1001+ bài văn nghị luận văn học hay nhất cho mọi thể loại
200+ bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ 7 chữ Top 45 Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích một tác phẩm thơ 7 chữ hay nhất>
I. Mở bài - Giới thiệu ngắn gọn tác giả, phong cách sáng tác. - Giới thiệu tác phẩm: Hoàn cảnh sáng tác, cảm nhận chung
Dàn ý
I. Mở bài
- Giới thiệu ngắn gọn tác giả, phong cách sáng tác.
- Giới thiệu tác phẩm: Hoàn cảnh sáng tác, cảm nhận chung
- Nêu vấn đề cần nghị luận
II. Thân bài
- Luận điểm 1: Phân tích nội dung và hình tượng thơ
+ Phân tích từng đoạn/câu thơ: bám sát từ ngữ, hình ảnh thơ 7 chữ
+ Làm rõ tâm trạng, cảm xúc của chủ thể trữ tình.
+ Sử dụng dẫn chứng (câu thơ) và giảng giải, cắt nghĩa.
- Luận điểm 2: Phân tích đặc sắc nghệ thuật
+ Phân tích vần, nhịp điệu thơ 7 chữ
+ Các biện pháp tu từ (ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, đối...).
+ Ngôn ngữ thơ: độc đáo, giàu hình ảnh, sức gợi.
- Luận điểm 3: Đánh giá, mở rộng
+ Tổng hợp lại giá trị nội dung
+ Đóng góp của tác phẩm/tác giả.
III. Kết bài
- Khẳng định lại giá trị trường tồn của bài thơ.
- Nêu cảm nghĩ, ấn tượng sâu sắc của bản thân.
Bài siêu ngắn Mẫu 1
Thi ca hiện đại Việt Nam nổi bật với những bài thơ 7 chữ giàu cảm xúc và hình ảnh biểu tượng. “Tràng Giang” của Huy Cận là một tác phẩm tiêu biểu, khắc họa vẻ đẹp mênh mông, cô tịch của dòng sông miền Bắc, đồng thời phản ánh tâm trạng cô đơn, bâng khuâng của con người trước thiên nhiên và thời cuộc.
Ngay những câu mở đầu, tác giả đã gợi hình ảnh dòng sông vô tận: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp / Con thuyền xuôi mái nước song song”. Hình ảnh vừa hiện thực vừa biểu tượng, tạo cảm giác nhỏ bé, lạc lõng của con người giữa không gian rộng lớn, gợi nỗi nhớ quê hương và trăn trở về đời sống. Thiên nhiên trong thơ Huy Cận không chỉ là cảnh vật mà còn phản chiếu cảm xúc, tâm trạng nhân vật trữ tình, khiến người đọc vừa chiêm nghiệm vẻ đẹp vừa thấm thía nỗi cô đơn.
Ngôn từ giản dị, nhịp điệu linh hoạt, kết hợp với điệp từ “buồn điệp điệp” tạo âm hưởng trầm lắng, sâu sắc. Qua đó, Huy Cận thể hiện sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên, đồng thời khơi gợi nỗi suy tư về thời gian, cuộc đời và giá trị con người.
Như vậy, “Tràng Giang” vừa là bức tranh thiên nhiên mênh mông, vừa là khúc ca trữ tình về nỗi cô đơn và suy tưởng. Bài thơ để lại ấn tượng sâu sắc về vẻ đẹp của dòng sông quê hương và tâm hồn người Việt, là minh chứng điển hình cho sức sống và chiều sâu của thơ 7 chữ hiện đại.
Bài siêu ngắn Mẫu 2
Bài thơ “Xuân về” của Nguyễn Bính là bức tranh sinh động về mùa xuân trên làng quê Bắc Bộ, thể hiện niềm vui sống, tình yêu thiên nhiên và hạnh phúc giản dị của con người. Qua nhịp điệu uyển chuyển, ngôn từ nhẹ nhàng, tác giả đã khắc họa một mùa xuân vừa tươi vui vừa gần gũi.
Hình ảnh cây cối nảy lộc, chim chóc ríu rít, kết hợp với sinh hoạt đời thường như mâm cơm, tiếng cười trẻ thơ, hương bánh chưng, lá đào, tạo nên không gian đầm ấm và tràn đầy sức sống. Những chi tiết tưởng giản dị nhưng giàu sức gợi khiến thiên nhiên và con người hòa quyện, thể hiện niềm hạnh phúc bình dị, tình yêu quê hương và sự gắn bó với đời sống làng quê.
Ngôn từ bài thơ giản dị, nhịp điệu nhẹ nhàng và âm hưởng trữ tình dân gian giúp người đọc cảm nhận được không khí vui tươi, ấm áp của mùa xuân. Hình ảnh và âm thanh trong thơ không chỉ tả cảnh mà còn gợi cảm xúc, khiến bức tranh thiên nhiên vừa hiện thực vừa giàu tính biểu tượng.
Tóm lại, “Xuân về” là bài thơ 7 chữ giàu trữ tình, mang lại cảm giác bình yên, vui sống và nhắc nhở con người biết trân trọng vẻ đẹp giản dị, trong sáng của đời sống làng quê. Qua đó, Nguyễn Bính ca ngợi niềm vui, hạnh phúc và tình yêu thiên nhiên, quê hương, tạo nên một tác phẩm gần gũi mà sâu sắc.
Bài siêu ngắn Mẫu 3
Bài thơ “Tiếng đầu con gọi” của Tô Hà là khúc ca về tình mẫu tử thiêng liêng, thể hiện hạnh phúc, xúc động và niềm yêu thương vô điều kiện của người mẹ khi nghe tiếng con cất lên lần đầu. Tiếng gọi ấy không chỉ là âm thanh mà còn là biểu tượng của sự sống, niềm vui và trách nhiệm làm cha mẹ.
Tác giả khắc họa cảm xúc người mẹ qua những chi tiết đời thường: nghe tiếng khóc, tiếng cười, cử chỉ của con. Ngôn từ giản dị, nhịp điệu uyển chuyển khiến cảm xúc vừa chân thực, vừa dạt dào, tạo không gian ấm áp, gần gũi. Bài thơ khéo léo kết hợp hiện thực với biểu tượng, khiến tiếng gọi của con vừa cụ thể vừa gợi cảm xúc sâu lắng về tình mẫu tử bất diệt.
Ngoài ý nghĩa cá nhân, bài thơ còn thể hiện giá trị nhân văn: nhấn mạnh sự gắn bó giữa các thế hệ, trách nhiệm và tình yêu thương trong gia đình. Tiếng gọi đầu tiên của trẻ thơ là nguồn cảm hứng, là niềm hạnh phúc và là lời nhắc nhở về giá trị thiêng liêng của tình mẫu tử.
Như vậy, “Tiếng đầu con gọi” là bài thơ 7 chữ giàu cảm xúc, thể hiện vẻ đẹp thiêng liêng của tình mẫu tử và giá trị tinh thần của gia đình. Qua hình ảnh tiếng gọi đầu đời, Tô Hà đã gửi gắm thông điệp về yêu thương, trách nhiệm và sự gắn kết giữa con người, khiến bài thơ vừa xúc động vừa ý nghĩa.
Bài tham khảo Mẫu 1
Nguyễn Bính là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới, nhưng thơ ông lại mang một sắc thái rất riêng: đậm đà hồn quê, mộc mạc mà sâu lắng, giàu cảm xúc truyền thống. Thơ Nguyễn Bính thường hướng về làng quê Việt Nam với những phong tục, nếp sống, cảnh sắc quen thuộc, đặc biệt là những rung động tinh tế của tâm hồn con người trước thiên nhiên và thời gian. Bài thơ “Xuân về” là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy, khắc họa bức tranh mùa xuân nơi thôn quê đồng thời gửi gắm những cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến của con người trước sự đổi thay của đất trời.
Ngay từ nhan đề “Xuân về” , bài thơ đã gợi lên cảm giác chuyển động nhẹ nhàng, êm đềm. “Xuân” không chỉ là một mùa trong năm mà còn là biểu tượng của sự sống, của khởi đầu mới, của hi vọng và tuổi trẻ. “Về” gợi cảm giác thân thuộc, gần gũi, như thể mùa xuân là một người quen lâu ngày trở lại, mang theo hơi thở ấm áp cho không gian và lòng người. Chính cách đặt nhan đề giản dị mà gợi cảm ấy đã mở ra một thế giới thơ rất đỗi quen thuộc, đậm chất làng quê Bắc Bộ.
Bức tranh xuân trong thơ Nguyễn Bính hiện lên trước hết qua những hình ảnh thiên nhiên gần gũi, dân dã. Không phải là những cảnh sắc tráng lệ, rực rỡ, mùa xuân trong “Xuân về” được cảm nhận qua sự thay đổi tinh tế của cỏ cây, hoa lá, của không gian thôn xóm. Những hàng cây, bờ giậu, vườn tược, cánh đồng… đều khoác lên mình chiếc áo mới. Thiên nhiên không ồn ào, không phô trương mà chuyển mình một cách âm thầm, nhẹ nhàng, rất đúng với nhịp sống chậm rãi của làng quê Việt Nam. Qua đó, người đọc cảm nhận được vẻ đẹp bình dị mà sâu sắc của mùa xuân, một vẻ đẹp gắn liền với đời sống lao động và sinh hoạt của người dân quê.
Không chỉ thiên nhiên, con người trong bài thơ cũng hòa mình vào nhịp xuân ấy. Hình ảnh những cô gái thôn quê, những con người bình dị xuất hiện với vẻ đẹp duyên dáng, kín đáo. Nguyễn Bính thường dành nhiều tình cảm cho hình ảnh người phụ nữ nông thôn, và trong “Xuân về” , họ hiện lên như một phần không thể thiếu của bức tranh xuân. Con người không đứng ngoài thiên nhiên mà trở thành trung tâm của cảnh sắc, góp phần làm cho mùa xuân thêm sống động, ấm áp. Chính sự gắn bó hài hòa giữa con người và thiên nhiên đã tạo nên nét đặc trưng trong thơ Nguyễn Bính: một thế giới thơ mang đậm chất quê, giàu tính nhân văn.
Bên cạnh bức tranh xuân tươi sáng, bài thơ còn ẩn chứa những rung động tinh tế trong tâm hồn thi sĩ. Mùa xuân về không chỉ đem lại niềm vui mà còn khơi gợi những nỗi niềm bâng khuâng, xao xuyến. Đó là cảm giác vừa vui mừng trước sự hồi sinh của đất trời, vừa man mác buồn trước dòng chảy của thời gian. Xuân đến cũng đồng nghĩa với việc con người thêm một tuổi, tuổi trẻ dần trôi qua, để lại trong lòng thi nhân những suy tư thầm kín. Nguyễn Bính không trực tiếp bộc lộ nỗi buồn, nhưng cảm xúc ấy lan tỏa nhẹ nhàng qua giọng thơ trầm lắng, qua những hình ảnh gợi tả đầy tinh tế.
Về mặt nghệ thuật, “Xuân về” thể hiện rõ phong cách thơ Nguyễn Bính. Thể thơ quen thuộc, nhịp điệu êm ái, giàu tính dân gian khiến bài thơ dễ đi vào lòng người. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị nhưng giàu sức gợi, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dân quê. Nguyễn Bính không sử dụng những hình ảnh cầu kỳ hay từ ngữ hoa mỹ, mà bằng chính sự chân thành, ông đã tạo nên một thế giới thơ giàu cảm xúc. Đặc biệt, việc sử dụng hình ảnh quen thuộc của làng quê Bắc Bộ giúp bài thơ mang đậm bản sắc dân tộc, vừa gần gũi vừa sâu sắc.
Một điểm đáng chú ý khác là giọng điệu trữ tình nhẹ nhàng, da diết. Bài thơ không có những cao trào mạnh mẽ mà như một dòng chảy êm đềm, đưa người đọc đi từ cảm nhận về thiên nhiên đến những rung động nội tâm. Chính sự lặng lẽ ấy lại tạo nên sức ám ảnh lâu dài, khiến người đọc sau khi khép lại trang thơ vẫn còn vương vấn dư âm của mùa xuân quê hương.
Có thể nói, “Xuân về” không chỉ là bài thơ tả cảnh mùa xuân mà còn là lời tâm sự kín đáo của Nguyễn Bính về tình yêu quê hương, đất nước và con người. Qua bức tranh xuân giản dị mà giàu sức gợi, nhà thơ đã thể hiện niềm trân trọng đối với những giá trị truyền thống của làng quê Việt Nam, đồng thời bộc lộ tâm hồn nhạy cảm, tinh tế trước sự vận động của thời gian và cuộc sống.
Tóm lại, “Xuân về” của Nguyễn Bính là một bài thơ giàu giá trị cả về nội dung và nghệ thuật. Tác phẩm đã khắc họa thành công bức tranh mùa xuân nơi thôn quê với vẻ đẹp mộc mạc, yên bình, đồng thời gửi gắm những cảm xúc bâng khuâng, sâu lắng của thi nhân. Bài thơ không chỉ giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp của mùa xuân mà còn khơi gợi tình yêu quê hương, yêu cuộc sống bình dị – những giá trị bền vững trong tâm hồn con người Việt Nam.
Bài tham khảo Mẫu 2
Ko biết mùa xuân có tự bao giờ và thơ xuân có tự bao giờ, chỉ biết người ta sinh ra đã có mùa xuân đẹp đầy sức sống và thổi vào các hồn thơ, sống trong cuộc đời, nếu thiếu đi mùa xuân, thiếu đi những câu thơ xuân thì thật buồn. Hôm qua, hôm nay và ngày mai mốt lại có những vần thơ xuân cho con người, cho cuộc sống. Và hôm qua đã có Hàn Mặc Tử với “Mùa xuân chín” lúc xúc cảm trong con người lữ khách đó đã tới độ tràn đầy.
Nói tới mùa xuân, có người nào ko hiểu đó là những phút rộn rực nhất của cuộc đời, của cuộc sống. Mùa xuân mỗi khoảnh khắc một vẻ, lúc là “mùa xuân nho nhỏ”, lúc là “mùa xuân xanh”… và đây “Mùa xuân chín” nghe vừa mới, vừa sôi nổi, vừa có một sức sống dồn nén đang thầm nảy nở giống như cái mới, cái lãng mạn và khát khao trong tâm hồn Hàn Mạc Tử.
Mỗi dòng thơ đều phảng phất hơi xuân, đều thấm đượm cái đẹp của tâm hồn thi sĩ. Mùa xuân tính từ lúc cái nắng mới lạ thường:
“Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lí bóng xuân sang”.
Đúng là nắng xuân, chẳng phải tia nắng, hạt nắng, chẳng phải giọt nắng nhưng là “làn nắng”. Chữ “làn” như gợi một hơi thở nhẹ nhõm, nắng như mỏng tanh, mềm mại trải đều trong thơ và trong ko gian. Làn nắng lại “ửng” lên trong “khói mơ tan”. Cảnh sắc nhẹ nhõm, đẹp dân dã nhưng huyền diệu. Sương khói quyện với nắng; cái “ửng” của nắng được tôn lên trong làn khói mơ mòng đang “tan” đó. Ngòi bút thi sĩ vẫn hướng tới một nét thơ truyền thống, cổ điển, cảnh như có hồn, như có tình tràn đầy. Trân trọng đón lấy cái nắng mới tinh khiết đó là “Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng’!. Sự hô ứng trong vần thơ tạo ra một xúc cảm ấm áp, cảnh vật tương hợp hài hòa, đầy thơ mộng. Vài nét chấm phá đơn sơ nhưng tinh tế gợi cảm, dung dị nhưng đáng yêu. Chỉ có “đôi mái nhà tranh” hiện lên trong “làn nắng ửng” nhưng vẫn gợi lên một sức sống đang lay động, dân dã bình yên rất thân thuộc với mọi người. Nắng như đang rắc lên “đôi mái nhà tranh” chút sắc xuân và hương xuân: “Sột soạt gió trêu tà áo biếc”. Cái âm thanh của gió “trêu” tà áo và cái gam màu “biếc” của, lá ây là cái tình xuân. Một chữ “trêu” đáng yêu quá, thân yêu quá, có gì như mang hương sắc đồng quê từ những câu ca dao, hát ghẹo tình tứ thuở nào cứ ngân nga mãi trong lòng ta… Gió cũng chọn áo nhưng “trêu”, phải chọn áo biếc mới thật thơ, thật đẹp. Mùa xuân là như thế, “chín” là như thế!
Từ cụ thể, từ làn nắng, từ mái nhà tranh, từ gió rồi mới nói chung: “Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang”. Câu thơ có một sự ngưng đọng, ngập ngừng xúc cảm nhẹ nhõm, bâng khuâng, vương vấn đón “bóng xuân sang”, xúc cảm ngưng tụ như nín thở đó ẩn mình vào dấu chấm giữa dòng thơ. Mạch thơ ngập ngừng như mạch xúc cảm. Bên giàn thiên lí, mùa xuân đã sang. Mùa xuân nhẹ nhõm bước… như có thể cầm được, có thể ngắm được ngay trước mắt mỗi chúng ta.
Sau dấu chấm (.), sau cái ngưng tụ và run rẩy như dây đàn căng lên trong tâm hồn thi sĩ thì mùa xuân ào tới:
“Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời,
Bao cô thôn nữ hát trên đồi”.
Cỏ như xanh mãi, tươi mãi trong ko gian mênh mông, rộng lớn. Hình ảnh ẩn dụ “sóng cỏ” và ba chữ “gợn tới trời” gợi tả làn cỏ xanh dập dờn trong làn gió xuân nhè nhẹ thổi. Chẳng biết ngoài kia là sóng cỏ thật , hay lòng thi sĩ cỏ xanh tươi mới gợn thành “sóng” như thế ? Mùa xuân bao giờ chẳng có màu xanh của cỏ. “Cỏ xanh như khói bến xuân tươi” (Độ đầu xuân thảo lục như yên – Nguyễn Trãi). “Cỏ non xanh tận chân trời” (Nguyễn Du)… Gam màu “xanh tươi” đầy sức sống yên bình đó trong thơ Hàn Mặc Tử cứ gợn tới trời”, trải dài mãi như ko dứt, trải mãi, ngâm vào hồn thơ. Trong sắc xuân đó, tình cảm con người cũng tới độ chín. Tiếng hát giữa mùa xuân thân quen quá, mến thương quá. Một nét đẹp truyền thống của dân tộc, đẹp như ca dao, dân ca, như lễ hội mùa xuân muôn thuở của cái xứ sở này được nói tới qua tiếng hát “vắt vẻo” và “thơ ngây” của những nàng xuân, của bao cô thôn nữ. Câu thơ gợi lên cái “chín” trong hồn bao cô thôn nữ qua âm thanh “vắt vẻo”, trong trẻo, tươi mát của câu hát giao duyên, của trai gái nơi đồng quê, mộc mạc nhưng tình tứ. Tâm hồn nhạy cảm, yêu cuộc sống thiết tha của thi sĩ Hàn Mặc Tử đã bắt vào lời hát đó nhiều xao xuyến. Mùa xuân mới thực sự “chín” lúc có con người và có dư vang tiếng hát:
“Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,
Hổn hển như lời của nước mây
Thầm thì với người nào ngồi dưới trúc
Nghe ra ý vị và thơ ngây”.
Âm thanh đọng lại trong từng tiếng thơ, độ ngân rung, “vắt vẻo” hòa nhịp với âm trầm “hổn hển” trình bày một sự chuyển đổi cảm giác rất tinh tế, tài tình. Tâm hồn thi sĩ đã hòa nhập hẳn vào cái toàn cầu âm thanh mùa xuân đó.
Tiếng ca như vút lên cao, như ngập ngừng, như lưu luyến giữa “lưng chừng núi”. Dư vang tiếng hát dường như giăng mắc, rung lên “vắt vẻo” gợi lên nhiều xao xuyến bâng khuâng trong lòng thi sĩ. Tiếng hát “hổn hển” được so sánh “với lời của nước mây”, lời của tự nhiên. Hai tiếng “hổn hển” như nhịp thở gấp gáp, vội vã đầy hương xuân, tình xuân, xúc cảm vừa thực vừa mơ tới lạ kì. Lời hát của các cô thôn nữ sao nhưng đáng yêu thế, như hút hồn người, như tràn trề cả ko gian, góp phần làm nên một “mùa xuân chín”. Và còn có tiếng thầm thì “thầm thì với người nào…” dưới bóng trúc, hẳn là tâm tình, là thân yêu rồi. “Vắt vẻo”, “hổn hển”, “thầm thì” là ba cung bậc của ba âm thanh mùa xuân đang chín, thấm sâu vào hồn người tới nhẹ nhõm lắng dịu, tràn đầy thương yêu. Sự phong phú về nhạc điệu và phức điệu của khúc hát đồng quê, làm say mê mọi người, để rồi cùng thi sĩ bâng khuâng cảm nhận: “Nghe ra ý vị và thơ ngây…”.
Tiếng hát mùa xuân dân dã, tình tứ và đáng yêu quá, sắc xuân, hương xuân, tình xuân “đang chín” dần trong lòng thôn nữ, bỗng ngập ngừng như có sự hẫng hụt, băn khoăn:
“Ngày mai trong đám xuân xanh đó,
Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi”.
“Đám xuân xanh đó” là các cô thôn nữ đang hát, đang “thầm thì với người nào ngồi dưới trúc” kia sẽ chín cùng mùa xuân và sẽ “theo chồng bỏ cuộc chơi… Tự nhiên và lòng người như quyến luyến mùa xuân dần trôi qua, tuổi xuân hồn nhiên dần trôi qua. Hàn Mặc Tử như chợt thấy buồn, thấy hẫng hụt, bâng khuâng, như mất mát đi một cái gì trong lòng lúc mùa xuân đang chín… “Xuân đang tới tức là xuân đương qua – Xuân còn non tức là xuân sẽ già” (Xuân Diệu).
Hàn Mặc Tử chính là người lữ khách đi qua mùa xuân gặp cái ý vị của mùa xuân: “Khách xa gặp lúc mùa xuân chín…”. Một nét bút truyền thống cổ điển “xuân hướng lão” xen lẫn cái hiện đại, mới mẻ làm cho ý thơ thêm đặm đà hơn.
Gặp lúc mùa xuân chín đó nhưng thổn thức:
“Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng
Chị đó năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”.
Hình ảnh của kí ức hiện lên một thoáng buồn đẹp và trải rộng mênh mông xa vắng. Thi sĩ nhớ tới con người như khát khao một tình người, một tình quê. Mỗi một nổi nhớ đều rất bâng khuâng. Nhớ một công việc cụ thể: “gánh thóc” trong một ko gian cụ thể: “Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”. Chỉ có “chị đó” là người đọc ko thể biết nhưng chỉ có tác giả mới biết để nhưng “sực nhớ”, nhưng thầm hỏi. Nhưng man mác sợ “mùa xuân chín” đó sẽ trôi qua. Hình như đó là néi thơ Hàn Mặc Tử, là tâm hồn Hàn Mặc Tử khát khao giao cảm với đời nhưng luôn có một nỗi niềm lẻ loi, trống vắng, hẫng hụt như thế.
“Mùa xuân chín” là một bài thơ xuân rất hay, là một bức tranh xuân mới nhất, trong sáng, rộn rực, say mê, thơ mộng nhưng thoáng buồn nhất. Hàn Mặc Tử vơi cảm hứng tự nhiên trữ tình, màu sắc cổ điển hài hòa với chất dân dã, trẻ trung bình dị đã làm hiện lên một bức tranh xuân tươi tỉnh thơ mộng. Mùa xuân đẹp. Con người trẻ trung, hồn nhiên, xinh đẹp, đáng yêu. Yêu mùa xuân chín cũng là yêu đồng quê, yêu làn nắng ửng, yêu mái nhà tranh, yêu giàn thiên lí, yêu tiếng hát vắt vẻo của những nàng xuân trên “sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời”.
“Mùa xuân chín” lúc thì dạt dào, lúc thì lắng dịu trong tâm hồn thi sĩ. Có lúc vồn vã, có lúc mênh mang, như đang lắng hồn mình vào bước đi của mùa xuân rồi bổi hổi, “sực nhớ… ” và “bâng khuâng”. Cái nhớ bâng khuâng của người lữ khách mãi mãi là tình thương yêu, nỗi khát khao giao cảm với hương sắc và khúc nhạc mùa xuân, với làng quê thân thuộc nơi miền Trung “Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”…
Bài tham khảo Mẫu 3
"Bác ơi!" được Tố Hữu viết vào ngày 6-9-1969, bốn ngày sau khi vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc qua đời. "Bác ơi!"được viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên, gồm 13 khổ thơ, mỗi khổ thơ có 4 câu thơ.
Bài "Bác ơi!" là tiếng khóc tiễn biệt, mang ý nghĩa như một bài điếu văn rất cảm động, vừa ca ngợi lòng yêu nước thương dân bao la của Bác Hồ, vừa biểu lộ lòng tiếc thương, ghi nhớ công ơn to lớn của lãnh tụ.
Mở đầu bài thơ là tiếng khóc. Bác Hồ qua đời để lại nổi đau thương trong lòng hàng triệu đồng bào ta và bạn bè gần xa. Nỗi đau thương trùm cả cõi đời và cả vũ trụ bao la, mênh mông:
Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa...
Câu thơ thứ hai, chữ "tuôn" được điệp lại hai lần đã cực tả nỗi mất mát, đau thương của dân tộc thật vô hạn.
Đọc hồi kí của Tố Hữu, ta biết lúc Bác Hồ mất, nhà thơ còn đi công tác xa. Nghe tin Bác mất, tác giả vội "chạy về". Đó là một buổi chiều đau đớn, bàng hoàng. Hai chữ "ướt lạnh" diễn tả nỗi đau đớn tái tê ấy:
Chiều nay con chạy về thăm Bác
Ướt lạnh vườn rau, mấy gốc dừa!
Bác ra đi, ngôi nhà sàn của Bác trở nên vắng lặng, hiu hắt buồn. Chuông chẳng còn reo nữa. Ánh đèn "tắt", "rèm buông", phòng của Bác ở và làm việc thì đã "lặng". Sự sống như ngừng lại trong đau thương:
Chuông ôi chuông nhỏ còn reo nữa
Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn!
Bác ra đi quá bất ngờ, đột ngột. Cả miền Nam, cả tiền tuyến lớn anh hùng đang trên đà chiến thắng. "Rước Bác vào thăm"... là ước mơ đẹp của đồng bào, chiến sĩ. Nhưng giờ đây còn đâu nữa khi Bác đã đi xa:
Miền Nam đang thắng, mơ ngày hội
Rước Bác vào thăm, thấy Bác cười!
Ngày hội chiến thắng, ngày hội thống nhất non sông... thế là vắng bóng Bác.
Bác ra đi, cỏ cây hoa lá, thiên nhiên tạo vật đều đau đớn tiếc thương. Vườn rau, gốc dừa, trái bưởi, hoa nhài, ao cá... những vật thân quen ấy của Bác được nhân hoá gợi ra bao đau đớn, cô đơn, buồn tủi, ngậm ngùi. Lấy ai để san sẻ nỗi đau buồn thương tiếc? Tố Hữu có một lối nói biểu cảm rất sâu sắc. Ông đứng lặng, tự hỏi lòng mình rồi hỏi cỏ cây hoa lá:
Trái bưởi kia vàng ngọt với ai
Thơm cho ai nữa, hỡi hoa nhài!
Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm
Quanh mặt hồ in mây bay...
Bốn khổ thơ đầu, Tố Hữu đã mở ra một không gian nghệ thuật từ đất trời, cõi đời, niềm Nam,... đến vườn rau, ao cá, gốc dừa, ngôi nhà sàn,... đồng hiện một tâm trạng nghệ thuật, đó là nỗi đau đớn, tiếc thương đã và đang thấm sâu vào lòng người, lọng dân tộc. Đó là ngày Bác đi xa, ngày 2 tháng 9 năm 1969, ngày Quốc tang.
Sự kết hợp các câu cảm thán, câu hỏi tu từ làm cho giọng thơ như tiếng nấc cất lên, nghẹn ngào, biểu cảm:
Bác đã đi rồi sao, Bác ơi!
Trái bưởi kia vàng ngọt với ai
Thơm cho ai nữa, hỡi hoa nhài!
Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm...
Sáu khổ thơ tiếp theo trong phần hai bài thơ nói lên tình thương bao la và phẩm chất cao đẹp của Bác. Cách cấu trúc bài thơ giống như bài văn tế khi nhắc tới công đức của con người vừa qua đời.
Bằng hình ảnh hoán dụ, Tố Hữu ca ngợi lòng yêu nước thương dân, tình nhân ái bao la của Hồ Chí Minh. Đây là hai câu thơ trong bốn câu thơ hay nhất trong bài thơ "Bác ơi!":
Bác ơi, tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông, mọi kiếp người.
Bằng nghệ thuật liệt kê, tác giả nhắc lại tấm lòng nhân ái bao la, mênh mông, của Bác. Đó là nỗi đau và nỗi lo của Bác. Lòng Bác sâu nặng như lòng mẹ: "Chỉ lo muôn mối như lòng mẹ - Cho hôm nay và cho mai sau". Đó là lòng Bác: Bác sống, Bác yêu, Bác cho, Bác để, Bác tặng:
Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa
Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già.
Đó là Bác nhớ, Bác nghe, Bác lắng... Đó là tình cảm của lãnh tụ dành cho chiến sĩ và đồng bào nơi Thành đồng Tổ quốc:
Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà
Miền Nam mong Bác, nỗi mong cha
Bác nghe từng bước trên tiền tuyến
Lắng mỗi tin mừng, tiếng súng xa.
Bác đã từng nói: "Miền Nam luôn trong tim tôi", Thơ chúc Tết năm 1969, Bác đã viết: "Năm qua thắng lợi vẻ vang - Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to... ", Bác là niềm vui thắng trận. Bác là chỗ dựa tinh thần để tiền tuyến xốc tới "Đánh Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào!", Tố Hữu vừa khóc thương Bác, vừa làm sống lại tâm hồn Bác.
Điệp ngữ "vui" và các động từ: "nâng niu, quên" đã nói lên một cách sâu sắc tâm hồn Hồ Chí Minh: lạc quan yêu đời, giàu đức hi sinh. Hình ảnh so sánh đầy chất thơ:
Bác vui như ánh buổi minh
Vui mỗi mầm non, trái chín cành
Vui tiếng ca chung hòa bốn biển
Nâng niu tất cả, chỉ quên mình.
Bác sống giản dị, thanh bạch. Chiếc va li nhỏ, vài ba bộ quần áo đơn sơ, đôi dép cao su..., "chẳng vàng son",Nhiều người thường nhắc đến hai câu thơ tuyệt bút sau đây để ca ngợi đức tính giản dị của Bác Hồ:
Mong manh áo vải, hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn.
Tư tưởng lớn, ý thơ đẹp và hay, nghệ thuật tưởng phản tài ba, Tố Hữu đã để lại câu thơ trong trí nhớ nhiều người.
Có thể nói, đoạn thơ đã thể hiện sâu sắc cảm động tâm hồn, phong cách, đạo đức và lối sống Hồ Chí Minh.
Ba khố thơ trong phần cuối là tiếng khóc, là sự ghi nhớ, là lòng biết ơn, là lời ước nguyện.
Thương Bác, nhớ Bác càng thấy lòng mình bơ vơ, đau đớn: "ôi Bác xế chiều - Nghìn thu nhớ Bác biết bao nhiêu!
Bác đã đi xa, bước vào "thế giới Người Hiền". Sự nghiệp cách mạng, đạo đức cách mạng của Bác mãi mãi là "Ánh hào quang thêm", là tài sản tinh thần vô giá có tác dụng động viên, cổ vu đồng bào, chiến sĩ "cùng nhau tiến lên" với niềm tin sắt đá:
"Còn non, còn nước, còn người,
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày này".
(Di chúc)
Nhớ mãi công ơn của Bác, nhân dân ta nguyện ghi sâu trong lòng lời Bác dặn, quyết tâm vượt lên hoàn thành sự nghiệp cách mạng của Bác để lại. Bài thơ khép lại bằng một hình so sánh mang tượng hình sông núi kì vĩ. Tố Hữu khóc Bác bằng một lời thề chiến đấu:
Xin nguyện cùng Người vươn tới mãi
Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn.
Tố Hữu là nhà thơ viết về Bác Hồ nhiều nhất, sâu sắc nhất, hay nhất. Hình ảnh Bác Hồ: "Người là Cha, là Bác, là Anh - Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ" đã in đậm trong nhiều trang thơ của Tố Hữu.
"Bác ơi!" là một trong những bài thơ hay nhất viết về Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ vĩ đại kính yêu của dân tộc.
Bài tham khảo Mẫu 4
Dòng sông quê hương từ lâu đã trở thành một biểu tượng thân thuộc trong thi ca Việt Nam. Mỗi dòng sông đều mang một nét riêng, một vẻ đẹp và một hồn cốt đặc trưng của vùng đất nó chảy qua. Trong bài thơ Vàm Cỏ Đông, nhà thơ Hoài Vũ đã gợi lên hình ảnh dòng sông miền Nam ấy không chỉ bằng cảm xúc nhớ thương mà còn bằng cả niềm tự hào sâu sắc. Đặc biệt, ở khổ thơ thứ ba, hình ảnh dòng sông hiện lên đầy chất thơ, thấm đượm ân tình và giàu giá trị biểu tượng:
“Con sông như dòng sữa mẹ
Ngọt ngào nuôi lớn đời con
Nước ăm ắp bờ, nước dềnh lên ruộng lúa
Lên vườn cây, lên cả những linh hồn…”
Chỉ với bốn câu thơ nhưng tác giả đã gói trọn trong đó bao nhiêu xúc cảm. Con sông không chỉ là cảnh vật hữu hình mà còn được nâng tầm thành biểu tượng thiêng liêng. Nhà thơ đã sử dụng biện pháp so sánh ” con sông – dòng sữa mẹ”, ngọt ngào, dịu dàng và vĩnh cửu. Cách so sánh ấy khiến dòng nước trở nên sống động, gần gũi, mang cả tình yêu thương, sự bao dung của người mẹ dành cho đứa con bé nhỏ. Dòng sông ấy đã nuôi lớn con người, tưới tắm mảnh đất quê hương, làm xanh mát những cánh đồng, vườn cây và hơn cả, làm dịu cả những linh hồn, sưởi ấm cả tâm hồn những người con xa quê.
Câu thơ “Ngọt ngào nuôi lớn đời con” là sự khẳng định tình cảm thiêng liêng mà dòng sông cũng là quê hương dành cho con người. Dòng nước không chỉ “ăm ắp bờ” mà còn “dềnh lên ruộng lúa, lên vườn cây” nuôi dưỡng sự sống, mang đến sự trù phú cho cả vùng quê. Đặc biệt, hình ảnh “lên cả những linh hồn” là một điểm nhấn đầy chiều sâu, gợi ra một cảm xúc thiêng liêng: dòng sông còn xoa dịu những đau thương, nâng đỡ tinh thần những người con đã khuất, những linh hồn vì quê hương mà ngã xuống. Với lối ví von đầy sáng tạo và cảm xúc, Hoài Vũ đã khắc họa một dòng sông không chỉ mang vẻ đẹp của thiên nhiên, mà còn là biểu tượng cho tình đất, tình người và tình mẹ bao la nơi miền quê phương Nam. Từ hình ảnh dòng sông, người đọc cảm nhận được cả tình cảm tha thiết của nhà thơ đối với quê hương miền Nam ruột thịt trong những năm đất nước còn chia cắt. Nỗi nhớ, niềm thương và khát vọng đoàn tụ không được nói ra một cách trực tiếp, mà thấm đẫm trong từng dòng thơ giàu hình ảnh và cảm xúc.
Hình ảnh dòng sông Vàm Cỏ Đông như “dòng sữa mẹ” không chỉ gợi nhớ về vẻ đẹp của miền sông nước Nam Bộ, mà còn khơi gợi trong ta hình ảnh quen thuộc của biết bao dòng sông quê hương khác đã từng đi vào thi ca Việt Nam. Ta bắt gặp dòng sông Hương thơ mộng trong thơ Thu Bồn: “Con sông dùng dằng con sông không chảy / Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”, hay dòng sông Đáy lặng lẽ trong “Tràng giang” của Huy Cận. Mỗi dòng sông đều mang một tâm hồn, một bản sắc riêng, nhưng tựu trung lại đều là dòng chảy của ký ức, của tình đất, tình người, là nơi nuôi dưỡng và gìn giữ cội nguồn quê hương. Đặc biệt, việc tác giả Hoài Vũ dùng hình ảnh dòng sữa mẹ để ví dòng sông khiến ta liên tưởng tới tình mẫu tử tình yêu lớn lao và bền bỉ nhất, đồng thời cũng nhấn mạnh mối gắn bó keo sơn giữa con người và quê hương. Trong thời đại nay, khi guồng quay cuộc sống khiến nhiều người xa rời nguồn cội, thì khổ thơ ấy như một lời nhắc nhở dịu dàng: hãy trở về, trân quý và gìn giữ dòng sông trong lòng mỗi người, dòng sông của ký ức, của tình yêu thương thuần khiết và bất tận.
Khổ thơ thứ ba trong bài thơ Vàm Cỏ Đông là một khúc nhạc trầm sâu lắng, gợi lên hình ảnh dòng sông quê hương không chỉ đẹp về cảnh sắc mà còn thấm đẫm ân tình. Dòng sông ấy như dòng sữa mẹ dịu ngọt, nuôi dưỡng cả sự sống và tâm hồn bao thế hệ. Qua hình ảnh Vàm Cỏ Đông, nhà thơ Hoài Vũ đã gửi gắm tình yêu quê hương da diết, niềm tự hào về một miền đất giàu truyền thống và nghĩa tình. Những câu thơ ngắn mà lắng sâu, để lại trong lòng người đọc một ấn tượng khó phai về vẻ đẹp của thiên nhiên, con người và cội nguồn dân tộc.
Bài tham khảo Mẫu 5
Ngày 2 - 9 - 1969, Hồ Chủ Tịch tạ thế. Cả một rừng thơ khóc Bác xuất hiện, trong đó nổi bật lên cây đại thụ Tố Hữu với bài thơ "Bác ơi!". Bốn khổ thơ đầu nói cái đau xót tột cùng của thi sĩ trước sự kiện Bác ra đi:
Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa.
Trời mưa tầm tã cộng với nước mắt hàng triệu người khóc vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc đã làm cho cả không gian ướt lạnh, đau buồn. Khi Bác đi xa, Tố Hữu đang nằm điều trị ở bệnh viện. Nghe tin, nhà thơ hoảng hốt chạy về phủ Chủ tịch, nơi nhà sàn của Người: Chiều nay con chạy về thăm Bác. Từ "chạy" được dùng rất tài, nói lên sự nóng gan nóng ruột của người con khi nghe tin cha mất.
Con lại lần theo lối sỏi quen
Đến bên thang gác đứng nhìn lên
Chuông ôi, chuông nhỏ còn reo nữa
Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn!
Ta thấy tác giả rất ý tứ cho nên "đến bên thang gác đứng nhìn lên" mà chưa vào nhà vội. Vì sao vậy? Vì đến thăm một người tạ thế là thăm vợ góa, con côi. Còn Bác không có gia đình thì xử lí như Tố Hữu là rất tinh tế. Nhà Bác hôm nay đã khác xưa rồi: Chuông không còn reo để báo tin với Người có khách đến. Đặc biệt câu thơ: "Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn", bị cắt ra làm ba nhịp như muốn diễn tả nỗi nghẹn ngào của Tố Hữu. Nhìn vườn cây Bác từng vun trồng, tác giả bâng khuâng:
Trái bưởi kia vàng, ngọt với ai
Thơm cho ai nữa hỡi hoa nhài!
Hai câu này làm cho một số độc giả thắc mắc: Chẳng lẽ Bác trồng cây chỉ cho một mình Bác thôi ư? Tôi đã có dịp hỏi nhà thơ Xuân Diệu; thi sĩ bảo: Ai lại đi thẩm định văn chương như vậy! Đây chỉ là một cách nói của thi ca để biểu lộ tình thương sâu sắc của con đối với Cha mà thôi. Cha chết không thương Cha hay sao?
Nhìn ao cá, nhà thơ bỗng tiếc nuối:
Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm
Quanh mặt hồ in mây trắng bay...
Bác hiện lên trong kí ức đẹp như một ông Tiên trong thần thoại. Đúng! Trong tâm trí nhà thơ cũng như trong tâm trí dân tộc ta, Bác là một "Ông tiên Mác - xít". Sau những ngày bàng hoàng đau xót, nhà thơ bình tâm lại, khắc họa hình tượng Bác. Tố Hữu đã viết nhiều bài thơ về Bác nhưng bài này hay hơn cả vì đây là thơ tổng kết một cuộc đời.
Hình ảnh bao trùm là: "Bác ơi tim Bác mênh mông thế". Đó là một trái tim giàu tình thương: "Ôm cả non sông, mọi kiếp người". Một trái tim thương nước, thương dân bao la, mênh mông. Từ "ôm" được dùng rất gợi cảm: ôm là nâng niu, che chở, giữ gìn. Thương bao nhiêu thì đau bấy nhiêu:
Bác chẳng buồn đâu, Bác chỉ đau
Nỗi đau dân nước, nỗi năm châu
Từ "đau" là lấy lại chữ dùng của Bác trong di chúc. Đau dân nước vì dân nước đang bị đế quốc xâm lược; đau năm châu vì có sự bất hoà trong phong trào cộng sản quốc tế. Chỉ con người vĩ đại mới có nỗi đau đớn lớn lao như thế. Có một câu thơ tuyệt hay nói về cuộc đời của lãnh tụ: Bác sống như trời đất của ta.
Câu thơ giản dị mà hàm chứa một nội dung sâu sắc: Cuộc đời Bác đã hoà làm một với thiên nhiên, sẽ vĩnh hằng như thiên nhiên. Đó là nguồn gốc tinh thần lạc quan của Người:
Bác vui như ánh buổi bình minh
Vui mỗi mầm non, trái chín cành
Vui tiếng ca chung hoà bốn biển
Nâng niu tất cả, chỉ quên mình
Vì sao vậy? Vì giải phóng miền Nam là trung tâm của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ. Nhiều người gặp Bác đều kể lại mỗi khi trò chuyện, thế nào Người cũng nhắc đến miền Nam. Trong phòng của Bác có treo bản đồ miền Nam về sự bố trí binh lực của địch. Có lần phát biểu trước Quốc hội, Người nói: "Miền Nam luôn trong trái tim tôi". Đạo đức của Bác thật cao khiết:
Một đời thanh bạch, chẳng vàng son
Mong manh áo vải, hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn.
Bác là vị lãnh tụ kiểu mới; khác với những người ưa sùng bái cá nhân. Vì tâm hồn Bác giàu quá (hồn muôn trượng) nên bề ngoài Bác rất giản dị (mong manh áo vải). Bác không cần tượng đồng vì nhân dân đã đúc cho Người hàng triệu tượng trong tim. Trong ba khổ cuối, nhà thơ nói lên cảm nghĩ của nhân dân ta trước sự ra đi của Bác. Trước hết là nhớ lời Di chúc:
Ra đi Bác dặn: "Còn non nước..."
Nghĩa nặng lòng không dám khóc nhiều
Câu thơ nhắc lại lời Người:
"Còn non còn nước còn người
Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay".
Vậy thì thương Bác tức là phải làm theo lời Bác dặn, tập trung sức để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Bác Hồ nay đã nhập vào một thế giới đặc biệt: Mác-Lê Nin thế giới Người Hiền. Hiền ở đây là hiền minh, hiền triết - tức là những vĩ nhân có trí tuệ siêu việt có đạo đức cao cả. Chính những con người đó đã dẫn dắt lịch sử tiến lên không ngừng.
Kết thúc thi phẩm này, Tố Hữu có một câu thơ rất hay: Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn. Yêu Bác làm theo tấm gương trong suốt như pha lê của Người; sẽ có sức mạnh tẩy sạch những vết mờ đục trong lòng ta, nâng chúng ta lên tầm cao mới. Chúng ta quyết biến đau thương thành sức mạnh:
"Xin nguyện cùng Người vươn tới mãi
Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn".
Bài thơ "Bác ơi" là một điếu văn bi hùng. Lối thơ thất ngôn tạo nên một nhạc điệu trang trọng, cùng với hình ảnh thơ kì vĩ đã diễn đạt rất tài tình những cảm xúc cao đẹp của toàn thể dân tộc ta trong những ngày quốc tang năm 1969.
Bài tham khảo Mẫu 6
Dòng sông quê hương từ lâu đã trở thành một biểu tượng quen thuộc trong thi ca Việt Nam. Mỗi dòng sông đều mang một vẻ đẹp riêng, một hồn cốt đặc trưng của vùng đất nó chảy qua, đồng thời gợi lên những ký ức, tình cảm và cảm xúc sâu lắng của con người. Trong bài thơ Vàm Cỏ Đông, nhà thơ Hoài Vũ đã tái hiện hình ảnh dòng sông miền Nam bằng cảm xúc vừa nhớ thương, vừa tự hào, đồng thời nâng nó thành biểu tượng thiêng liêng của tình đất, tình người và cả tình mẹ bao la. Đặc biệt, khổ thơ thứ ba đã gợi lên một hình ảnh dòng sông vừa sống động, vừa giàu giá trị biểu tượng, khiến người đọc không chỉ nhìn thấy cảnh vật mà còn cảm nhận được hồn cốt và tâm hồn của miền quê phương Nam:
“Con sông như dòng sữa mẹ
Ngọt ngào nuôi lớn đời con
Nước ăm ắp bờ, nước dềnh lên ruộng lúa
Lên vườn cây, lên cả những linh hồn…”
Chỉ với bốn câu thơ ngắn, tác giả đã gói trọn trong đó bao nhiêu xúc cảm. Trước hết, Hoài Vũ sử dụng biện pháp so sánh “con sông – dòng sữa mẹ”, khiến dòng nước trở nên dịu dàng, ngọt ngào và vĩnh cửu, như tình mẹ nuôi lớn con trẻ. Sự so sánh này không chỉ tạo hình ảnh sống động, gần gũi mà còn làm nổi bật tình cảm bao dung và ấm áp mà dòng sông dành cho mảnh đất, cho con người nơi nó chảy qua. Dòng sông trong thơ không còn là cảnh vật vô tri mà mang hồn, mang tình thương và sức sống.
Câu thơ “Ngọt ngào nuôi lớn đời con” tiếp tục nhấn mạnh ý nghĩa nuôi dưỡng của dòng sông, gợi liên tưởng đến cả thiên nhiên và con người, đến sự trù phú của quê hương miền Nam. Dòng sông “ăm ắp bờ” và “dềnh lên ruộng lúa, vườn cây” nuôi sống cây cối, đất đai, làm xanh tươi những cánh đồng, vườn cây, đồng thời cũng là hình ảnh biểu tượng cho sự nuôi dưỡng tinh thần, gắn bó cộng đồng và bảo tồn cội nguồn. Hình ảnh “lên cả những linh hồn” mang chiều sâu thiêng liêng, gợi nhắc về những người đã ngã xuống vì quê hương, những linh hồn được dòng sông xoa dịu và nâng đỡ. Đây là cách Hoài Vũ kết hợp hiện thực với biểu tượng, làm nổi bật giá trị nhân văn của thiên nhiên và sự gắn bó mật thiết giữa con người với dòng sông quê hương.
Hình ảnh dòng sông Vàm Cỏ Đông như dòng sữa mẹ còn khiến người đọc liên tưởng tới các dòng sông khác trong thi ca Việt Nam. Trong thơ Thu Bồn, dòng sông Hương hiện lên với nét mộng mơ và lặng lẽ: “Con sông dùng dằng con sông không chảy / Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”, trong khi Huy Cận trong Tràng Giang lại thể hiện dòng sông như biểu tượng cho sự cô đơn và nỗi trăn trở: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp / Con thuyền xuôi mái nước song song”. Mỗi dòng sông đều mang một tâm hồn riêng, nhưng tựu trung lại đều là nơi ghi dấu ký ức, tình đất, tình người, và nuôi dưỡng cội nguồn quê hương. So sánh Vàm Cỏ Đông với những dòng sông này, có thể thấy Hoài Vũ đã gắn liền thiên nhiên với đời sống tinh thần, làm nổi bật sự hòa hợp giữa con người và quê hương, giữa ký ức và hiện tại, giữa thiên nhiên và cảm xúc.
Ngoài hình ảnh biểu tượng, bài thơ còn giàu cảm xúc tự nhiên và tha thiết, vừa dịu dàng, vừa sâu lắng. Ngôn từ giản dị, nhịp điệu linh hoạt kết hợp với những hình ảnh sinh động đã tạo nên cảm giác gần gũi, dễ đồng cảm. Không cần lời nói trực tiếp, từng câu chữ đều thấm đượm nỗi nhớ, niềm thương và niềm tự hào về miền Nam ruột thịt. Qua đó, Hoài Vũ không chỉ kể về dòng sông, mà còn gửi gắm tình yêu quê hương, lòng biết ơn những người đã hi sinh, và niềm tự hào về cội nguồn dân tộc.
Khổ thơ thứ ba trong bài Vàm Cỏ Đông vì vậy như một khúc nhạc trầm sâu lắng, vừa mô tả vẻ đẹp thiên nhiên, vừa thể hiện sự kết nối giữa con người và đất nước. Dòng sông vừa nuôi dưỡng mảnh đất, vừa nâng đỡ linh hồn, vừa gợi nhắc về tình mẹ và cội nguồn thân thương. Hình ảnh dòng sông như dòng sữa mẹ không chỉ làm sống động cảnh vật mà còn gửi gắm thông điệp về tình yêu quê hương, sự gắn bó với nguồn cội và ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Qua đó, Hoài Vũ nhắc nhở mỗi người hãy trân trọng và gìn giữ những giá trị thiêng liêng của quê hương, giữ dòng sông ấy trong tim như một phần ký ức và tình yêu thương bất tận.
Bài tham khảo Mẫu 7
Bài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận là một trong những tác phẩm tiêu biểu của thơ hiện đại Việt Nam, thể hiện rõ phong cách trữ tình giàu chất suy tưởng của nhà thơ. Qua bài thơ, Huy Cận không chỉ khắc họa vẻ đẹp hùng vĩ, mênh mang của dòng sông miền Bắc mà còn bộc lộ tâm trạng cô đơn, bâng khuâng và nỗi trăn trở trước cuộc đời, con người và thời cuộc. Bằng thể thơ 7 chữ, nhịp điệu linh hoạt, hình ảnh giàu tính biểu tượng và ngôn từ đậm chất nhạc, bài thơ đã trở thành bản trường ca của thiên nhiên và cảm xúc nội tâm con người.
Ngay ở những câu mở đầu, Huy Cận đã tạo ra một khung cảnh thiên nhiên mênh mông, cô tịch: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp / Con thuyền xuôi mái nước song song”. Hình ảnh “sóng gợn buồn điệp điệp” gợi sự bất tận, vô biên của dòng sông, đồng thời cũng gợi nỗi cô đơn, trống trải của con người trước thiên nhiên. “Con thuyền xuôi mái nước song song” vừa là cảnh vật thực, vừa mang giá trị biểu tượng, gợi cảm giác con người như hòa vào dòng đời vô tận, lạc lõng giữa đất trời rộng lớn. Sự kết hợp giữa hiện thực thiên nhiên và biểu tượng tinh thần là điểm nhấn khiến bài thơ vừa sinh động vừa giàu chiều sâu.
Trong bài thơ, thiên nhiên hiện lên không chỉ là cảnh vật mà còn là tâm trạng nội tâm. Huy Cận sử dụng hình ảnh mênh mông của sông nước, mây trôi, chiều buông để làm nổi bật nỗi cô đơn và trăn trở của con người: “Nhớ nước non, nhớ đất nhớ trời / Quanh quất sông trăng mây lạnh lùng”. Nhịp điệu thơ chậm rãi, u buồn cùng ngôn từ giản dị nhưng giàu sức gợi khiến tâm trạng của nhân vật trữ tình thấm sâu vào cảnh vật. Thiên nhiên và tâm hồn hòa quyện, tạo nên một cảm giác vừa lặng lẽ vừa sâu lắng, vừa cô đơn vừa suy tư về thời gian, đời sống và số phận con người.
Huy Cận còn khéo léo sử dụng hình ảnh tượng trưng và liên tưởng, làm tăng giá trị nghệ thuật của bài thơ. Dòng sông mênh mang vừa biểu tượng cho thiên nhiên bất tận, vừa phản ánh sự lạc lõng, bâng khuâng của con người trước lịch sử, trước đời sống. “Sông dài, trời rộng, con thuyền đơn côi” không chỉ là hình ảnh thực mà còn là biểu tượng cho nỗi cô đơn của con người, đồng thời là sự suy ngẫm về sự nhỏ bé, mong manh của đời sống trước vũ trụ bao la. Qua đó, Huy Cận gửi gắm triết lý nhân sinh sâu sắc: con người dù nhỏ bé nhưng vẫn gắn bó với thiên nhiên và số phận, vẫn tìm kiếm sự yên bình, bình thản trong tâm hồn.
Bài thơ “Tràng Giang” còn mang giá trị nghệ thuật đặc sắc nhờ nhịp điệu, vần điệu uyển chuyển, ngôn từ giản dị nhưng giàu nhạc tính. Những hình ảnh như “song song”, “buồn điệp điệp”, “mây lạnh lùng” vừa mô tả hiện thực vừa gợi cảm xúc, khiến bài thơ giàu âm hưởng, sâu lắng và lưu lại trong lòng người đọc cảm giác thấm thía về cảnh vật và nỗi niềm nhân sinh. Hình ảnh thiên nhiên rộng lớn, dòng sông mênh mông, con thuyền đơn côi đã trở thành biểu tượng đặc trưng cho thơ Huy Cận giai đoạn trước cách mạng, kết hợp giữa cảm xúc cá nhân và suy tưởng xã hội.
Tóm lại, “Tràng Giang” là bài thơ giàu chất trữ tình suy tưởng, kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên và cảm xúc, giữa hiện thực và biểu tượng. Qua hình ảnh dòng sông mênh mông, sóng nước và con thuyền đơn côi, Huy Cận đã thể hiện nỗi cô đơn, bâng khuâng, nỗi trăn trở về con người và thời cuộc. Đồng thời, bài thơ cũng ca ngợi vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, khắc họa sự hòa hợp giữa con người và đất trời, tạo nên giá trị nhân văn và thẩm mỹ sâu sắc, để lại ấn tượng khó phai trong lòng người đọc.
Bài tham khảo Mẫu 8
Bài thơ “Thăm cõi Bác xưa” của Tố Hữu là một tác phẩm tiêu biểu về thơ ca cách mạng Việt Nam, thể hiện tình cảm kính yêu, ngưỡng mộ và tri ân Chủ tịch Hồ Chí Minh của nhân dân và thế hệ cách mạng đối với Người. Bằng ngôn ngữ giản dị mà giàu âm hưởng, hình ảnh tượng trưng và cảm xúc dạt dào, Tố Hữu đã đưa người đọc trở về miền quê Bác, thăm lại những nơi ghi dấu tuổi trẻ, cuộc sống và sự nghiệp cách mạng của Người, từ đó bày tỏ lòng biết ơn và niềm tự hào về tấm gương đạo đức và tinh thần chiến đấu cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngay từ những câu mở đầu, bài thơ đã vẽ nên khung cảnh giản dị, bình dị nhưng thân thương: làng quê, cây tre, mái nhà, những con đường nơi Bác từng đi qua. Những hình ảnh tưởng như đời thường này không chỉ gợi không gian vật lý mà còn mang giá trị biểu tượng sâu sắc, thể hiện sự gần gũi và nhân hậu của Bác với dân, với quê hương. Tác giả sử dụng những chi tiết sinh động như “cây tre nặng trĩu bóng Bác”, “con đường Bác qua”, vừa cụ thể vừa gợi cảm, khiến người đọc cảm nhận được sự hiện diện sống động của Bác trong ký ức và lòng người. Hình ảnh Bác hiện lên vừa giản dị, gần gũi, vừa vĩ đại, là biểu tượng cho sự gắn bó giữa cá nhân với cộng đồng, giữa con người với quê hương và đất nước.
Điểm đặc sắc của bài thơ là sự kết hợp giữa cảm xúc cá nhân và giá trị lịch sử, cộng đồng. Tác giả không chỉ kể lại cảnh vật, mà còn bộc lộ tình cảm kính trọng, trân trọng và niềm tự hào của cả dân tộc. Những câu thơ miêu tả Bác trong lao động, trong những cử chỉ giản dị nhưng giàu nghĩa tình, vừa thể hiện đời sống đời thường vừa khắc họa phẩm chất đạo đức, tinh thần cách mạng cao cả. Nghệ thuật đối lập giữa sự giản dị của cảnh vật và vĩ đại của con người làm nổi bật hình tượng Bác Hồ vừa gần gũi, vừa thiêng liêng, là tấm gương đạo đức sáng ngời cho mọi thế hệ noi theo.
Hình ảnh trong bài thơ còn giàu tính tượng trưng và biểu tượng. Cây tre, con đường, mái nhà không chỉ là hiện thực đời sống mà còn là biểu tượng cho tinh thần kiên cường, giản dị, gắn bó mật thiết với dân của Bác. Điệp ngữ, nhịp điệu linh hoạt, ngôn từ trữ tình và âm hưởng nhẹ nhàng khiến bài thơ vừa gần gũi, vừa sâu lắng. Người đọc không chỉ cảm nhận cảnh vật mà còn thấm thía tinh thần sống, hy sinh và cống hiến của Bác cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cho lý tưởng cách mạng.
Qua bài thơ, Tố Hữu gửi gắm thông điệp nhân văn và cách mạng sâu sắc: lòng biết ơn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, niềm tự hào dân tộc và khát vọng học tập, noi theo gương Người. Bài thơ khơi dậy trong lòng người đọc tình yêu quê hương, đất nước, sự trân trọng những giá trị đạo đức, tinh thần và lịch sử. Hình ảnh Bác và những kỷ niệm về Người không chỉ là hoài niệm mà còn là lời nhắc nhở về trách nhiệm của thế hệ hôm nay trong việc tiếp nối sự nghiệp cách mạng, giữ gìn và phát triển những giá trị cao đẹp mà Bác để lại.
Tóm lại, “Thăm cõi Bác xưa” là tác phẩm kết hợp hài hòa giữa cảnh vật, con người và cảm xúc, tạo nên một bức tranh vừa giản dị, vừa thiêng liêng về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Qua hình ảnh Bác trong tuổi trẻ, trong lao động và trong ký ức, Tố Hữu không chỉ thể hiện sự kính yêu mà còn gửi gắm niềm tự hào và thông điệp nhân văn sâu sắc. Bài thơ là lời ca trữ tình về tấm gương đạo đức, tinh thần chiến đấu và sự hy sinh cao cả của Người, đồng thời nhắc nhở mỗi thế hệ về trách nhiệm giữ gìn, học tập và lan tỏa những giá trị tốt đẹp của cội nguồn dân tộc.
Bài tham khảo Mẫu 9
Hàn Mặc Tử, với cuộc đời ngắn ngủi, tâm hổn đa cảm, mong manh đã để lại cho đời những bài thơ rất đặc sắc. "Mùa xuân chín" là một trong số đó. Trong không gian của buổi giao mùạ, một góc tâm tình của tác giả: Nhớ làng, nhớ quê… và một cái gì đó rất mơ hồ, gợi trong lòng ta biết bao suy nghĩ. "Mùa xuân chín" một khoảng trời riêng của cảm xúc đang "chín" trong lòng nhà thơ, trong lòng người đọc.
Đọc tựa bài, ta hầu như đã cảmnhận được cái "ngon lành", cái đỉnh cao tận cùng của "Mùa xuân chín". Nếu có "xuân chín" thì hẳn cũng có "xuân xanh"; "xuân già". Nằm giữa ranh giới của cái "non trẻ", cái "già nua", "Mùa xuân chín" trở nên giá trị nhưng cũng ngắn ngủi, mong manh vô cùng. Để lòng say đắm trong giây phút hoàn hảo nhất của vũ trụ ấy thì còn gì bằng!
"Trong làn nắng ửng: khói mơ tan,
Đôi mái nhà tranh lẫm tấm vàng.
"Nắng ửng". Từ "ửng" mang một ý nghĩa đặc biệt. Ta có thể liên tưởng đến ngay cái "chín ửng" của quả đào, quả hồng, cái "ưng ửng" hây hây của đôi má các cô gái trong tiết lạnh đầu xuân. Cũng như vậy, xuân đang "chín" lên trong cái "ửng" của nắng. Dấu hai chấm sau đó nhắc nhở ta cái gì sẽ hiện nhiên xẩy ra như quả chín thì chuyển từ xanh sang hồng. Những làn khói sương tan trong nắng, lượn lờ, bồng bềnh nâng tâm hồn thi sĩ lên khỏi mặt đất, khỏi thực tại, bước vào cõi "mơ". "Đôi mùi nhả tranh lẫm tấm vàng". Những "lấm tấm vàng" đó là hạt nắng hay chính là những ảo ảnh trong đôi mắt của người đang say Không phải cái say "quên trời, quên đất", cái say của nhà thơ là những phút giây đắm chìm, mê mải, chăm chú, cả âm thanh, cả hình ảnh, màu sắc cũng hòa làm một: khói tan, mái nhà lấm tấm vàng, gió sột soạt tà áo, giàn thiên lí. Đó là "bóng xuân". Chỉ là "bóng", rất mơ hồ, huyền ảo, mùa xuân cô gái đẹp, đẹp như trong mơ, đẹp như quả chín, đẹp hoàn hảo lướt qua trong tâm hồn nhà thơ.
"Bao cô thôn nữ hát trên đồi". Tiếng hát của những cô gái đánh thức Hàn Mặc Tử, đưa nhà thơ trở lại với thực tại. Toàn khổ thơ là tâm trạng tiếc nuối, ngậm ngùi:
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bò cuộc chơi…
Nhà thơ nghĩ đến ngày mai đây, cảnh vật, con người sẽ đỗi khác, những cô gái sẽ không còn những giây phút hồn nhiên, vô tư ca hát với mùa xuân, cũng như xuân rồi cũng sẻ qua, "xuân chín" rồi thì xuân sẽ tàn. Tâm hồn đa cảm ấy, không thể không rung lên xúc động. "Đám xuân xanh ấy" Mùa xuân tươi đẹp của đời người, cũng là mùa xuân tươi đẹp của thiên nhiên mà thi sĩ vẽ ra trước mắt người đọc làm ta không khỏi suy tư. Thế thì ta hãy tận hưởng cho hết những giờ khắc tuyệt vời ấy.
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,
Hổn hển như lời của nước mây…
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc
Nghe ra ý vị và thơ ngây…
Trí tưởng tượng của tác giả đã lên đến tột độ, tiếng hát thánh thót như đang "vắt vẻo lưng chừng núi", đang "hổn hển như lời của nước máy". Những âm thanh không bay cao, bay xa mà vẫn "thầm thì với ai ngồi dưới trúc". Từ "ai" rối rắm nghịch lý ấy cho ta thấy những cảm xúc vô cùng tinh tế trong tâm hồn thi sĩ. Tiếng hát bay khắp không gian, thi sĩ "thu" lại chỉ riêng cho "ai". Chính là mình rồi tự thốt lên:
Nghe ra ý vị và thơ ngây
Có mấy ai cảm nhận hết cả đất trời như vậy! Nghĩ đến đất trời, về những cuộc đổi thay, về mùa xuân, tác giả lại nghĩ về mình Khác xa gặp lúc mùa xuân chín
Thì ra mình chỉ là một người tha phương, lẻ loi, cô độc gặp "Mùa xuân chín" mới có được giây phút ấm lòng. Hàn Mặc Tử nhớ về làng xưa trí bâng khuâng sực nhớ làng".
Cái "sực nhớ" bất ngờ, dồn dập, tên tác giả, cái têu mà cha mẹ anh em vẫn gọi đối với Hàn Mặc Tử thân thương biết mấy, gần gũi biết mấy. Ngẫu nhiên, đó cũng là một từ rất phú hợp với nỗi nhớ của tác giả. Nhớ về quê xưa, hình ảnh đầu tiên đến với cái "sực nhớ" của tác giả là hình ảnh của người con gái. "Chị ấy" là chị ruột, chị họ hàng hay chí là một người quen hay là… ? Ta không thể biết được. Nhưng ta hiểu được rằng tác giả đã dành sẵn một tình cảm rất trân trọng, rất tha thiết cho người con gái ấy. Tại sao hình ảnh đầu tiên mà tác giả nhớ không phải là cha mẹ, anh em, mái nhà xưa '! Bởi vì đây là cái "sực nhớ", điều mà ý thức không kiêm soát được mà là của con tim đang dồn dập, nóng bỏng vì nỗi nhớ điều khiển. Những từ, tiếng vần liền "trắng, nắng", "chang chang" tạo cho người đọc cảm giác rõ rệt về một bờ sông cát trắng, nắng chói rất thật rất rõ ràng tạo thành hình ảnh con người thật đẹp.
Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang
Mùa xuân luôn cảm hứng của bao nhiêu thi sĩ. Thế nhưng trong "Mùa xuân chín" của Hàn Mặc Tử vẫn rất đặc sắc vẫn rất sâu đậm, không những chỉ có "Mùa xuân chín" mà còn "chín" cả lòng người thi sỉ, "chín" cả nỗi nhớ làng, nhớ người xưa trong thơ Hàn Mặc Tử.
Bài thơ dạt dào cảm xúc khiến lòng người bâng khuâng. Với tâm hồn lãng mạn cùng những lời thơ trữ tình đặc sắc, Hàn Mặc Tử đã để lại cho đời một bức tranh xuân, một hình ảnh xuân một nét xuân đầm thắm dịu dàng. Người thì đã đi xa nhưng tình người còn vương vấn mãi. Bài thơ ấy cùng với cái tôn Hàn Mặc Tử vẫn tồn tại muôn đời.
Bài tham khảo Mẫu 10
Bài thơ “Tràng giang” được viết trong thời kì trước cách mạng với một nỗi niềm chất chứa u buồn, gợi lên sự bế tắc trong cuộc sống của kiếp người trôi nổi lênh đênh. Bài thơ đã để lại trong lòng người đọc nhiều nỗi niềm khó tả.
Tràng Giang không chỉ là một bài thơ hay của Huy Cận mà con là một trong những bài thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới. Đôi khi người ta thường hiểu Tràng Giang là một bài thơ miêu tả phong cảnh quê hương đất nước, thể hiện tình yêu quê hương đất nước, nhưng đúng hơn đây là bài thơ thể hiện nỗi cô đơn, bơ vơ của con người ngay giữa quê hương mình.
Tràng Giang in trong tập Lửa thiêng của Huy Cận, xuất bản năm 19 Đúng như nhà thơ Huy Cận từng nói, bài thơ này được sông Hồng, quãng Chèm Vẽ và những con sông khác gợi tứ. nhưng nó là bài thơ nói về nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn không tìm được lối ra, nên như kéo dài triền miên.
Trước hết ta chú ý đầu đề bài thơ là Tràng giang chứ không phải “Trường giang”, để ta không lầm với sông Trường Giang (Trung Quốc), hay con sông dài nói chung. Trong Tiếng Việt “tràng giang” thường nằm trong thành ngữ “tràng giang đại hải”, chỉ một hiện tượng mênh mông bất tận mà trống rỗng khiến người ta chán chường.
Mở đầu bài thơ đúng là một cảnh sông nước mênh mông bất tận:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về, nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Ngay câu đầu bài thơ không chỉ nói sông, mà nói buồn, nói về một nỗi buồn bất tận, bằng một hình ảnh ẩn dụ: sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, như nỗi buồn trùng trùng điệp điệp. Giữa tràng giang mà điểm nhìn nhà thơ tụ vào con sóng nhỏ, tuy rất nhiều, nhưng hiện ra rồi tan, muôn thuở. Con thuyền thường là hình ảnh tượng trưng cho cuộc đời lênh đênh, cô đơn, vô định, ở đây con thuyền buông mái chèo xuôi dòng nước, nhưng thuyền và nước chỉ “song song” với nhau chứ không gắn bó với nhau, bởi nước xuôi trăm ngả, thuyền theo ngã nào? Thuyền đi với dòng để rồi chia li với dòng. Câu thứ ba đã nói tới sự chia li. “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”. Thuyền buồn vì phải rẽ dòng. Nước buồn như không biết trôi về đâu. Câu cuối đoạn này càng thể hiện tập trung cho kiếp người nhỏ nhoi, lạc lõng, vô định: “Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Cái nhìn của nhà thơ vẫn tập trung vào các vật nhỏ: sóng, thuyền, củi khô.
Tác giả lưu ý, không phải là cây gỗ, mà chỉ là “củi một cành khô”, một mảnh rơi gãy, khô xác của thân cây.
Cả khổ thơ đầu đã vẽ lên một không gian sông nước bao la, vô định, rời rạc, hờ hững. Những đường nét: nước song song, buồn điệp điệp, sầu trăm ngả, lạc mấy dòng không hứa hẹn gì về hội tụ, gặp gỡ mà chỉ là chia tan, xa vời. Trên con sông đó một con thuyền, một nhánh củi lênh đênh càng tỏ ra nhỏ nhoi, bất lực. Ở đây không chỉ thuyền buồm, cành củi khô buồn, mà cả sóng gợn, sông nước đều buồn.
Khổ thứ hai tiếp tục cái mạch thơ khổ đầu:
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
Một cái cồn nhỏ (lại nhỏ!) lơ thơ, vắng vẻ, lại thêm ngọn gió đìu hiu, càng thêm vắng vẻ buồn bã hơn, như bị cuộc sống bỏ quên. Huy Cận nói, ông đã học được từ “đìu hiu” trong câu thơ Chinh phụ ngâm “Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò” cũng nói về cảnh vắng vẻ, không người. Âm thanh của cuộc sống náo động của các phiên chợ, của làng quê nghe rất xa vắng, chợ chiều làng xa mà lại đã càng tăng thêm cảm giác bị bỏ quên ở đây. Hai dòng cuối càng tô đậm thêm cảm giác lạc lõng: nắng xuống, trời lên không chỉ gợi ra khung cảnh nắng chiều mà bản thân hai hướng lên xuống như không ăn nhập với nhau, và sông dài, trời rộng càng tăng thêm cái vắng vẻ của bến sông. Cô liêu là vắng vẻ. Trong hai dòng này nhà thơ đã đem đặt bên nhau những yếu tố vốn không có gì là buồn để tạo nên một cảnh buồn. Giữa các yếu tố đó đều có đặt dấu phẩy (,).
Khổ thơ thứ ba vẫn tiếp tục mạch cảm xúc về sự hờ hững, mất hết liên lạc giữa các sự vật. Con mắt nhà thơ nhìn vào bèo, những sinh thể nhỏ nhoi, yếu đuối giữa mặt nước mênh mông.
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Vẫn các sự vật đặt bên nhau: bèo hàng nối hàng, bờ xanh tiếp bãi vàng hai bờ sông mênh mông không cầu, không đò ngang, tạo thành một thế giới không liên hệ. Từ sóng, thuyền, củi, dòng trôi, đến cồn nhỏ, làng xa chợ chiều, rồi nắng xuống, trời lên, sông dài, trời rộng, bến vắng… mọi vật có, nhưng không vật nào có ý tìm nhau, đến với nhau, cần đến nhau.
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Lớp lớp mây cao đùn ra thành từng núi bạc. Chữ “đùn” mượn từ thơ cổ của Đỗ Phủ, nói rằng mây trồi ra, lừng lững như núi trên trời có một vẻ đe doạ. Cánh chim bé nhỏ (lại bé nhỏ!) nghiêng nghiêng về tổ ấm được cảm nhận như chịu sức nặng của bóng chiều đè xuống. Bóng chiều mông lung bỗng trở thành hình có khối như có thể cảm nhận được bằng đôi cánh nhỏ. Và cánh chim bay đi đâu cho thoát khỏi cái bóng chiều đang đè nặng xuống mình?.
Lòng quê là lòng nhớ quê hương, lấy từ hai chữ hương tâm, chứ không phải tấm lòng chất phác, quê mùa. Dợn là gợi lên, như ta nói sóng gợn chỉ một chất lỏng xao động chuyển động dâng lên, cuốn xuống. Dợn dợn là thấp, ý nói hô ứng với mấy chữ “sóng gợn”, “điệp điệp” ở dòng đầu bài thơ. Chính vì vậy mà nhà thơ phiền lòng khi thấy người ta đọc chệch thành dợn dợn hay rờn rợn làm mất nghĩa câu thơ.
Cả câu này có nghĩa là lòng nhớ quê hương dâng mãi lên khi phóng tầm mắt nhìn con nước. Chữ vời, cũng hay, ta cảm thấy như gặp ý câu Kiều:
Bốn phương mây trắng một màu
Trông vời cố quốc biết đâu là nhà?
Lòng nhớ quê được gợi lên từ mây trắng, từ cánh chim chiều, nhưng mạnh hơn là từ con nước. Và nhà thơ kết thúc bài thơ bằng câu: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Viết về câu thơ này chứng tỏ Huy Cận đã biết có câu thơ Thôi Hiệu trong bài Hoàng Hạc lâu do Tản Đà địch: “Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”. Nhà thơ dựa ý thơ Thôi Hiệu để nói ý mình.
Nhiều người, kể cả nhà thơ, khi đọc đến câu này đều nói rằng Huv Cận buồn hơn Thôi Hiệu, bởi Thôi Hiệu trong “khói sóng” mới nhớ nhà, còn Huy Cận thì ngược lại, “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Thực ra, ai buồn hơn ai làm sao mà xác định được. Điều quan trọng là Huy Cận có một ý thơ khác. Xưa Thôi Hiệu buồn vì cõi tiên mờ mịt, quê nhà cách xa, khói sóng trên sông gợi lên cảnh mù mịt mà sầu. Nay Huy Cận buồn trước không gian hoang vắng, sóng gợn tràng giang khiến ông nhớ tới quê hương như một nguồn ấm áp. Xưa Thôi Hiệu tìm giấc mơ tiên chỉ thấy hư vô, lòng khát khao một cõi quê hương thực tại. Nay Huy Cận một mình đối diện với khung cảnh vô tình, gợn lên nỗi khát khao quê nhà ấm áp. Một đằng là ý thức về thực tại, một đằng là ý thức về tình người.
Tràng giang là một bài thơ buồn, dòng nào cũng buồn. Cái buồn toát ra từ những vật bé mọn, như những kiếp người cô đơn, lạc lõng giữa không gian bao la. Nhưng Tràng giang là một bài thơ vẽ lên một phong cảnh đẹp, giàu màu sắc (núi bạc, bờ xanh, bãi vàng), nhiều đường nét hùng vĩ, mở ra vô tận (buồn điệp điệp, sâu chót vót, sông dài, trời rộng…), nhiều tương phản, nhiều động từ chỉ sức sống rộn ràng: sóng gợn, mây đùn, thuyền về, nước lại, nắng xuống, trời lên… Cái buồn của bài thơ rõ ràng không phải do cảnh vật tàn phai, không gian chật hẹp tù túng mọi vật chết chóc, ngưng đọng. Cái buồn như toát ra từ cấu tạo của thế giới, từ cái đẹp thiếu tình người, từ một sự mất mát các mối liên hệ có tính phổ quát gây nên. Một cái buồn đậm màu triết lí. Nỗi buồn này cũng phản ánh sự đổi thay của đời sống xã hội: xã hội cộng đồng truyền thống với vô vàn mối dây liên hệ đã đứt tung để thay vào một xã hội đô thị với những cái tôi rời rạc, bơ vơ.
Bài tham khảo Mẫu 11
Bài thơ “Xuân về” của Nguyễn Bính là một trong những tác phẩm tiêu biểu phản ánh vẻ đẹp bình dị, rộn ràng của mùa xuân trên làng quê Bắc Bộ, đồng thời bộc lộ tâm hồn nhạy cảm, yêu thiên nhiên và yêu đời của con người Việt Nam. Thông qua những hình ảnh giản dị nhưng giàu sức gợi, nhà thơ đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên mùa xuân tràn đầy sức sống, tươi mới, đồng thời gửi gắm tình cảm yêu đời, yêu quê hương sâu sắc. Bài thơ vừa phản ánh hiện thực thiên nhiên, vừa hòa quyện với cảm xúc của con người, tạo nên không gian trữ tình đậm chất dân gian mà gần gũi, thân quen.
Ngay từ những câu thơ mở đầu, Nguyễn Bính đã tạo nên khung cảnh mùa xuân tươi vui, rộn rã: cảnh vật tràn đầy sức sống, cây cối nảy lộc, hoa lá đua nở, chim chóc ríu rít. Những hình ảnh quen thuộc của làng quê như cánh đồng xanh mướt, mái nhà ngói đỏ, con đường làng, vườn cây, cánh én chao lượn trên bầu trời… khiến không gian hiện lên sinh động, gần gũi và chan chứa âm thanh, màu sắc của mùa xuân. Nhà thơ đã khéo léo sử dụng những chi tiết cụ thể nhưng gợi cảm, tạo cảm giác thiên nhiên vừa hiện thực vừa trữ tình, khiến người đọc như được hòa mình vào cảnh vật, cảm nhận nhịp sống tươi vui của một mùa xuân đầy hứng khởi.
Điểm nổi bật trong bài thơ là sự kết hợp giữa thiên nhiên và cảm xúc con người, làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn và đời sống tinh thần của con người làng quê. Mùa xuân không chỉ đẹp mà còn gợi niềm vui, sự thanh thản và hạnh phúc trong đời sống con người. Hình ảnh “tiếng cười trẻ thơ, hương bánh chưng, lá đào” không chỉ mô tả sinh hoạt đời thường mà còn mang âm hưởng trữ tình sâu sắc, gợi cảm giác ấm áp, gần gũi. Qua đó, Nguyễn Bính thể hiện niềm vui sống, lòng yêu thiên nhiên, yêu đời và sự hòa hợp giữa con người với cảnh vật. Thiên nhiên trong thơ ông không chỉ là cảnh đẹp mà còn là người bạn, là nguồn cảm hứng nuôi dưỡng tâm hồn, khiến con người thêm yêu đời, thêm gắn bó với quê hương.
Bên cạnh đó, bài thơ còn thể hiện giá trị nhân văn và triết lý đời sống sâu sắc. Mùa xuân trong “Xuân về” không chỉ là vẻ đẹp thiên nhiên mà còn là biểu tượng của sự sống mới, hy vọng và niềm vui tinh thần. Ngôn từ giản dị, nhịp điệu uyển chuyển, giàu âm hưởng dân gian tạo cho bài thơ cảm giác dễ chịu, nhẹ nhàng, gần gũi, giúp người đọc vừa chiêm nghiệm vẻ đẹp thiên nhiên vừa cảm nhận tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của con người. Các hình ảnh thiên nhiên vừa cụ thể vừa biểu tượng, vừa hiện thực vừa trữ tình, khiến bức tranh mùa xuân hiện lên sống động và giàu sức gợi. Những chi tiết tưởng bình dị như cánh én, nụ hoa, mái nhà, con đường làng lại trở nên đẹp đẽ và giàu giá trị biểu tượng, gợi nhắc về sự hòa hợp giữa thiên nhiên và con người, giữa đời sống vật chất và tinh thần.
Hơn nữa, “Xuân về” còn phản ánh vẻ đẹp văn hóa làng quê Bắc Bộ, gắn liền với phong tục, tập quán và đời sống tinh thần của người dân. Bài thơ ca ngợi không khí nhộn nhịp, đoàn tụ của người dân trong những ngày đầu xuân, với những nghi lễ, sinh hoạt dân gian, tạo cảm giác ấm áp, hạnh phúc. Qua đó, nhà thơ không chỉ miêu tả thiên nhiên mà còn tôn vinh những giá trị tinh thần, nhân văn, khơi gợi tình yêu quê hương, lòng trân trọng những vẻ đẹp giản dị mà sâu sắc trong đời sống dân dã.
Tóm lại, bài thơ “Xuân về” là tác phẩm mang đậm chất trữ tình dân gian, kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên, đời sống con người và cảm xúc trữ tình. Hình ảnh mùa xuân tràn đầy sức sống, sinh động và gần gũi được Nguyễn Bính vẽ nên bằng ngôn từ giản dị, nhịp điệu uyển chuyển và âm hưởng nhẹ nhàng, tạo nên bức tranh mùa xuân sống động và đậm chất Việt Nam. Qua bài thơ, nhà thơ gửi gắm tình yêu quê hương, niềm hạnh phúc giản dị trong đời sống làng quê, tinh thần hòa hợp giữa con người và thiên nhiên, và khơi dậy trong người đọc tình cảm yêu đời, yêu thiên nhiên và trân trọng những giá trị tinh thần giản dị nhưng sâu sắc. “Xuân về” vì vậy không chỉ là khúc ca mùa xuân mà còn là bài thơ giàu giá trị nhân văn và thẩm mỹ, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Bài tham khảo Mẫu 12
Bài thơ Nhớ ngoại của Bảo Ngọc là một tác phẩm trữ tình đậm chất quê hương, đượm buồn nhưng chan chứa tình cảm gia đình. Qua những hình ảnh thiên nhiên giản dị xen lẫn cảm xúc nhớ nhung, tác giả đã khắc họa một cách tinh tế hình bóng người ngoại – người bà hiền hậu, ân cần, luôn gắn bó với cội nguồn quê nhà. Bài thơ không chỉ là lời tâm sự của con cháu về những ký ức ngọt ngào, mà còn là bản hùng ca về tình mẫu tử, tình cảm gia đình bền chặt vượt qua thời gian và không gian.
Tác phẩm mở đầu bằng hình ảnh quê cũ, một miền đất trơ vắng, khi trời “thưa vắng”. Những cảnh vật quen thuộc như ngõ cúc, trầu, cau… được khắc họa trong trạng thái u sầu, lặng lẽ khi con người vắng bóng. Đây chính là bối cảnh để người đọc cảm nhận rõ nét nỗi nhớ, niềm khao khát về ngoại – hình ảnh gắn liền với ký ức tuổi thơ và những ngày tháng yên bình bên mái nhà nhỏ. Chủ đề của bài thơ là “nhớ ngoại” – lòng nhớ thương, nhớ về người bà hiền, người đã từng dìu dắt con cháu qua bao mùa xuân, hạ, thu, đông của cuộc đời. Qua đó, tác giả muốn gửi gắm thông điệp về giá trị của tình thân, sự gắn bó với cội nguồn và lòng biết ơn đối với những người đã vun đắp nền tảng cho cuộc sống.
Ngụp lặn trong trang thơ của Bảo Ngọc, ta như bước vào khoảng trời tuổi thơ xưa cũ ngập tràn những nhớ nhung:
“Con về quê cũ trời thưa vắng
Ngõ cúc buồn tênh dậu cúc già
Bên thềm trầu úa không người hái
Cau đã mấy mùa quên trổ hoa.”
Ở bốn câu thơ đầu, tác giả khắc họa một khung cảnh quê cũ hoang sơ, vắng vẻ với hình ảnh “trời thưa vắng”. Từ “thưa” gợi lên cảm giác trống trải, lặng thinh của thiên nhiên khi con người đã rời xa nơi này. Các hình ảnh như “ngõ cúc buồn tênh”, “dậu cúc già” không chỉ miêu tả vẻ đẹp của hoa mà còn ẩn chứa tâm trạng u sầu, lặng lẽ của không gian. Sự so sánh giữa “ngõ cúc” và “cúc già” tạo nên sự tương phản, như một phép ẩn dụ cho sự mất mát, cho nỗi nhớ về những điều vốn quý giá nhưng giờ đây dường như chỉ còn là những hình bóng nhạt nhòa. Tiếp đó, hình ảnh “thềm trầu” và “cau” cũng được đưa vào như những nhân chứng của thời gian. “Thềm trầu úa không người hái” và “cau đã mấy mùa quên trổ hoa” không chỉ cho thấy sự trơ vắng của con người mà còn là minh chứng cho sự phai nhạt của tuổi trẻ, của những ký ức đã qua. Qua đó, không gian quê hương dường như đang than thở, nhắc nhở con người nhớ về cội nguồn, về những giá trị truyền thống đã được vun đắp qua bao thế hệ.
Nỗi nhớ tràn đầy khung cảnh thiên nhiên, thấm đượm trong từng nét đất trời nỗi lòng người cháu:
“Nhớ xưa bóng ngoại nghiêng chiều nắng
Tóc trắng cùng mây trắng dưới trời
Xòe tay ngoại đếm từng thu cuối
Con nào hay biết mỗi thu vơi”
Đoạn tiếp theo là thời khắc linh thiêng của ký ức, khi hình ảnh ngoại hiện lên một cách sống động và gần gũi. “Bóng ngoại nghiêng chiều nắng” gợi lên hình ảnh người ngoại dịu dàng, nhẹ nhàng trong ánh nắng chiều tà – khoảnh khắc tràn đầy yên bình, ấm áp. Từng chi tiết như “tóc trắng cùng mây trắng dưới trời” làm tăng thêm vẻ đẹp trầm mặc của ngoại, như hình ảnh của sự hiền từ, dịu dàng và đầy kinh nghiệm. Tóc trắng của ngoại được so sánh với mây trắng trên bầu trời, vừa thể hiện sự già nua, vừa tôn vinh vẻ đẹp của sự thanh cao, tinh khôi. Câu “Xòe tay ngoại đếm từng thu cuối” là hình ảnh cực kỳ sống động, gợi mở cảm giác thân mật, gần gũi giữa người ngoại và con cháu. Hành động đếm “từng thu cuối” không chỉ là một thói quen quen thuộc mà còn là cách mà ngoại chia sẻ những bài học, những kinh nghiệm sống cho con cháu. Hình ảnh này khiến người đọc cảm nhận được sự dịu dàng, chân thành của ngoại – người đã từng chắp cánh cho những ước mơ tuổi trẻ, cho những niềm tin vào ngày mai. Câu “Con nào hay biết mỗi thu vơi” mở ra một suy tư về thời gian, về sự trôi qua không ngừng của năm tháng. Mỗi mùa thu mang một ý nghĩa riêng, một dấu ấn riêng của cuộc đời, nhưng đối với con cháu, mỗi thu luôn gắn liền với ký ức về ngoại – một sự nhắc nhở rằng, dù thời gian có trôi đi, thì hình bóng ngoại mãi in đậm trong tâm hồn.
Thế rồi cứ khát khao, khát khao những dấu chân tìm về chốn xưa cũ bên ngoại:
“Con đi mỗi bước xa, xa mãi
Dáng ngoại bên hiên. Nắng tắt dần
Lá nghiêng về cội con tìm ngoại
Tê tái chiều buông tím góc sân”
Đoạn cuối của bài thơ chuyển tải cảm xúc bàng hoàng của người con khi phải xa cách ngoại, khi mỗi bước đi trở nên nặng nề bởi nỗi nhớ. “Con đi mỗi bước xa, xa mãi” không chỉ là hành động di chuyển về phía trước mà còn là sự chia ly, là nỗi nhớ nhung dai dẳng của người con đối với ngoại. Hình ảnh “dáng ngoại bên hiên” như một bóng dáng mơ hồ, xuất hiện trong ký ức, luôn đồng hành cùng những lúc người con lạc lối giữa cuộc sống. “Nắng tắt dần” như là biểu tượng cho thời gian không ngừng trôi, cho những khoảnh khắc rực rỡ của quá khứ dần phai mờ theo cơn gió của hiện tại. Nhưng dù nắng tắt, hình ảnh ngoại vẫn luôn là nguồn sáng, là điểm tựa tinh thần giúp người con hướng về cội nguồn. Câu “Lá nghiêng về cội con tìm ngoại” chứa đựng khát khao trở về, trở lại với những giá trị xưa cũ, với nguồn cội đã nuôi dưỡng tâm hồn và bản sắc con người. “Tê tái chiều buông tím góc sân” là hình ảnh đậm chất trữ tình, khi mà chiều tà buông xuống, tâm hồn người con như chìm đắm trong nỗi nhớ, trong sự trống trải của khoảng không gian quen thuộc. Góc sân – nơi đã chứng kiến biết bao kỷ niệm, tiếng cười, tiếng nói của ngoại – giờ đây chỉ còn là khoảng trống lặng lẽ, gợi lên nỗi nhớ da diết, khao khát được trở về bên người thân yêu.
Bảo Ngọc đã vận dụng thành công các biện pháp nghệ thuật để khắc họa tâm trạng nhớ nhung và sự trống trải khi xa cách ngoại. Hình ảnh “tóc trắng cùng mây trắng dưới trời” không chỉ so sánh về màu sắc mà còn ngầm ẩn chứa ý nghĩa về sự thanh cao, hiền hậu của ngoại. Cùng với đó, hành động “đếm từng thu cuối” như một ẩn dụ cho việc đếm thời gian trôi qua, cho những ký ức quý giá không bao giờ phai nhạt. Việc nhân hóa thiên nhiên với cảm xúc của con người thể hiện rõ qua các hình ảnh như “ngõ cúc buồn tênh”, “nắng tắt dần” và “dáng ngoại bên hiên”. Những yếu tố vật chất, thiên nhiên như hoa, nắng, hiên nhà đều trở nên sống động, góp phần thể hiện tâm trạng của người con khi nhớ ngoại. Tác giả lặp lại những từ ngữ gợi nhớ về ngoại qua từng cảnh vật, từ hình ảnh ngoại bên hiên, từ hành động của ngoại đến những ký ức về mùa thu. Sự đối chiếu giữa quá khứ và hiện tại, giữa kỷ niệm và thực tại, tạo nên một sức mạnh cảm xúc mãnh liệt, khiến người đọc cảm nhận sâu sắc nỗi nhớ không thể nguôi ngoai.
Qua bài thơ Nhớ ngoại, Bảo Ngọc đã khắc họa thành công một bức tranh tình cảm gia đình đậm chất trữ tình, qua đó bộc lộ nỗi nhớ da diết của người con đối với ngoại. Những hình ảnh quê cũ trống trải, những cảnh vật thiên nhiên u sầu xen lẫn với ký ức tuổi thơ ấm áp đã tạo nên một không gian tâm hồn trầm tư, đầy cảm xúc. Bài thơ không chỉ là tiếng nói của lòng nhớ thương, của niềm khao khát trở về với cội nguồn, mà còn là lời ca ngợi tình mẫu tử, tình cảm gia đình thiêng liêng, bền vững theo thời gian. Trong cuộc sống hiện đại, khi con người ngày càng xa rời nhau vì những lý do công việc, học tập hay cuộc sống đô thị sôi động, những ký ức về gia đình, về ngoại – những người đã từng dìu dắt và vun đắp cho chúng ta – lại càng trở nên quý giá hơn bao giờ hết. Nhớ ngoại của Bảo Ngọc như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng sâu sắc rằng, dù thời gian có trôi qua, dù chúng ta có đi đâu, thì nguồn cội, tình cảm gia đình luôn là nơi trở về bình yên, là ngọn đèn soi sáng dẫn lối trong cuộc đời. Nhờ đó, bài thơ đã để lại trong lòng người đọc một ấn tượng khó phai về vẻ đẹp của tình thân, của ký ức ngọt ngào và những giá trị nhân văn trường tồn.
Qua từng câu chữ, Bảo Ngọc không chỉ kể lại câu chuyện riêng của mình mà còn mở ra một không gian cảm xúc chung, khiến mỗi người, mỗi trái tim xa xứ, đều cảm nhận được sự ấm áp, dịu dàng của tình ngoại – tình yêu thương không bao giờ phai nhạt theo năm tháng.
Bài tham khảo Mẫu 13
“Bác ơi” là một bài thơ của nhà thơ Tố Hữu viết về vị lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta. Vào ngày 2-9-1969, Bác đã mãi mãi ra đi, bỏ lại sau lưng cả giang sơn, cả đất nước, cả đồng bào để đi vào cõi vĩnh hằng. Người ta kể lại rằng hôm Bác mất, trời mưa rất to, cả dân tộc Việt Nam cùng khóc tiếc thương cho vị cha già của dân tộc.
Bác đi rồi, cả một cuộc đời vì dân vì nước, chưa bao giờ Bác suy tính điều gì cho chính bản thân mình. Vậy mà khi đất nước đã giành được độc lập, cả mong ước vào thăm miền Nam của Bác cũng không bao giờ thực hiện được. Lúc bác mất người dân thương tiếc đến độ những người chưa làm thơ cũng làm thơ về Bác.
Bài thơ “Bác ơi” của Tố Hữu được coi như một bài điếu văn tiễn biệt người ra đi, và ở khổ thơ thứ nhất, tác giả đã dồn hết tâm can của mình để tưởng nhớ và tiếc thương Bác. “Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa”.
"Mấy hôm" ở đây chính là những ngày sau khi bác mất, đây là nỗi đau lớn của dân tộc Việt Nam, mới hôm qua đây thôi, Bác còn khỏe mạnh, còn chỉ đạo anh em cán bộ, nào ngờ từ năm 1965, Bác nói rằng đã tự nhìn thấy ngày phải vĩnh biệt cõi đời. Bác Hồ một đời luôn nghĩ cho dân cho nước lại có thể suy nghĩ như vậy, thực khiến cho ai cũng cảm thấy xót xa.
Bước sang năm 1969, sức khỏe của Bác đã không còn tốt nữa, nhưng trong những vần thơ Bác viết, vẫn chứa đựng niềm tin mãnh liệt vào một tương lai tươi sáng cho dân tộc. Hà Nội vào thu trời trở lạnh, ngày 18-8-1969, nhà sàn đã lần cuối cùng được hơi ấm của Bác Hồ.
Ngày 24-8-1969, Bác ốm nặng, nhưng vẫn lo lắng cho vạn vật ngoài kia, Bác biết nước lên cao, các chiến sĩ ngỏ ý muốn đưa Bác đến nơi an toàn hơn, nhưng Bác vẫn một mực muốn ở lại với nhân dân. Bác lịm đi nhiều lần, nhưng mỗi lần tỉnh lại, Bác luôn luôn hỏi miền Nam đánh thắng đâu, giá như dòng chảy lịch sử có thể nhanh hơn một chút, có thể đẩy nhanh chiến thắng để có thể tiễn Bác ra đi thanh thản.
Ngày 2-9-1969, Bác trút hơi thở cuối cùng, đúng vào ngày Bác đã khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Mấy ngày sau đó cả dân tộc như nấc nghẹn, trọn một cuộc đời Bác có bao giờ được ngủ yên, bây giờ Bác ngủ cả giang sơn canh Bác ngủ. “ Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa”
Trong những ngày Bác mất, cả dân tộc Việt Nam, cả những chiến sĩ trước giờ chưa hề rơi nước mắt vì súng bom khói lửa, bây giờ ai nấy đều bưng mặt khóc như đứa trẻ con, tiếng khóc cất lên nghẹn ngào, có một nỗi đau to lớn len lỏi vào từng trái tim những người dân Việt Nam cũng như bạn bè khắp năm châu.
Mấy ngày tiễn Bác trời mưa tầm tã, đất trời dường như hòa chung vào nỗi đau của cả dân tộc Việt Nam. Đó là một nỗi mất mát, nỗi đau khôn nguôi của cả dân tộc. Hàng triệu con người hướng về Hà Nội, hướng về một con người như dòng suối mát, thanh khiết, trong sáng như tấm lòng của Bác đối với con dân Việt Nam.
“Chiều nay con chạy về thăm Bác
Ướt lạnh vườn cau, mấy gốc dừa”
Nhà thơ về thăm Bác, nhưng ôi thôi, Bác còn đâu nữa, Bác đã đi về miền cực lạc, không kịp nữa rồi, giờ chỉ còn lại cảnh vật. Nhà sàn, vườn cau, gốc dừa vẫn còn đó, nhưng người nay đã không còn, hơi ấm của người cũng đã dứt, để lại cái lạnh lẽo cho cảnh vật, cho tác giả, cho cả dân tộc.
Bác đến với cuộc đời với màu áo nâu sần, nay Bác ra đi với bộ quần áo trắng, một con người luôn luôn sống tiết kiệm, giản dị cho đến những giây phút cuối đời. Lúc này đây, trên thế giới, không kể màu da, tiếng nói đều đang hướng trái tim về hòa cùng nỗi đau cùng mấy mươi triệu đồng bào ta đưa tiễn vị cha già của dân tộc.
Bác Hồ đã ra đi, Tố Hữu đã thốt lên tiếng gọi như xé lòng “Bác ơi!” nghe đau xót biết bao nhiêu. Bác đã ra đi nhưng niềm trăn trở của Bác đã được dân tộc thành toại. Bác sống mãi trong lòng của mỗi người dân chúng ta.
Bài tham khảo Mẫu 14
Bài thơ “Tiếng đầu con gọi” của Tô Hà là một trong những tác phẩm trữ tình hiện đại Việt Nam, thể hiện tình cảm thiêng liêng, sâu sắc của người mẹ đối với con. Thông qua những hình ảnh giản dị, chân thật nhưng giàu sức gợi, tác giả đã vẽ nên những cảm xúc hạnh phúc, lo lắng, đằm thắm của người mẹ khi nghe tiếng con cất lên lần đầu. Bài thơ không chỉ phản ánh hiện thực gia đình mà còn khắc họa tình mẫu tử, một trong những tình cảm cao đẹp và vĩnh cửu nhất của con người. Ngôn từ giản dị, nhịp điệu uyển chuyển, hình ảnh sinh động và giàu âm hưởng khiến bài thơ vừa gần gũi vừa xúc động, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Ngay từ những câu thơ đầu, Tô Hà đã tạo ra bức tranh cảm xúc tràn đầy hạnh phúc: niềm vui, xúc động khi nghe tiếng con gọi lần đầu. Tiếng gọi ấy không chỉ là âm thanh của trẻ thơ mà còn là biểu tượng của sự sống, của tình thương và niềm hạnh phúc gia đình. Hình ảnh người mẹ lắng nghe, dõi theo từng cử chỉ của con được tác giả khắc họa tinh tế, khiến cảm xúc chân thực và sâu lắng lan tỏa. Tiếng con gọi đầu tiên như đánh thức tình mẫu tử, gợi cảm giác thiêng liêng, ấm áp và tràn đầy yêu thương, làm nổi bật mối gắn kết đặc biệt giữa mẹ và con.
Bài thơ còn thể hiện sự nhạy cảm, tinh tế trong quan sát và cảm xúc của người mẹ. Những chi tiết nhỏ, tưởng chừng bình dị như tiếng khóc, tiếng cười, cử chỉ của trẻ, nhưng qua lăng kính cảm xúc của mẹ, trở nên ý nghĩa, gợi cảm xúc mãnh liệt. Tác giả sử dụng ngôn từ giản dị nhưng giàu nhạc tính, nhịp điệu linh hoạt, khiến từng câu thơ vừa nhẹ nhàng, êm dịu, vừa dạt dào cảm xúc, tạo nên không gian tràn ngập tình yêu thương. Hình ảnh âm thanh và cử chỉ kết hợp với cảm xúc nội tâm làm nổi bật sự gần gũi, gắn bó và tình thương vô điều kiện của mẹ dành cho con.
Ngoài ra, bài thơ còn phản ánh giá trị nhân văn sâu sắc. Tiếng gọi của trẻ thơ không chỉ mang ý nghĩa cá nhân mà còn tượng trưng cho niềm hi vọng, sự tiếp nối và sức sống của cuộc đời. Qua tiếng gọi ấy, người mẹ nhận ra trách nhiệm và niềm hạnh phúc của việc chăm sóc, nuôi dưỡng con, đồng thời cảm nhận được sự gắn bó giữa các thế hệ trong gia đình. Bài thơ vì vậy không chỉ là lời kể về tình mẫu tử mà còn là lời nhắc nhở về giá trị của sự yêu thương, chăm sóc và trân trọng những mối quan hệ gia đình thiêng liêng.
Hình ảnh, âm thanh và cảm xúc trong “Tiếng đầu con gọi” kết hợp hài hòa, tạo nên sức lay động mạnh mẽ đối với người đọc. Người đọc không chỉ nhìn thấy cảnh sinh hoạt gia đình mà còn cảm nhận được tâm hồn, tình cảm và nỗi niềm sâu sắc của người mẹ. Bằng cách khéo léo kết hợp hiện thực và biểu tượng, tác giả làm nổi bật tình cảm mẫu tử, gắn bó gia đình và niềm hạnh phúc đời thường, đồng thời nhấn mạnh ý nghĩa nhân văn, tinh thần sống đẹp và cao quý của con người.
Tóm lại, “Tiếng đầu con gọi” là bài thơ giàu cảm xúc, biểu tượng và giá trị nhân văn. Thông qua hình ảnh tiếng gọi đầu tiên của trẻ, Tô Hà đã khắc họa tình mẫu tử thiêng liêng, sự gắn bó giữa con người với con người, giữa các thế hệ trong gia đình. Ngôn từ giản dị, hình ảnh sinh động và nhịp điệu uyển chuyển khiến bài thơ vừa gần gũi, vừa xúc động, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Qua đó, tác phẩm gửi gắm thông điệp về tình yêu thương, trách nhiệm và hạnh phúc trong gia đình, nhắc nhở con người biết trân trọng và gìn giữ những giá trị thiêng liêng trong đời sống gia đình và tình mẫu tử.
Bài tham khảo Mẫu 15
Bài thơ “Bữa cơm quê” của Đoàn Văn Cừ là một tác phẩm trữ tình hiện đại Việt Nam, thể hiện vẻ đẹp bình dị, ấm áp và đậm chất quê hương trong đời sống làng quê. Thông qua những hình ảnh sinh động, gần gũi, tác giả đã khắc họa bữa cơm gia đình không chỉ là một bữa ăn đơn thuần mà còn là biểu tượng của tình cảm gắn bó, yêu thương và nét văn hóa truyền thống. Bài thơ khiến người đọc cảm nhận được sự chan hòa của con người với thiên nhiên, với đất đai và với nhau, đồng thời gửi gắm thông điệp về giá trị tinh thần của đời sống giản dị mà sâu sắc.
Ngay từ những câu mở đầu, Đoàn Văn Cừ đã vẽ nên khung cảnh bữa cơm quê yên bình và đầm ấm. Hình ảnh những món ăn dân dã, bàn tay khéo léo của người mẹ chuẩn bị, hương thơm của cơm, canh và rau cỏ khiến bữa cơm trở nên gần gũi và tràn đầy tình thương. Những chi tiết tưởng như đời thường này lại gợi lên cảm xúc ấm áp, thân thuộc, phản ánh sự gắn bó mật thiết giữa con người với quê hương, đất đai và gia đình. Qua đó, bữa cơm không chỉ là vật chất mà còn là biểu tượng của tình cảm, sự chăm sóc và trách nhiệm trong gia đình.
Điểm nổi bật trong bài thơ là sự kết hợp giữa cảm xúc và hình ảnh sinh hoạt đời thường, khiến cảnh vật trở nên sống động và giàu sức gợi. Tác giả khéo léo miêu tả những chi tiết cụ thể như “mâm cơm nghi ngút khói”, “rau luộc xanh tươi”, “mùi cá kho thơm nồng”, vừa tạo hình ảnh thị giác, khứu giác, vừa khơi gợi cảm xúc của người đọc. Những chi tiết nhỏ nhưng giàu nhịp điệu này khiến bữa cơm trở thành hình ảnh biểu tượng cho sự đầm ấm, hạnh phúc giản dị và sự đoàn tụ trong đời sống làng quê. Nhờ vậy, bài thơ không chỉ hiện thực mà còn giàu giá trị trữ tình và biểu tượng.
Ngoài ra, “Bữa cơm quê” còn thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc. Bữa cơm không chỉ là vật chất mà còn là dịp gắn kết các thành viên trong gia đình, là nơi thể hiện tình cảm, sự quan tâm và hy sinh thầm lặng của cha mẹ. Tác giả đã khéo léo lồng ghép cảm xúc cá nhân với giá trị cộng đồng, làm nổi bật ý nghĩa tinh thần của bữa cơm trong việc nuôi dưỡng tình cảm gia đình, gìn giữ nét văn hóa truyền thống và nhắc nhở con người biết trân trọng những điều bình dị mà quý giá trong cuộc sống.
Ngôn từ trong bài thơ giản dị, nhẹ nhàng, giàu nhịp điệu và âm hưởng dân gian, giúp người đọc vừa hình dung bức tranh sinh hoạt đời thường vừa cảm nhận được tình cảm chan chứa trong từng chi tiết. Hình ảnh bữa cơm vừa hiện thực vừa biểu tượng, vừa đời thường vừa trữ tình, khiến bài thơ trở nên sống động, dễ đồng cảm và để lại ấn tượng sâu sắc về tình quê, tình người và sự giản dị mà đầy đủ của đời sống làng quê Việt Nam.
Tóm lại, “Bữa cơm quê” là bài thơ giàu trữ tình, nhân văn và giá trị biểu tượng. Qua hình ảnh bữa cơm giản dị, Đoàn Văn Cừ không chỉ miêu tả cảnh sinh hoạt đời thường mà còn thể hiện tình cảm gia đình, sự gắn bó với quê hương, đất đai và văn hóa dân gian. Ngôn từ giản dị, hình ảnh sinh động và nhịp điệu uyển chuyển khiến bài thơ vừa gần gũi, vừa xúc động, tạo nên một bức tranh làng quê đậm đà hương vị cuộc sống, đồng thời nhắc nhở con người biết trân trọng những giá trị bình dị nhưng thiêng liêng của gia đình và quê hương.
Các bài khác cùng chuyên mục
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Tết này nhớ mẹ (Nguyễn Trọng Tạo)
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Con nợ mẹ (Nguyễn Văn Chung) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Mẹ (Trần Quốc Minh) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Nghề giáo tôi yêu (Đinh Văn Nhã) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Thời nắng xanh (Trương Nam Hương) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Tết này nhớ mẹ (Nguyễn Trọng Tạo)
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Con nợ mẹ (Nguyễn Văn Chung) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Mẹ (Trần Quốc Minh) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Nghề giáo tôi yêu (Đinh Văn Nhã) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Thời nắng xanh (Trương Nam Hương) hay nhất




Danh sách bình luận