đã giúp người đọc hiểu hơn về giá trị của tình yêu thương giữa con người. Đây quả là tác phẩm xuất sắc của nhà văn Thạch Lam.

Bài tham khảo Mẫu 3

Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm có giá trị của văn học cổ nước ta ở thế kỷ XVI, một tập truyện văn xuôi bằng chữ Hán đầu tiên ở Việt Nam. Truyện “Chuyện người con gái Nam Xương” là một truyện hay trong tác phẩm đó được trích trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.

Chuyện ca ngợi một người phụ nữ có phẩm chất, có tâm hồn trong sáng, sáng ngời như ngọc lại bị nỗi oan tày trời vì một chuyện ghen tuông vớ vẩn của người chồng nông nổi. Cuối cùng nàng phải tìm đến cái chết để giải nỗi oan tình.

Tác giả đặt nhân vật Vũ Nương vào những hoàn cảnh khác nhau, qua đó bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ. Vũ Nương vốn là người con gái có tư dung tốt đẹp, tính tình thùy mị, nết na. Khi lấy chồng, nàng luôn giữ gìn khuôn phép, không để vợ chồng phải thất hòa dù Trương Sinh vốn có tính hay ghen. Chồng đi đánh giặc ngoài biên ải, nàng một lòng son sắt, thủy chung. Hơn nữa, nàng là một người con dâu hiếu kính, tận tụy chăm sóc khi mẹ chồng còn sống, chôn cất mẹ chồng khi mẹ qua đời. Rồi đằng đẵng thời gian trôi qua, chồng ra lính trở về, cùng là lúc nàng bị nghi oan. Nàng đã nói đến thân phận mình, tình nghĩa vợ chồng và khẳng định lòng chung thuỷ, hết lòng tìm cách hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ bị tan vỡ. Dù họ hàng, làng xóm có bênh vực và biện bạch, Trương Sinh vẫn không tin. Tuyệt vọng vì phải gành chịu nỗi oan khuất tày trời không phương giãi bày, cứu chữa nàng đành mượn cái chết để chứng tỏ tiết hạnh trong sáng của mình. Truyện đã khẳng định những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam – một người phụ nữ đẹp người, lại nết na, hiền thục, đảm đang, tháo vát, rất mực hiếu kính với mẹ chồng, giữ vẹn lòng chung thuỷ sắt son với chồng, hết lòng vun đắp hạnh phúc gia đình, …. lẽ ra phải được hạnh phúc trọn vẹn thế mà phải chết một cách oan uổng, đau đớn.

Cái chết của Vũ Nương có nhiều nguyên nhân sâu xa, bắt nguồn từ hiện thực nghiệt ngã của lễ giáo phong kiến của xã hội cũ, với chế độ “nam quyền”, coi rẻ thân phận của người phụ nữ, rồi tính đa nghi, ghen tuông của chồng, thói hung bạo, gia trưởng của chồng đã làm khổ đau bao cuộc đời những người phụ nữ.

Cuộc hôn nhân giữa Vũ Nương và Trương Sinh có phần không bình đẳng (thiếp vốn con nhà khó, được nương tựa nhà giàu). Xã hội phong kiến lại coi trọng "nam quyền", hơn nữa Trương Sinh lại có tính đa nghi, đối với vợ thì phòng ngừa quá mức. Những chi tiết này chuẩn bị cho những hành động độc đoán của Trương Sinh sau này.

Điều đáng trách là thái độ và hành động độc đoán của Trương Sinh khi ấy. Không đủ bình tĩnh để tìm hiểu vấn đề, chàng bỏ ngoài tai những lời phân trần của vợ, những lời bênh vực của họ hàng, làng xóm, không chịu nói ra duyên cớ ghen hờn. Cuối cùng, Sinh lại mắng nhiếc nàng và đánh đuổi nàng đi. Thái độ và hành động của Trương Sinh vô hình dung dẫn đến cái chết oan nghiệt của Vũ Nương. Hành động gieo mình xuống sông Hoàng Giang của Vũ Nương phản ánh một thực trạng về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ bị buộc chặt trong khuôn khổ khắt khe của lễ giáo, bị đối xử bất công, bị áp bức và chịu nhiều khổ đau, bất hạnh. Đó cũng chính là giá trị tố cáo hiện thực của tác phẩm.

Nguyễn Dữ đã có những mặt thành công trong nghệ thuật xây dựng truyện, xây dựng những đoạn đối thoại. Cách kể chuyện hấp dẫn, xây dựng tình tiết, thắt nút và gỡ nút thật bất ngờ, đầy kịch tính, càng làm cho nỗi oan tình của nhân vật hiện ra với tất cả nét thảm khốc.

Truyện "Người con gái Nam Xương" có giá trị hiện thực tố cáo và ý nghĩa nhân đạo sâu sắc. Nghĩ về Vũ Nương và biết bao thân phận người phụ nữ khác trong xã hội phong kiến được phản ánh trong các tác phẩm văn học cổ, chúng ta càng thấy rõ giá trị cuộc sống của những người phụ nữ Việt Nam trong một xã hội tốt đẹp hôm nay. 

Bài tham khảo Mẫu 4

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai

Đó chính là tâm thế hào hùng, hiên ngang của tuổi trẻ thời kháng chiến chống Mỹ trên tuyến đường Trường Sơn ác liệt. Đã có bao tác phẩm ra đời viết về tuổi trẻ thời chống Mỹ, Lê Minh Khuê cũng góp nhặt vào vườn hoa đó một bông hoa ngát hương, mà chỉ vừa nghe cái tên ta đã thấy rực sáng một bầu trời: "Những ngôi sao xa xôi".

Lê Minh Khuê thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mỹ. Những tác phẩm đầu tay của chị ra mắt vào những năm 70, nội dung viết về cuộc sống chiến đấu sôi nổi, hào hùng của thanh niên xung phong và bộ đội trên tuyến đường Trường Sơn. Một số truyện ngắn đã gây được sự chú ý và tình cảm yêu mến của bạn đọc.

Truyện Những ngôi sao xa xôi phản ánh chân thực tâm hồn trong sáng, mơ mộng, tinh thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh nhưng rất hồn nhiên, lạc quan của những cô gái thanh niên xung phong. Đó chính là những hình ảnh đẹp đẽ, tiêu biểu cho phẩm chất cao quý của thế hệ trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ vừa qua. Cốt truyện đơn giản, mạch truyện phát triển theo diễn biến tâm trạng của người kể, kết hợp đan xen giữa hiện tại và quá khứ. Có thể tóm tắt như sau:

Ba nữ thanh niên xung phong làm thành tổ trinh sát mặt đường tại một trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn. Tổ trưởng là chị Thao và tổ viên là hai cô gái trẻ tên Định và Nho. Nhiệm vụ của họ là quan sát máy bay địch ném bom, ước chừng khối lượng đất đá dùng để san lấp hố bom, đánh dấu vị trí các trái bom chưa nổ và phá bom nổ chậm. Công việc hết sức nguy hiểm vì máy bay địch có thể ập đến bất cứ lúc nào. Họ phải đối mặt với thần chết trong mỗi lần phá bom, mà công việc này thì lại diễn ra thường xuyên. Các cô gái ở trong một cái hang dưới chân cao điểm, cách xa đơn vị. Cuộc sống dù khắc nghiệt và nguy hiểm nhưng họ vẫn có những niềm vui hồn nhiên, những giây phút thanh thản, mơ mộng. Đặc biệt là ba chị em rất gắn bó, yêu thương nhau trong tình đồng đội, dù mỗi người một cá tính. Ớ phần cuối, tác giả tập trung miêu tả hành động và tâm trạng của các nhân vật, chủ yếu là của Phương Định trong một lần phá bom. Nho bị thương đã được đồng đội lo lắng và săn sóc. Cơn mưa đá ở cao điểm khiến cho Phương Định hồi tưởng về tuổi học trò ở Hà Nội: Chao ôi, có thể là tất cả những cái đó. Những cái đó ở thật xa… Để cho nhân vật chính là Phương Định đứng ra kể chuyện, điều đó phù hợp với nội dung truyện và tạo thuận lợi để tác giả vừa miêu tả, vừa thể hiện đời sống tâm hồn của nhân vật. Truyện viết về chiến tranh nên có những chi tiết, hình ảnh về bom đạn, chiến đấu, hi sinh… nhưng chủ yếu vẫn hướng vào thế giới nội tâm, làm hiện lên vẻ đẹp tâm hồn của con người.

Ba cô gái sống và chiến đấu trên một cao điểm giữa một vùng trọng điểm bắn phá của máy bay Mỹ trên tuyến đường Trường Sơn. Công việc của họ rất nguy hiểm vì giữa ban ngày, họ phải phơi mình dưới tầm đánh phá của máy bay địch. Nguy hiểm khôn lường nhưng các cô tự hào về công việc của mình và cái tên gọi mà đơn vị đặt cho là: tổ trinh sát mặt đường. Gắn với cái tên gợi sự khát khao làm nên những sự tích anh hùng ấy là công việc chẳng nhẹ nhàng, đơn giản chút nào. Sau mỗi trận bom, các cô phải lao ngay ra trọng điểm, đo đạc và ước tính khối lượng đất đá bị bom địch đào xới, đếm những quả bom chưa nổ và dùng những khối thuốc nổ đặt vào cạnh từng trái bom để phá. Đó là một công việc mạo hiểm với cái chết, thần kinh luôn căng thẳng, đòi hỏi sự dũng cảm và hết sức bình tĩnh. Nhưng với ba cô gái thì những công việc khủng khiếp ấy đã trở thành bình thường

Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay đang ầm ì xa dần. Thần kinh căng như chão, tim đập bất chấp cả nhịp điệu, chân chạy mà vẫn biết rằng khắp chung quanh có nhiều quả bom chưa nổ. Có thể nổ bây giờ, có thể chốc nữa. Nhưng nhất định sẽ nổ… Rồi khi xong việc, quay lại nhìn cảnh đoạn đường một lần nữa, thở phào, chạy về hang.

Đối lập với cảnh tàn khốc do bom đạn giặc gây ra là sự bình tĩnh đến lạ lùng của các cô gái. Cảnh các cô sống trong hang sao mà lạc quan, thơ mộng đến thế: Bên ngoài nóng trên 30 độ, chui vào hang là sà ngay đến một thế giới khác. Cái mát lạnh làm toàn thân run lên đột ngột- Rồi ngửa cổ uống nước trong ca hay trong bi đông. Nước suối pha đường. Xong thì nằm dài trên nền ẩm lười biếng nheo mắt nghe ca nhạc tử cái đài bán dẫn nhỏ mà lúc nào cũng có pin đầy đủ. Có thể nghe, có thể nghĩ lung tung… hình như ta sắp mở chiến dịch lớn.

Bài tham khảo Mẫu 5

Nhắc tới O Hen Ri là nhắc tới một nhà văn vĩ đại của thế kỷ 20. Sinh ra tại Mỹ, O Hen Ri rất nổi tiếng với những tác phẩm truyện ngắn. Trong đó đã có những tác phẩm được bình chọn là truyện ngắn hay nhất. Và ông đã để lại cho kho tàng văn học thế giới với những tác phẩm bất hủ. Trong đó tiêu biểu nhất là tác phẩm “Chiếc lá cuối cùng” đã được đưa vào văn học Việt Nam.

Tác phẩm “Chiếc lá cuối cùng” là một thông điệp kêu gọi về tình yêu và sự sống của con người. Một giá trị nhân văn vô cùng sâu sắc. Truyện Chiếc lá cuối cùng tiêu biểu cho bút pháp nghệ thuật của O Hen-ri. Truyện chỉ có ba nhân vật, những họa sĩ nghèo: Xiu, Giôn-xi và cụ già Bơ-men. Truyện có kết cấu chặt chẽ, hầu như không có chi tiết nào thừa. Diễn biến xúc động như khi nói về trận ốm kéo dài của Giôn-xi và cái chết bất ngờ của cụ Bơ-men.

Có ý kiến cho rằng: Truyện "Chiếc lá cuối cùng" của O Hen-ri là bức thông điệp màu xanh về tình thương và sự sống của con người. Truyện "Chiếc lá cuối cùng" đã thể hiện một tình bạn cao quý cảm động. Giôn-xi và Xiu là hai nữ họa sĩ trẻ, tuy nghèo nhưng nhiều mơ ước, nhiều yêu thương. Họ gắn bó với nhau về những sở thích và về nghệ thuật mà kết thành chị em cùng chung nhau thuê một phòng họa nơi phố nghèo.

Mùa đông năm ấy, chứng viêm phổi hoành hành đã đánh ngã hàng chục nạn nhân. Giôn-xi cũng bị cảm lạnh, nằm liệt giường. Mọi thứ thuốc men, đều trở thành vô dụng, cô yên trí là mình không thể khỏi được. Gion-xi lại bị ám ảnh, một khi chiếc lá cuối cùng của cây thường xuân phía cửa sổ rụng xuống là cô sẽ ra đi. Sự sụp đổ về tinh thần của cô họa sĩ trẻ bất hạnh làm bệnh tình ngày thêm trầm trọng.

Chính trong hoàn cảnh bi đát ấy, tình bạn được thử thách. Xiu đã tận tình săn sóc em, lúc thì khuấy nước súp gà, lúc thì pha sữa với rượu Boóc-đô, lúc thì đặt thêm gối, lúc thì mời bác sĩ, lúc thì cầu cứu bác Bơ-men. Xiu đã giành giật với tử thần để chạy chữa cho đứa em nuôi bé bỏng tội nghiệp. Xiu là hiện thân của tấm lòng trắc ẩn vị tha, là một con người giàu đức hi sinh thầm lặng, có một trái tim nhân hậu mênh mông. Xiu là một nhân vật rất đẹp làm ta xúc động và ngưỡng mộ về một tình bạn, tình chị em thủy chung, cao quý. Nhân vật Xiu tỏa sáng bức thông điệp màu xanh của Chiếc lá cuối cùng.

Tác phẩm đã khắc họa những con người sống trong khó khăn, nhưng vẫn luôn muốn vươn tới những tầm cao mới, không hề sợ chết. Đó là hình ảnh của cụ già Bơ Men, đã hơn 40 năm cầm bút vẽ. Và ở độ tuổi 60 nhưng vẫn chưa đạt tới được đỉnh cao gấu áo vị nữ thần nghệ thuật nhưng vẫn luôn tin tưởng “một ngày kia tôi sẽ vẽ một tác phẩm kiệt xuất” khi chia sẻ với cô Xiu.

Và trong giá rét, cơn mưa lạnh lẽo dai dẳng. Cụ già Bơ Men không còn ngồi đó đó làm mẫu nữa và chỉ mặc trên mình một chiếc áo sơ mi màu xanh mỏng trong đêm để vẽ nên tuyệt tác để đời của cuộc đời mình đó là “Chiếc lá cuối cùng”. Một chiếc lá tượng trưng cho sự dũng cảm. Chiếc lá ấy vẫn vững chắc trong gió bấc dữ dội, bám chặt vào cành cây. Chiếc lá ấy đã cứu vớt cho số phận của cô Giôn Xi. Cụ Bơ Men đã ra đi vĩnh viễn để lại một tác phẩm để đời cứu vớt một sinh mạng nghèo khó. Cụ chính là một tấm gương quên mình với hành động cao cả.

Giôn Xi đã khỏi bệnh và đứng lặng ở đó ngắm nhìn bức tranh đã cứu vớt số mạng của cô. Trong sự xúc động ngập tràn khi nghĩ tới những lời Xiu nói “Cụ vẽ nó ở đấy vào cái đêm mà chiếc lá cuối cùng đã rụng với tất cả tình thương và lòng biết ơn vô hạn”. Và cho đến hơn một thế kỷ nay đã có rất nhiều độc giả trên trái đất này. Đã cảm phục cụ già Bơ Men vì những nghĩa cử cao đẹp, cái chết quên mình vì người khác của cụ.

Tác phẩm “Chiếc lá cuối cùng” có thể nói là một trong những tác phẩm có tính nhân văn sâu sắc nhất của nhân loại. Tác phẩm là một bức tranh tả thực về đời sống của những con người trong khốn khó. Nó đem lại cho độc giả nhiều cảm xúc và tâm tư suy nghĩ. Một thông điệp lớn với những khát khao vươn lên những tầm cao mới. Một thông điệp về sự trân trọng tình yêu thương giữa người với người.

Bài tham khảo Mẫu 6

Nguyễn Quang Sáng là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Các sáng tác của ông tập trung chủ yếu về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc chiến cũng như sau hòa bình.  Chiếc lược ngà là một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông được sáng tác năm 1966. Tác phẩm để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về tình cảm cha con sâu nặng trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt.

Tác phẩm xoay quanh tình huống truyện éo le: Ông Sáu sau tám năm xa nhà đi kháng chiến, ông được nghỉ ba ngày phép về thăm nhà, thăm con. Trước nỗi xúc động và tình cảm yêu mến của ông, bé Thu - đứa con gái ông yêu quý, mong nhớ suốt tám năm trời đã không nhận ra ông là ba. Ngày ông phải trả phép về đơn vị cũng chính là ngày con bé nhận ông là ba. Ở đơn vị, ông Sáu dồn tất cả tình yêu, nỗi nhớ, nỗi ân hận vào việc làm chiếc lược ngà để tặng con. Nhưng chưa kịp trao cây lược cho con thì ông đã hi sinh trong một trận càn lớn của Mỹ. Từ tình huống truyện, tác phẩm đề cao, ngợi ca tình ca tình cha con sâu nặng, đồng thời tố cáo tội ác chiến tranh.

Trước hết về bé Thu, em là con của ông Sáu nhưng từ nhỏ đã phải xa cha do ba vào chiến trường. Sau tám năm xa cách, Thu được gặp lại ba, những tưởng đó sẽ là cuộc đoàn viên đầy hạnh phúc, nhưng trái ngược với ông Sáu mừng rỡ lao về phía em thì Thu dửng dưng, thậm chí hốt hoảng gọi Má. Má . Những ngày sau đó, dù ông Sáu hết lòng chăm sóc nhưng bé Thu vẫn lạnh nhạt, thậm chí xa lánh, ngang ngạnh cự tuyệt ông Sáu. Dù ông đã làm hết cách nhưng bé Thu vẫn không gọi ông là ba. Những lúc gặp khó khăn, nguy cấp Thu chỉ gọi trống không, không nhận được sự trợ giúp của ông Sáu, nó cũng loay hoay tự làm một mình. Nguyễn Quang Sáng đã miêu tả thật chính xác thái độ, hành động khác thường của bé Thu. Bởi trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt em không hiểu những éo le mà chiến tranh gây ra, nên chỉ vì một vết thẹo trên mặt ông Sáu em kiên quyết không nhận ba. Điều đó cũng cho thấy Thu là đứa trẻ bướng bỉnh, cá tính nhưng đằng sau sự từ chối đến cứng đầu đó là tình yêu thương thắm thiết Thu dành cho ba mình.

Bé Thu cứng đầu chối từ sự ân cần của cha bao nhiêu thì giây phút nhận ra cha lại mãnh liệt, xúc động bấy nhiêu. Sau khi nghe bà ngoại giải thích, bé Thu đã trở về nhà trong sáng ngày ông Sáu lên đường về đơn vị. Con bé đã thay đổi hoàn toàn thái độ trong sự ngỡ ngàng của ông Sáu và mọi người, tiếng gọi ba của Thu là tiếng gọi kìm nén suốt tám năm, tám năm yêu thương, đợi chờ ngày ba về. Trong khoảnh khắc đó, ai cũng như lặng người đi vì xúc động. Với lối miêu tả chân thực, giàu cảm xúc tác giả đã cho thấy tình yêu thương sâu nặng Thu dành cho ba, dù có những lúc gan góc, bướng bỉnh nhưng em rất giàu tình cảm và dễ xúc động.

Về phía ông Sáu, trong ba ngày về nghỉ phép, ông dành trọn yêu thương cho đứa con gái bé bỏng. Thuyền chưa cập bến ông đã vội vàng nhảy lên bờ, chạy về phía con, đôi bàn tay sẵn sàng dang ra chờ đợi đứa con sà vào lòng. Nhưng trái ngược với điều ông tưởng tượng, bé Thu cự tuyệt, lảng tránh, điều đó làm ông hết sức đau lòng, hai tay ông buông thõng như bị gãy. Khuôn mặt ấy thật đáng thương biết bao, ông không biết làm thế nào để có thể xóa nhòa khoảng cách thời gian và không gian ấy. Để bù đắp cho con, ba ngày nghỉ phép ông không đi đâu, chỉ quanh quẩn bên con, yêu thương, ân cần bên con mong Thu sẽ thay đổi. Khoảnh khắc hạnh phúc nhất mà cũng đau lòng nhất của ông chính là được nghe tiếng gọi ba thiêng liêng, nhưng đó cũng là lúc ông phải chia tay con trở về đơn vị. Trong những ngày ở chiến trường ông ân hận vì đánh con, không quên lời hứa, ông dồn tâm huyết vào làm chiếc lược ngà. Trong một trận càn khiến ông kiệt sức, không trăng trối được điều gì nhưng ông vẫn dồn hết tàn lực móc cây lược trao cho đồng đội và gửi gắm đồng đội mình qua ánh mắt đầy yêu thương. Cây lược ấy đã được người đồng đội trao lại cho bé Thu. Tình cha con đã không chết, nâng đỡ cô bé trưởng thành, vượt lên mọi đau thương mất mát. Ông Sáu là biểu tượng cho tình yêu thương, sự ân cần và che chở của người cha dành cho con mình. Qua đó ta thấy được sự bất tử của tình cảm cha con trong hoàn cảnh chiến tranh.

Câu chuyện đã tái hiện thành công tình cha con sâu nặng của bé Thu và ông Sáu. Từ đó, tác giả cho thấy sự tàn bạo của chiến tranh; những bi kịch cùng tình cảm gia đình đẹp đẽ trong thời chiến. Đồng thời tác phẩm cũng ca ngợi tình cảm phụ tử thiêng liêng trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt.

Bài tham khảo Mẫu 7

Trong nền văn học hiện thực Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, Nam Cao là một cây bút xuất sắc với khả năng khắc họa sâu sắc số phận con người, đặc biệt là người nông dân nghèo. Truyện ngắn Lão Hạc là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông, thể hiện chân thực cuộc sống khốn cùng, đồng thời làm nổi bật vẻ đẹp nhân cách cao quý của người nông dân trong xã hội cũ.

Trước hết, nhân vật lão Hạc hiện lên là một người nông dân nghèo khổ, cô đơn và bất hạnh. Vợ mất sớm, con trai vì nghèo không lấy được vợ nên bỏ đi làm đồn điền cao su, lão sống một mình với con chó Vàng – kỷ vật duy nhất của con trai để lại. Cuộc sống của lão vốn đã khó khăn, lại càng trở nên bế tắc khi ốm đau, không có tiền thuốc thang, không có ai nương tựa. Qua đó, Nam Cao đã phản ánh chân thực số phận bi thảm của người nông dân trong xã hội phong kiến nửa thuộc địa: nghèo đói, cô độc và bị dồn vào đường cùng.

Tuy nhiên, điều làm nên giá trị sâu sắc của tác phẩm không chỉ nằm ở hiện thực khắc nghiệt mà còn ở vẻ đẹp tâm hồn của lão Hạc. Lão là người giàu lòng yêu thương, đặc biệt là tình yêu dành cho con. Lão chắt chiu từng đồng, quyết giữ mảnh vườn để sau này trao lại cho con. Ngay cả khi đói khổ, lão vẫn không muốn tiêu vào số tiền ấy. Tình yêu con của lão vừa giản dị, vừa thiêng liêng, khiến người đọc không khỏi xúc động.

Một chi tiết tiêu biểu thể hiện rõ nét tâm trạng và phẩm chất của lão Hạc là việc bán con chó Vàng. Đối với lão, con chó không chỉ là vật nuôi mà còn là người bạn, là hình ảnh của đứa con trai xa xứ. Khi buộc phải bán nó, lão đau đớn, dằn vặt như vừa làm một điều tội lỗi. Lão “cố làm ra vui vẻ” nhưng rồi lại “cười như mếu”, “mắt ầng ậng nước”. Qua chi tiết này, Nam Cao đã thể hiện sự tinh tế trong việc miêu tả nội tâm nhân vật, đồng thời làm nổi bật tấm lòng nhân hậu, giàu tình cảm của lão Hạc.

Đỉnh điểm của bi kịch là cái chết của lão Hạc. Lão đã chọn cái chết bằng bả chó – một cái chết dữ dội và đau đớn – để giữ trọn lòng tự trọng và tình yêu dành cho con. Lão không muốn trở thành gánh nặng cho người khác, không muốn tiêu vào tài sản của con. Cái chết ấy không chỉ là sự giải thoát mà còn là lời tố cáo xã hội tàn nhẫn đã đẩy con người vào bước đường cùng. Đồng thời, nó cũng khẳng định vẻ đẹp nhân cách của lão Hạc: nghèo nhưng không hèn, khổ nhưng vẫn giữ được phẩm giá. Bên cạnh nhân vật lão Hạc, nhân vật ông giáo cũng góp phần làm nổi bật tư tưởng của tác phẩm. Ông giáo là người có học, giàu lòng trắc ẩn, luôn cảm thông và thấu hiểu lão Hạc. Qua lời kể của ông giáo, câu chuyện trở nên chân thực, gần gũi và giàu tính nhân văn. Đặc biệt, suy ngẫm của ông giáo về con người: “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta…” đã thể hiện một quan điểm sâu sắc: cần nhìn nhận con người bằng sự cảm thông, không nên vội vàng đánh giá họ.

Về nghệ thuật, truyện ngắn Lão Hạc thành công ở cách xây dựng nhân vật điển hình, miêu tả tâm lý tinh tế và ngôn ngữ giản dị mà giàu sức biểu cảm. Nam Cao đã sử dụng ngôi kể thứ nhất qua lời ông giáo, giúp câu chuyện trở nên khách quan nhưng vẫn đầy cảm xúc.

Tóm lại, Lão Hạc là một truyện ngắn giàu giá trị hiện thực và nhân đạo. Tác phẩm không chỉ phản ánh cuộc sống cơ cực của người nông dân mà còn ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của họ. Qua đó, Nam Cao gửi gắm thông điệp sâu sắc về lòng nhân ái và sự trân trọng con người.

Bài tham khảo Mẫu 8

Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu là một tác phẩm tiêu biểu cho văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, khi nhà văn không chỉ phản ánh hiện thực mà còn đi sâu khám phá những nghịch lý của đời sống và chiều sâu của con người. Tác phẩm đặt ra những câu hỏi lớn về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, giữa cái đẹp và sự thật.

Trước hết, truyện xoay quanh tình huống nhận thức của nhân vật Phùng – một nghệ sĩ nhiếp ảnh. Trong một chuyến công tác, Phùng đã bắt gặp một cảnh tượng tuyệt đẹp: chiếc thuyền đánh cá ẩn hiện trong làn sương sớm, tất cả hiện lên như một bức tranh mực tàu cổ điển. Khoảnh khắc ấy khiến anh rung động sâu sắc, tưởng như đã chạm tới “chân lý của sự toàn thiện”. Đây chính là biểu tượng cho cái đẹp nghệ thuật – tinh khôi, hoàn mỹ và đầy sức gợi.

Tuy nhiên, ngay sau đó, Phùng chứng kiến một cảnh tượng hoàn toàn trái ngược: người đàn ông thô bạo đánh đập vợ mình một cách dã man ngay trên bãi biển. Sự đối lập gay gắt giữa cái đẹp tuyệt đối của nghệ thuật và sự thật trần trụi của cuộc sống đã tạo nên một nghịch lý đầy ám ảnh. Qua đó, Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm thông điệp: cuộc sống không đơn giản như những gì ta nhìn thấy từ bên ngoài, và cái đẹp đôi khi chỉ là lớp vỏ che đậy những bi kịch bên trong.

Nhân vật người đàn bà hàng chài là điểm sáng nhân văn của tác phẩm. Bà hiện lên với vẻ ngoài xấu xí, lam lũ, nhẫn nhục nhưng lại mang một tâm hồn sâu sắc và đầy hy sinh. Khi được mời đến tòa án để giải quyết việc ly hôn, bà đã từ chối, không phải vì không biết đau khổ, mà vì bà hiểu rõ hoàn cảnh của mình: nếu bỏ chồng, các con bà sẽ không có người chèo chống giữa biển khơi khắc nghiệt. Lời tâm sự chân thành của bà khiến Phùng và Đẩu – một người đại diện cho công lý – phải thay đổi cách nhìn. Qua nhân vật này, tác giả đã khẳng định: không thể nhìn nhận con người và cuộc sống bằng những chuẩn mực đơn giản, mà cần có sự thấu hiểu sâu sắc. Nhân vật người đàn ông hàng chài cũng không hoàn toàn là một kẻ ác đơn thuần. Hắn là sản phẩm của hoàn cảnh nghèo đói, bế tắc và cuộc sống khắc nghiệt trên biển. Dù hành động của hắn là đáng lên án, nhưng qua cách xây dựng nhân vật, Nguyễn Minh Châu đã cho thấy cái nhìn đa chiều: con người có thể vừa đáng trách, vừa đáng thương.

Điểm đặc sắc của truyện còn nằm ở sự chuyển biến nhận thức của nhân vật Phùng. Từ chỗ say mê cái đẹp thuần túy, anh dần nhận ra rằng nghệ thuật chân chính phải gắn liền với cuộc sống, phải phản ánh được những góc khuất của hiện thực. Tấm ảnh “chiếc thuyền ngoài xa” về sau vẫn đẹp, nhưng trong mắt Phùng, nó không còn đơn giản là một tác phẩm nghệ thuật nữa, mà còn gợi nhớ đến câu chuyện đau lòng phía sau.

Về nghệ thuật, truyện được xây dựng trên một tình huống độc đáo, giàu tính phát hiện. Ngôn ngữ giản dị nhưng giàu triết lý, cách kể chuyện linh hoạt, kết hợp giữa miêu tả và suy ngẫm. Nguyễn Minh Châu đã thể hiện rõ phong cách sáng tác mới: đi sâu vào bản chất con người, đặt ra những vấn đề mang tính triết học.

Tóm lại, Chiếc thuyền ngoài xa là một tác phẩm giàu giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Truyện không chỉ phản ánh hiện thực đời sống mà còn đặt ra những câu hỏi sâu sắc về cách nhìn nhận con người. Qua đó, Nguyễn Minh Châu nhắc nhở chúng ta cần có cái nhìn đa chiều, nhân văn và sâu sắc hơn trước cuộc sống.

Mẫu 9:

Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân là một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam viết về nạn đói năm 1945. Bằng ngòi bút giản dị nhưng giàu cảm xúc, Kim Lân đã tái hiện một bức tranh hiện thực đầy đau thương, đồng thời khắc họa vẻ đẹp của tình người và niềm hy vọng sống của những con người nghèo khổ.

Trước hết, bối cảnh truyện được đặt trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 – một thời điểm mà cái chết luôn rình rập khắp nơi. Kim Lân đã miêu tả khung cảnh làng quê với những hình ảnh ám ảnh: người đói nằm vật vờ bên đường, tiếng quạ kêu, mùi gây của xác chết… Tất cả tạo nên một không khí nặng nề, tang thương. Trong bối cảnh ấy, con người dường như bị đẩy đến giới hạn cuối cùng của sự sống. Chính hoàn cảnh khắc nghiệt này đã làm nổi bật ý nghĩa của việc “nhặt vợ” – một chuyện tưởng như bình thường nhưng lại trở nên đặc biệt và đầy nghịch lý.

Nhân vật Tràng là trung tâm của câu chuyện. Tràng vốn là một người dân nghèo làm nghề kéo xe bò thuê, ngoại hình xấu xí, cuộc sống bấp bênh. Trong hoàn cảnh bình thường, việc lấy vợ đã khó, huống chi trong thời kỳ đói khát. Thế nhưng, chỉ qua vài câu nói đùa và mấy bát bánh đúc, Tràng đã “nhặt” được vợ. Chi tiết này vừa mang màu sắc hài hước, vừa phản ánh sự bi thảm của xã hội: giá trị con người bị rẻ rúng đến mức chỉ cần chút thức ăn là có thể gắn bó với nhau cả đời.

Tuy nhiên, điều đáng chú ý là sau khi có vợ, Tràng dần thay đổi. Anh bắt đầu cảm thấy mình có trách nhiệm hơn với cuộc sống. Khi dẫn vợ về nhà, Tràng cảm thấy vừa vui vừa lo lắng. Niềm vui vì từ nay không còn cô độc, nhưng nỗi lo vì tương lai vẫn mờ mịt. Sự chuyển biến trong tâm lý của Tràng cho thấy khát vọng về một mái ấm gia đình – một nhu cầu rất tự nhiên nhưng cũng vô cùng quý giá trong hoàn cảnh đói khát.

Nhân vật người vợ nhặt ban đầu xuất hiện với hình ảnh khá chao chát, táo bạo. Thị sẵn sàng theo Tràng chỉ vì miếng ăn, điều đó phản ánh sự khốn cùng của con người khi bị cái đói dồn ép. Nhưng khi về nhà Tràng, thị trở nên e dè, dịu dàng và có phần tủi thân. Sự thay đổi này cho thấy bản chất lương thiện và khát vọng được sống như một con người bình thường của thị. Kim Lân đã khéo léo thể hiện rằng, dù trong hoàn cảnh nào, con người vẫn có những phẩm chất tốt đẹp.

Đặc biệt, nhân vật bà cụ Tứ – mẹ Tràng – là điểm sáng nhân văn sâu sắc của truyện. Khi biết con trai có vợ, bà vừa ngạc nhiên, vừa lo lắng. Nhưng sau đó, bà đã chấp nhận nàng dâu với tấm lòng bao dung. Bà hiểu hoàn cảnh khó khăn của các con nên không trách móc, mà chỉ nhẹ nhàng động viên, khuyên nhủ. Những lời nói của bà về tương lai, dù đơn giản, vẫn chứa đựng niềm hy vọng: rồi đây cuộc sống sẽ khá hơn, rồi mọi chuyện sẽ tốt đẹp. Chính niềm tin ấy đã giúp con người vượt qua hoàn cảnh khắc nghiệt.

Một chi tiết rất xúc động trong truyện là bữa cơm ngày đói. Bữa ăn chỉ có cháo loãng và nồi cháo cám – một món ăn nghèo nàn đến xót xa. Thế nhưng trong bữa cơm ấy vẫn có sự ấm áp của tình gia đình. Mọi người cố gắng nói chuyện vui vẻ, cố gắng nuôi hy vọng cho nhau. Đây chính là điểm mà Kim Lân muốn nhấn mạnh: tình người có thể giúp con người tồn tại ngay cả trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.

Cuối truyện, hình ảnh lá cờ đỏ và đoàn người đi phá kho thóc Nhật xuất hiện như một tia sáng của tương lai. Chi tiết này mang ý nghĩa biểu tượng: nó mở ra con đường giải thoát cho những con người nghèo khổ. Điều đó cho thấy tác phẩm không chỉ dừng lại ở việc phản ánh nỗi đau, mà còn hướng đến niềm tin và sự thay đổi của xã hội.

Về nghệ thuật, truyện ngắn Vợ nhặt nổi bật với tình huống truyện độc đáo, cách miêu tả tâm lý nhân vật tinh tế và ngôn ngữ gần gũi với đời sống. Kim Lân đã khắc họa rất chân thực đời sống của người nông dân, đồng thời thể hiện lòng yêu thương và sự trân trọng đối với họ.

Tóm lại, Vợ nhặt là một tác phẩm vừa mang giá trị hiện thực sâu sắc, vừa chứa đựng giá trị nhân đạo cao đẹp. Truyện cho thấy rằng, ngay cả trong hoàn cảnh đói khát và tuyệt vọng nhất, con người vẫn khao khát sống, khao khát hạnh phúc và vẫn giữ được tình thương dành cho nhau.

Bài tham khảo Mẫu 9

Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân là một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam viết về nạn đói năm 1945. Bằng ngòi bút giản dị nhưng giàu cảm xúc, Kim Lân đã tái hiện một bức tranh hiện thực đầy đau thương, đồng thời khắc họa vẻ đẹp của tình người và niềm hy vọng sống của những con người nghèo khổ.

Trước hết, bối cảnh truyện được đặt trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 – một thời điểm mà cái chết luôn rình rập khắp nơi. Kim Lân đã miêu tả khung cảnh làng quê với những hình ảnh ám ảnh: người đói nằm vật vờ bên đường, tiếng quạ kêu, mùi gây của xác chết… Tất cả tạo nên một không khí nặng nề, tang thương. Trong bối cảnh ấy, con người dường như bị đẩy đến giới hạn cuối cùng của sự sống. Chính hoàn cảnh khắc nghiệt này đã làm nổi bật ý nghĩa của việc “nhặt vợ” – một chuyện tưởng như bình thường nhưng lại trở nên đặc biệt và đầy nghịch lý.

Nhân vật Tràng là trung tâm của câu chuyện. Tràng vốn là một người dân nghèo làm nghề kéo xe bò thuê, ngoại hình xấu xí, cuộc sống bấp bênh. Trong hoàn cảnh bình thường, việc lấy vợ đã khó, huống chi trong thời kỳ đói khát. Thế nhưng, chỉ qua vài câu nói đùa và mấy bát bánh đúc, Tràng đã “nhặt” được vợ. Chi tiết này vừa mang màu sắc hài hước, vừa phản ánh sự bi thảm của xã hội: giá trị con người bị rẻ rúng đến mức chỉ cần chút thức ăn là có thể gắn bó với nhau cả đời.

Tuy nhiên, điều đáng chú ý là sau khi có vợ, Tràng dần thay đổi. Anh bắt đầu cảm thấy mình có trách nhiệm hơn với cuộc sống. Khi dẫn vợ về nhà, Tràng cảm thấy vừa vui vừa lo lắng. Niềm vui vì từ nay không còn cô độc, nhưng nỗi lo vì tương lai vẫn mờ mịt. Sự chuyển biến trong tâm lý của Tràng cho thấy khát vọng về một mái ấm gia đình – một nhu cầu rất tự nhiên nhưng cũng vô cùng quý giá trong hoàn cảnh đói khát.

Nhân vật người vợ nhặt ban đầu xuất hiện với hình ảnh khá chao chát, táo bạo. Thị sẵn sàng theo Tràng chỉ vì miếng ăn, điều đó phản ánh sự khốn cùng của con người khi bị cái đói dồn ép. Nhưng khi về nhà Tràng, thị trở nên e dè, dịu dàng và có phần tủi thân. Sự thay đổi này cho thấy bản chất lương thiện và khát vọng được sống như một con người bình thường của thị. Kim Lân đã khéo léo thể hiện rằng, dù trong hoàn cảnh nào, con người vẫn có những phẩm chất tốt đẹp.

Đặc biệt, nhân vật bà cụ Tứ – mẹ Tràng – là điểm sáng nhân văn sâu sắc của truyện. Khi biết con trai có vợ, bà vừa ngạc nhiên, vừa lo lắng. Nhưng sau đó, bà đã chấp nhận nàng dâu với tấm lòng bao dung. Bà hiểu hoàn cảnh khó khăn của các con nên không trách móc, mà chỉ nhẹ nhàng động viên, khuyên nhủ. Những lời nói của bà về tương lai, dù đơn giản, vẫn chứa đựng niềm hy vọng: rồi đây cuộc sống sẽ khá hơn, rồi mọi chuyện sẽ tốt đẹp. Chính niềm tin ấy đã giúp con người vượt qua hoàn cảnh khắc nghiệt.

Một chi tiết rất xúc động trong truyện là bữa cơm ngày đói. Bữa ăn chỉ có cháo loãng và nồi cháo cám – một món ăn nghèo nàn đến xót xa. Thế nhưng trong bữa cơm ấy vẫn có sự ấm áp của tình gia đình. Mọi người cố gắng nói chuyện vui vẻ, cố gắng nuôi hy vọng cho nhau. Đây chính là điểm mà Kim Lân muốn nhấn mạnh: tình người có thể giúp con người tồn tại ngay cả trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.

Cuối truyện, hình ảnh lá cờ đỏ và đoàn người đi phá kho thóc Nhật xuất hiện như một tia sáng của tương lai. Chi tiết này mang ý nghĩa biểu tượng: nó mở ra con đường giải thoát cho những con người nghèo khổ. Điều đó cho thấy tác phẩm không chỉ dừng lại ở việc phản ánh nỗi đau, mà còn hướng đến niềm tin và sự thay đổi của xã hội.

Về nghệ thuật, truyện ngắn Vợ nhặt nổi bật với tình huống truyện độc đáo, cách miêu tả tâm lý nhân vật tinh tế và ngôn ngữ gần gũi với đời sống. Kim Lân đã khắc họa rất chân thực đời sống của người nông dân, đồng thời thể hiện lòng yêu thương và sự trân trọng đối với họ.

Tóm lại, Vợ nhặt là một tác phẩm vừa mang giá trị hiện thực sâu sắc, vừa chứa đựng giá trị nhân đạo cao đẹp. Truyện cho thấy rằng, ngay cả trong hoàn cảnh đói khát và tuyệt vọng nhất, con người vẫn khao khát sống, khao khát hạnh phúc và vẫn giữ được tình thương dành cho nhau.

Bài tham khảo Mẫu 10

Truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Không xây dựng cốt truyện kịch tính hay những biến cố lớn, Thạch Lam tập trung miêu tả cuộc sống bình dị nhưng buồn tẻ của những con người nơi phố huyện nghèo, qua đó thể hiện niềm thương cảm sâu sắc đối với những số phận nhỏ bé.

Ngay từ đầu truyện, bức tranh phố huyện lúc chiều tàn đã được khắc họa với những nét rất tinh tế. Cảnh chợ tàn, rác rưởi, vỏ bưởi, lá nhãn… tất cả tạo nên một không gian buồn bã, tĩnh lặng. Ánh sáng dần tắt, bóng tối lan rộng, khiến cho khung cảnh trở nên trầm lắng và có phần hiu quạnh. Đây không chỉ là cảnh vật thiên nhiên mà còn phản ánh cuộc sống tù đọng của con người nơi đây.

Nhân vật trung tâm của truyện là Liên – một cô bé có tâm hồn nhạy cảm và giàu lòng trắc ẩn. Qua cái nhìn của Liên, người đọc thấy được những mảnh đời nghèo khổ xung quanh: mẹ con chị Tí bán hàng nước, bác phở Siêu, gia đình bác xẩm… Họ đều là những con người sống lay lắt, làm việc quần quật nhưng cuộc sống vẫn không khá hơn. Liên nhìn thấy tất cả và cảm nhận rõ nỗi buồn của cuộc sống ấy.

Điều đáng chú ý là Liên không chỉ quan sát mà còn cảm nhận sâu sắc nỗi khổ của người khác. Cô thương những đứa trẻ nghèo nhặt nhạnh rác ở chợ, thương những người phải thức khuya để mưu sinh. Dù bản thân cũng không khá giả, Liên vẫn luôn có sự đồng cảm với những người xung quanh. Điều này cho thấy vẻ đẹp trong tâm hồn của cô bé – một tâm hồn giàu lòng nhân ái. Điểm đặc biệt trong nghệ thuật của Thạch Lam là cách kể chuyện nhẹ nhàng, giàu chất thơ. Truyện gần như không có cốt truyện rõ ràng mà chủ yếu là dòng cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật. Ngôn ngữ giản dị nhưng giàu hình ảnh, giúp người đọc cảm nhận được bầu không khí trầm buồn của phố huyện.

Tóm lại, Hai đứa trẻ là một truyện ngắn mang đậm chất trữ tình và giàu giá trị nhân văn. Tác phẩm không chỉ phản ánh cuộc sống tẻ nhạt của phố huyện mà còn cho thấy vẻ đẹp trong tâm hồn con người – những con người dù nghèo khổ vẫn luôn hướng về ánh sáng và hy vọng.

Bài tham khảo Mẫu 11

Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Không chỉ phản ánh hiện thực xã hội tàn nhẫn, tác phẩm còn đi sâu khám phá bi kịch bị tha hóa và khát vọng được làm người của người nông dân nghèo.

Ngay từ đầu, nhân vật Chí Phèo xuất hiện với một hình ảnh đầy ám ảnh: “vừa đi vừa chửi”. Tiếng chửi của Chí không đơn thuần là hành động của một kẻ say rượu, mà là tiếng kêu tuyệt vọng của một con người bị xã hội từ chối. Chí chửi trời, chửi đời, chửi tất cả, nhưng không ai đáp lại. Điều đó cho thấy Chí đã bị cô lập hoàn toàn, không còn được công nhận là một con người trong xã hội.

Trước khi trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”, Chí Phèo từng là một anh nông dân lương thiện, hiền lành, có ước mơ giản dị: một gia đình nhỏ, sống bằng lao động. Nhưng xã hội phong kiến với những thế lực như Bá Kiến đã đẩy Chí vào tù, biến anh thành một kẻ lưu manh. Sau khi ra tù, Chí không còn là con người của ngày xưa nữa: hắn trở thành tay sai cho Bá Kiến, chuyên rạch mặt ăn vạ, gây rối và sống trong men rượu triền miên.

Bi kịch lớn nhất của Chí Phèo không chỉ là nghèo khổ mà là bị tước đoạt quyền làm người. Hắn không còn ý thức được bản thân, không còn khả năng sống như một con người bình thường. Cả làng Vũ Đại đều sợ hắn, tránh xa hắn, coi hắn như một kẻ nguy hiểm. Chính sự ghẻ lạnh ấy đã đẩy Chí ngày càng lún sâu vào con đường tha hóa.

Tuy nhiên, bước ngoặt của truyện xuất hiện khi Chí gặp Thị Nở. Nhân vật Thị Nở – một người phụ nữ xấu xí, nghèo khổ – lại chính là người đã đánh thức phần người còn sót lại trong Chí. Sau đêm gặp Thị, lần đầu tiên Chí tỉnh rượu và cảm nhận được cuộc sống xung quanh: tiếng chim hót, ánh nắng, những âm thanh quen thuộc. Đặc biệt, bát cháo hành của Thị Nở đã trở thành biểu tượng của tình người, của sự cảm thông. Nó khiến Chí nhận ra rằng mình vẫn có thể được yêu thương, vẫn có thể trở lại làm người.

Trong giây phút ấy, Chí khao khát được hoàn lương. Hắn muốn sống một cuộc đời bình thường, muốn được làm người lương thiện. Nhưng xã hội lại một lần nữa từ chối hắn. Khi Thị Nở nghe lời bà cô và cự tuyệt Chí, cánh cửa trở lại cuộc sống lương thiện của hắn hoàn toàn khép lại. Bi kịch bị đẩy lên đỉnh điểm: Chí ý thức được mình không thể trở lại làm người, và trong cơn tuyệt vọng, hắn đã giết Bá Kiến rồi tự sát.

Hành động ấy vừa là sự phản kháng, vừa là sự giải thoát. Chí Phèo chết đi, nhưng cái chết ấy tố cáo mạnh mẽ xã hội phong kiến đã đẩy con người vào bước đường cùng. Đồng thời, nó cũng thể hiện khát vọng làm người mãnh liệt: Chí thà chết chứ không chịu sống kiếp quỷ dữ.

Về nghệ thuật, Nam Cao đã xây dựng nhân vật điển hình với quá trình phát triển tâm lý phức tạp. Ngôn ngữ giản dị nhưng sắc sảo, giàu tính hiện thực. Đặc biệt, việc sử dụng độc thoại nội tâm giúp người đọc hiểu rõ những biến đổi trong tâm hồn Chí Phèo.

Tác phẩm mang giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Nó không chỉ phản ánh xã hội bất công mà còn khẳng định bản chất tốt đẹp của con người, dù bị vùi dập vẫn không hoàn toàn mất đi.

Tóm lại, Chí Phèo là một truyện ngắn xuất sắc, vừa là tiếng nói tố cáo xã hội, vừa là bản ca về khát vọng được làm người. Tác phẩm để lại trong lòng người đọc nhiều suy ngẫm về số phận con người và giá trị của tình thương.

Bài tham khảo Mẫu 12

Nguyễn Thành Long là cây bút truyện ngắn xuất sắc, nổi tiếng với các tác phẩm: Giữa trong xanh (1972), Ly Sơn mùa tỏi (1980)... Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa rút trong tập Giữa trong xanh. Truyện ca ngợi những con người sống giữa non xanh lặng lẽ nhưng vô cùng sôi nổi, hết lòng vì Tổ quốc và có trái tim nhân hậu.

Một bức tranh thiên nhiên rất đẹp, đầy chất thơ. Lào Cai miền Tây Bắc của Tổ quốc không hề hoang vu mà trái lại, rất hữu tình, tráng lệ. Khi xe vừa "trèo lên núi" thì "mây hắt từng chiếc quạt trắng lên từ các thung lũng". Trạm rừng là nơi "con suối có thác trắng xóa". Giữa màu xanh của rừng, những cây thông "rung tít trong nắng", những cây tử kinh "màu hoa cà " hiện lên đầy thơ mộng. Có lúc, cảnh tượng núi rừng vô cùng tráng lệ, đó là khi "nắng đã mạ bạc cả con đèo, đốt cháy rừng cây hừng hực như một bó đuốc lớn". Sa Pa với những rặng đào, với đàn bò lang cổ đeo chuông... như dẫn hồn du khách vào miền đất lạ kì thú.

Trên cái nền bức tranh thiên nhiên ấy, cuộc sống của con người nơi địa đầu Tổ quốc thân yêu càng thêm nồng nàn ý vị: "nắng chiều làm cho bó hoa càng thêm rực rỡ và làm cho cô gái cảm thấy mình rực rỡ theo". Có thể nói đó là những nét vẽ rất tinh tế và thơ mộng.

Trên cái nền thơ mộng hữu tình ấy là sự xuất hiện của những con người đáng yêu, đáng mến. Thiên nhiên, cảnh vật dù đẹp đến mấy cũng chỉ là cái nền tô điểm, làm cho con người trở nên đẹp hơn.

Đó là bác lái xe vui tính, cởi mở, nhiệt tình với hành khách. Đó là ông họa sĩ già say mê nghệ thuật, "xin anh em hoãn bữa tiệc đến cuối tuần sau" để ông đi thực tế chuyến cuối cùng lên Lào Cai trước lúc về hưu. Lúc nào ông cũng trăn trở "phải vẽ được một cái gì suốt đời mình thích". Đó còn là cô kĩ sư trẻ mới ra trường đã hăng hái xung phong lên Lào Cai công tác, bước qua cuộc đời học trò chật hẹp, bước vào cuộc sống bát ngát mới tinh, cái gì cùng làm cho cô hào hứng. Cô khao khát đất rộng trời cao, cô có thể đi bất kì đâu, làm bất cứ việc gì.

Và cả những nhân vật không trực tiếp xuất hiện: ông kĩ sư ở vườn rau Sa Pa suốt đời nghiên cứu và lai tạo giống su hào to củ và ngọt để phục vụ dân sinh và xuất khẩu. Đồng chí cán bộ nghiên cứu khoa học "suốt ngày dự sét", ngày đêm mưa gió hễ nghe sét là "choàng choàng chạy ra", mười một năm không một ngày xa cơ quan, "không đi đến đâu mà tìm vợ", lo làm một bản đồ sét riêng cho nước ta", cái bản đồ ấy "thật lắm của, thật vô giá". Trán đồng chí ấy cứ hói dần đi!

Và tiêu biểu nhất có lẽ là anh thanh niên 27 tuổi, làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m, “một trong những người cô độc nhất thế gian". Anh có nhiệm vụ "đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất" góp phần dự báo thời tiết, phục vụ sản xuất và chiến đấu. Những đêm bão tuyết, rét ghê gớm, một mình một đèn bão ra "vườn" lấy số liệu vào lúc nửa đêm cả thân hình anh "như bị gió chặt ra từng khúc", xong việc, trở vào nhà, "không thể nào ngủ lại được". Anh đã làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, với ý chí và nghị lực to lớn để vượt qua gian khổ và đơn độc giữa non xanh. Chí tiến thủ là một nét đẹp ở anh: đọc sách, tự học, cần cù và chịu khó: nuôi gà lấy trứng, trồng hoa... làm cho cuộc sống thêm phong phú. Rất khiêm tốn khi nói về mình, dành những lời tốt đẹp nhất ngợi ca những gương sáng nơi Sa Pa lặng lẽ. Rất hiếu khách, anh mừng rỡ, quý mến khi khách lạ đến chơi. Một bó hoa đẹp tặng cô kĩ sư trẻ, một làn trứng gà tươi hiếu ông họa sĩ già, một củ tam thất gửi biếu vợ bác lái xe mới ốm dậy... là biểu hiện của một tấm lòng yêu thương, đối xử chân tình với đồng loại. Anh sống và làm việc vì lý tưởng cao đẹp, vì quê hương đất nước thân yêu, như anh thổ lộ với ông họa sĩ già: "Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc?". Vì thế sau khi vẽ xong chân dung anh cán bộ khí tượng, họa sĩ nghĩ về anh: "Người con trai ấy đáng yêu thật…”

Tóm lại, những nhân vật trên đây là hình ảnh những con người mới đã sống đẹp, giàu tình nhân ái, hết lòng phục vụ đất nước và nhân dân, sống nơi lặng lẽ non xanh nhưng họ chẳng lặng lẽ chút nào! Trái lại, cuộc đời của họ vô cùng sôi nổi, đầy tâm huyết và giàu nhiệt tình cách mạng. Đúng như Bác Hồ đã nói: "Đất nước ta là một vườn hoa đẹp. Mỗi người là một bông hoa đẹp". Nhà văn Nguyễn Thành Long đã dành những lời tốt đẹp nhất nói về những con người đang sống và cống hiến giữa Sa Pa lặng lẽ. Mỗi người nơi non xanh ấy là một gương sáng, là một bông hoa ngát hương.

Truyện Lặng lẽ Sa Pa là một bài thơ bằng văn xuôi rất trong sáng, trữ tình. Trên cái nền tráng lệ của thiên nhiên rừng, suối Sa Pa hiện lên bao con người đáng yêu. Mỗi người chỉ một vài nét vẽ mà tác giả đã lột tả được tâm hồn, tính cách, dáng vẻ của họ. Nguyễn Thành Long rất chân thực trong kể và tả, nhờ thế mà ta thấy những nhân vật như bác lái xe, ông họa sĩ già, cô kĩ sư trẻ, anh thanh niên... rất gần gũi và mến yêu.

Bài tham khảo Mẫu 13

Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của văn học hiện thực trước Cách mạng tháng Tám. Tác phẩm không chỉ phản ánh xã hội nông thôn đầy bất công mà còn đi sâu vào bi kịch tinh thần của con người – bi kịch bị tước đoạt quyền làm người. Qua hình tượng nhân vật Chí Phèo, Nam Cao đã đặt ra một câu hỏi lớn: điều gì khiến một con người lương thiện trở thành quỷ dữ, và liệu họ có còn cơ hội trở lại làm người hay không?

Mở đầu truyện, Chí Phèo xuất hiện trong một trạng thái rất đặc biệt: “vừa đi vừa chửi”. Tiếng chửi của Chí không đơn giản là biểu hiện của sự say rượu mà là một hình thức giao tiếp tuyệt vọng. Chí chửi trời, chửi đời, chửi tất cả làng Vũ Đại, nhưng không một ai đáp lại. Điều đó cho thấy hắn đã bị cô lập hoàn toàn, bị xã hội gạt ra bên lề. Tiếng chửi ấy chính là tiếng kêu đau đớn của một con người không còn được công nhận là con người.

Ít ai biết rằng, trước khi trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”, Chí Phèo từng là một người nông dân hiền lành, lương thiện. Hắn có một ước mơ rất giản dị: có một mái ấm gia đình, sống bằng lao động chân chính. Nhưng xã hội phong kiến với những thế lực tàn bạo như Bá Kiến đã đẩy Chí vào tù một cách oan uổng. Nhà tù thực dân không chỉ giam giữ thể xác mà còn làm tha hóa tâm hồn con người. Khi trở về, Chí không còn là anh nông dân hiền lành ngày nào nữa mà trở thành một kẻ lưu manh, chuyên rạch mặt ăn vạ, sống trong men rượu và những cơn say triền miên.

Bi kịch của Chí Phèo không chỉ nằm ở sự tha hóa về nhân cách mà còn ở việc bị tước đoạt quyền làm người. Hắn không còn khả năng sống như một con người bình thường, không được xã hội chấp nhận. Người dân làng Vũ Đại đều sợ hãi và tránh xa hắn. Chính sự xa lánh ấy đã đẩy Chí vào vòng luẩn quẩn của tội lỗi và cô độc. Hắn uống rượu để quên đi thực tại, nhưng càng uống lại càng lún sâu vào bi kịch.

Bước ngoặt quan trọng của truyện xảy ra khi Chí gặp Thị Nở. Nhân vật Thị Nở tuy xấu xí, nghèo khổ nhưng lại có một tấm lòng chân thành. Sau đêm gặp gỡ, Chí lần đầu tiên tỉnh rượu và cảm nhận được những âm thanh quen thuộc của cuộc sống: tiếng chim hót, tiếng người nói chuyện. Đó là dấu hiệu cho thấy phần người trong Chí đang dần thức tỉnh. Đặc biệt, bát cháo hành của Thị Nở đã trở thành chi tiết mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Nó không chỉ là một món ăn mà còn là biểu hiện của tình người, của sự quan tâm, chăm sóc. Lần đầu tiên sau bao năm, Chí được đối xử như một con người.

Chính từ đó, Chí bắt đầu khao khát được hoàn lương. Hắn muốn trở lại làm người, muốn sống một cuộc sống bình thường, được hòa nhập với xã hội. Đây là điểm sáng nhân đạo của tác phẩm: dù bị tha hóa đến đâu, con người vẫn luôn có khả năng hướng thiện. Tuy nhiên, bi kịch lại tiếp tục xảy ra khi Thị Nở nghe lời bà cô và từ chối Chí. Sự cự tuyệt ấy không chỉ là sự từ chối của một cá nhân mà còn là sự từ chối của cả xã hội đối với Chí.

Bị dồn vào đường cùng, Chí Phèo rơi vào tuyệt vọng. Hắn nhận ra rằng mình không còn con đường nào để trở lại làm người. Trong cơn đau đớn, hắn đã tìm đến Bá Kiến – kẻ đã gây ra bi kịch cho cuộc đời mình – và giết hắn. Sau đó, Chí tự sát. Hành động ấy vừa là sự phản kháng, vừa là sự giải thoát. Chí chết đi, nhưng cái chết ấy đã tố cáo mạnh mẽ xã hội phong kiến tàn bạo, đã đẩy con người vào bước đường cùng.

Về nghệ thuật, Nam Cao đã xây dựng một nhân vật điển hình với quá trình phát triển tâm lý phức tạp. Ngôn ngữ truyện giản dị nhưng giàu sức biểu cảm, kết hợp giữa hiện thực và phân tích nội tâm. Đặc biệt, nghệ thuật miêu tả tâm lý đã giúp người đọc hiểu rõ những biến đổi trong tâm hồn Chí Phèo.

Tác phẩm mang giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Nó không chỉ phản ánh xã hội bất công mà còn khẳng định bản chất tốt đẹp của con người. Đồng thời, truyện cũng đặt ra một vấn đề lớn: xã hội phải làm gì để con người được sống đúng với bản chất của mình?

Tóm lại, Chí Phèo là một kiệt tác của văn học Việt Nam. Qua hình tượng nhân vật Chí Phèo, Nam Cao đã thể hiện sâu sắc bi kịch của con người trong xã hội cũ, đồng thời khẳng định khát vọng được làm người – một khát vọng thiêng liêng và bất diệt.

Bài tham khảo Mẫu 14

Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một tác phẩm tiêu biểu viết về người nông dân trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Qua nhân vật ông Hai, tác giả đã thể hiện sâu sắc tình yêu làng quê gắn liền với tình yêu đất nước – một bước chuyển biến quan trọng trong nhận thức của người nông dân Việt Nam.

Nhân vật trung tâm của truyện là ông Hai – một người nông dân có tình yêu làng tha thiết. Đối với ông, làng Chợ Dầu không chỉ là nơi sinh sống mà còn là niềm tự hào, là danh dự. Ông luôn khoe về làng mình với niềm hãnh diện: làng có phong trào cách mạng mạnh, có nhiều người tham gia kháng chiến. Tình yêu làng của ông không đơn thuần là tình cảm cá nhân mà còn gắn liền với niềm tự hào về tinh thần yêu nước.

Khi phải tản cư, ông Hai luôn nhớ về làng. Ông theo dõi tin tức về làng, mong ngóng từng ngày được trở về. Nhưng bi kịch xảy ra khi ông nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc. Tin tức ấy như một cú đánh mạnh vào tâm lý của ông. Ông cảm thấy xấu hổ, đau đớn và tuyệt vọng. Ông không dám ra ngoài, không dám gặp ai vì sợ bị khinh bỉ. Qua đó, Kim Lân đã miêu tả rất tinh tế tâm lý nhân vật, thể hiện tình yêu làng sâu sắc đến mức nào.

Trong những ngày đó, ông Hai sống trong trạng thái giằng xé nội tâm. Ông yêu làng, nhưng nếu làng theo giặc thì ông phải làm sao? Đây là một tình huống tâm lý rất đặc sắc, thể hiện sự xung đột giữa tình cảm cá nhân và trách nhiệm với đất nước. Cuối cùng, ông đã đưa ra một quyết định dứt khoát: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Câu nói ấy thể hiện sự trưởng thành trong nhận thức của ông Hai: tình yêu làng phải đặt dưới tình yêu nước.

Khi tin đồn được cải chính, ông Hai vui sướng tột độ. Ông lại tiếp tục khoe về làng mình, nhưng lần này, niềm tự hào ấy mang ý nghĩa sâu sắc hơn. Nó không chỉ là niềm tự hào về quê hương mà còn là niềm tự hào về tinh thần kháng chiến, về lòng yêu nước. Qua đó, Kim Lân đã khẳng định: người nông dân Việt Nam đã có sự chuyển biến lớn trong nhận thức, từ tình yêu làng quê đến tình yêu đất nước.

Về nghệ thuật, truyện thành công ở việc xây dựng tình huống tâm lý độc đáo, miêu tả nội tâm nhân vật sâu sắc. Ngôn ngữ mang đậm màu sắc nông thôn, giản dị nhưng giàu sức biểu cảm. Kim Lân đã khéo léo kết hợp giữa kể chuyện và miêu tả tâm lý, tạo nên một tác phẩm giàu cảm xúc.

Tác phẩm mang giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Nó không chỉ phản ánh cuộc sống của người nông dân trong thời kỳ kháng chiến mà còn ca ngợi tinh thần yêu nước của họ. Đồng thời, truyện cũng cho thấy sự gắn bó giữa cá nhân và cộng đồng, giữa quê hương và đất nước.

Tóm lại, Làng là một truyện ngắn giàu ý nghĩa. Qua nhân vật ông Hai, Kim Lân đã thể hiện sâu sắc tình yêu quê hương, đất nước của người nông dân Việt Nam. Tác phẩm góp phần khẳng định vai trò của người nông dân trong sự nghiệp kháng chiến và xây dựng đất nước.

Bài tham khảo Mẫu 15

Truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành là một tác phẩm tiêu biểu của văn học kháng chiến chống Mỹ, ca ngợi tinh thần bất khuất của con người Tây Nguyên trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Qua hình tượng rừng xà nu và nhân vật Tnú, tác giả đã khắc họa sâu sắc con đường đấu tranh tất yếu của nhân dân.

Ngay từ đầu, hình ảnh rừng xà nu đã xuất hiện như một biểu tượng xuyên suốt. Rừng xà nu không chỉ là bối cảnh mà còn mang ý nghĩa tượng trưng cho sức sống mãnh liệt của con người Tây Nguyên. Những cây xà nu bị bom đạn tàn phá, bị cháy, bị đổ, nhưng vẫn tiếp tục mọc lên, vươn cao, xanh tốt. Hình ảnh ấy gợi liên tưởng đến con người nơi đây: dù bị áp bức, đau thương, họ vẫn kiên cường đứng lên đấu tranh.

Nhân vật trung tâm của truyện là Tnú – một người con tiêu biểu của làng Xô Man. Ngay từ nhỏ, Tnú đã thể hiện lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm. Anh tham gia nuôi giấu cán bộ, làm liên lạc, chấp nhận nguy hiểm để bảo vệ cách mạng. Nhưng con đường của Tnú không hề bằng phẳng. Anh bị giặc bắt, bị tra tấn dã man, chứng kiến vợ con bị giết hại ngay trước mắt. Bi kịch ấy đã đẩy Tnú vào nỗi đau tột cùng.

Chi tiết đôi bàn tay của Tnú bị đốt là một trong những hình ảnh ám ảnh nhất của tác phẩm. Đôi bàn tay ấy tượng trưng cho sức lao động, cho cuộc sống, nhưng đã bị kẻ thù hủy hoại. Tuy nhiên, chính từ nỗi đau ấy, Tnú đã nhận ra một chân lý: “Chúng nó cầm súng, mình phải cầm giáo”. Đó là sự thức tỉnh về con đường đấu tranh vũ trang – con đường duy nhất để giành lại tự do.

Bên cạnh Tnú, các nhân vật khác như cụ Mết, Mai, Dít cũng góp phần làm nổi bật tinh thần đấu tranh của cộng đồng. Cụ Mết là người giữ gìn truyền thống, là tiếng nói của lịch sử và sức mạnh tập thể. Dít – thế hệ trẻ – tiếp nối con đường của Tnú, thể hiện sự kế thừa giữa các thế hệ. Qua đó, tác giả khẳng định: cuộc đấu tranh không phải của riêng một cá nhân mà là của cả cộng đồng.

Về nghệ thuật, truyện mang đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, mang âm hưởng hùng tráng. Kết cấu truyện lồng ghép giữa hiện tại và quá khứ, tạo nên chiều sâu cho câu chuyện. Đặc biệt, hình tượng rừng xà nu được xây dựng xuyên suốt, tạo nên sự thống nhất về ý nghĩa.

Tác phẩm mang giá trị hiện thực và tư tưởng sâu sắc. Nó không chỉ phản ánh cuộc đấu tranh gian khổ mà còn khẳng định chân lý: muốn có tự do, con người phải đứng lên đấu tranh. Đồng thời, truyện cũng ca ngợi sức mạnh của tinh thần đoàn kết và ý chí kiên cường.

Tóm lại, Rừng xà nu là một bản anh hùng ca về con người Tây Nguyên. Qua hình tượng Tnú và rừng xà nu, Nguyễn Trung Thành đã thể hiện sâu sắc sức sống bất diệt của dân tộc Việt Nam trong chiến tranh.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu
BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...