1001+ bài văn nghị luận văn học hay nhất cho mọi thể loại
200+ bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ tự do Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Em kể chuyện này (Trần Đăng Khoa) hay nhất>
I. Mở bài - Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Trần Đăng Khoa - "thần đồng thơ" với hồn thơ trong sáng, gần gũi. Bài thơ "Em kể chuyện này" (nằm trong tập Góc sân và khoảng trời) là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ viết về thiên nhiên qua lăng kính trẻ thơ.
Dàn ý
I. Mở bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Trần Đăng Khoa - "thần đồng thơ" với hồn thơ trong sáng, gần gũi. Bài thơ "Em kể chuyện này" (nằm trong tập Góc sân và khoảng trời) là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ viết về thiên nhiên qua lăng kính trẻ thơ.
- Nêu vấn đề cần nghị luận: Bài thơ khắc họa bức tranh đồng quê sống động, tươi mới và giàu sức sống qua nghệ thuật nhân hóa độc đáo.
II. Thân bài
1. Bức tranh thiên nhiên sống động, hữu tình (Hình ảnh "đàn cò" và "ánh nắng")
- Câu thơ: "Em kể chuyện này / Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng qua sông"
- Phân tích: Hình ảnh nhân hóa "đàn cò áo trắng" và hành động "khiêng nắng" rất độc đáo. Cò không chỉ bay mà đang "khiêng" nắng, biến ánh nắng thành vật thể hữu hình, lung linh, tươi đẹp.
- Ý nghĩa: Gợi lên vẻ đẹp thanh thoát, yên bình của làng quê, thể hiện cái nhìn tinh tế của tác giả.
2. Sự nhân hóa thiên nhiên gần gũi, đáng yêu (Hình ảnh "gió" và "mây")
- Câu thơ: "Cô gió chăn mây / Trên đồng xanh ngát"
- Phân tích: Gió được nhân hóa thành "cô", mây được ví như đàn cừu/gia súc được "chăn". Hành động "chăn mây" tạo cảm giác dịu dàng, chăm chút, thiên nhiên trở nên thân thiết như con người.
- Ý nghĩa: Thể hiện tình yêu thiên nhiên, sự gắn bó của tâm hồn trẻ thơ với cảnh vật xung quanh.
3. Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ nhưng gần gũi (Hình ảnh "mặt trời")
- Câu thơ: "Bác mặt trời đạp xe / Qua đỉnh núi"
- Phân tích: Mặt trời được nhân hóa là "Bác" với hành động "đạp xe". Cách hình dung này biến hiện tượng tự nhiên thành một người lao động chăm chỉ, mạnh mẽ, mang ánh sáng đến cho đời.
- Ý nghĩa: Sự kết hợp giữa cái hùng vĩ và sự gần gũi, tạo nên một thế giới diệu kỳ, vui nhộn.
4. Nghệ thuật đặc sắc
- Sử dụng biện pháp nhân hóa xuyên suốt, tài tình.
- Ngôn ngữ thơ hồn nhiên, giản dị, gần gũi với giọng kể chuyện của trẻ thơ.
- Hình ảnh thơ giàu sức gợi, đầy màu sắc và ánh sáng.
III. Kết bài
- Khái quát giá trị bài thơ: "Em kể chuyện này" là bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp, tràn đầy sức sống và đậm chất thơ.
- Dấu ấn tác giả: Khẳng định tài năng của Trần Đăng Khoa trong việc nhìn nhận thế giới qua lăng kính trong sáng, yêu đời.
- Bài học/Cảm xúc: Bài thơ khơi dậy tình yêu thiên nhiên và cái nhìn tích cực, đáng yêu về cuộc sống xung quanh.
Bài siêu ngắn Mẫu 1
Trần Đăng Khoa là nhà thơ nổi tiếng với hồn thơ hồn nhiên, trong trẻo và giàu sức tưởng tượng. Bài thơ “Em kể chuyện này” đã vẽ nên một bức tranh làng quê thật sinh động qua những hình ảnh rất gần gũi như lúa, tre, cò, gió, mặt trời.
Trong bài thơ, tác giả sử dụng nhiều biện pháp nhân hóa độc đáo: “Chị lúa phất phơ bím tóc”, “Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học”, “Cô gió chăn mây trên đồng”, “Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi”. Nhờ đó, thiên nhiên hiện lên như có linh hồn, có cử chỉ và hoạt động giống con người. Đặc biệt, hình ảnh “Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông” vừa đẹp vừa giàu chất thơ, làm sáng bừng cả không gian đồng quê. Qua những câu thơ ngắn gọn, tác giả đã thể hiện trí tưởng tượng phong phú và tình yêu tha thiết với quê hương.
Tóm lại, bài thơ “Em kể chuyện này” không chỉ cho thấy vẻ đẹp tươi vui, trong trẻo của làng quê Việt Nam mà còn thể hiện tâm hồn trẻ thơ hồn nhiên, tinh tế của Trần Đăng Khoa.
Bài siêu ngắn Mẫu 2
Bài thơ “Em kể chuyện này” của Trần Đăng Khoa là một bức tranh thiên nhiên đồng quê đầy màu sắc và sức sống. Với cách quan sát tinh tế cùng trí tưởng tượng bay bổng, tác giả đã làm cho những cảnh vật quen thuộc trở nên gần gũi và đáng yêu hơn.
Mở đầu bài thơ là hình ảnh “Chị lúa phất phơ bím tóc”, gợi ra vẻ mềm mại, duyên dáng của đồng lúa quê hương. Tiếp đó, “Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học” lại cho thấy sự ngộ nghĩnh, hồn nhiên trong cách nhìn của nhà thơ. Đặc sắc hơn cả là hình ảnh “Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông”, vừa gợi hình vừa gợi cảm, làm cho bức tranh quê trở nên sáng trong và thơ mộng. Những câu thơ cuối với “Cô gió”, “Bác mặt trời” tiếp tục góp phần tạo nên một thế giới thiên nhiên sống động như con người.
Bằng nghệ thuật nhân hóa đặc sắc, ngôn ngữ giản dị mà giàu hình ảnh, bài thơ đã thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu làng quê tha thiết của tác giả. Đây là một bài thơ ngắn nhưng để lại nhiều ấn tượng đẹp trong lòng người đọc.
Bài siêu ngắn Mẫu 3
Trong số những bài thơ viết về quê hương của Trần Đăng Khoa, “Em kể chuyện này” là một bài thơ ngắn nhưng rất đặc sắc. Chỉ với vài câu thơ, tác giả đã làm hiện lên một không gian đồng quê thanh bình, tươi sáng và tràn đầy sức sống.
Bài thơ nổi bật ở nghệ thuật nhân hóa. Lúa được gọi là “chị lúa”, tre là “những cậu tre”, gió là “cô gió”, còn mặt trời là “bác mặt trời”. Cách gọi ấy khiến thiên nhiên trở nên thân thuộc như những con người trong cuộc sống hằng ngày. Hình ảnh “Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông” đặc biệt ấn tượng, thể hiện trí tưởng tượng đẹp đẽ và hồn nhiên của nhà thơ. Qua đó, người đọc cảm nhận được vẻ đẹp bình dị mà thơ mộng của làng quê Việt Nam.
Có thể nói, “Em kể chuyện này” là bài thơ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc. Tác phẩm không chỉ ca ngợi thiên nhiên quê hương mà còn cho thấy tâm hồn trong sáng, đáng yêu của một nhà thơ thiếu nhi tài năng.
Bài tham khảo Mẫu 1
Trần Đăng Khoa là một trong những nhà thơ thiếu nhi tiêu biểu của văn học Việt Nam. Thơ ông thường có cách nhìn rất riêng: hồn nhiên, trong trẻo nhưng vô cùng tinh tế. Chỉ từ những cảnh vật bình dị của làng quê, nhà thơ vẫn có thể tạo nên một thế giới sống động, đầy màu sắc và giàu sức gợi. bài thơ:
“Chị lúa phất phơ bím tóc
Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học
Đàn cò áo trắng
Khiêng nắng
Qua sông
Cô gió chăn mây trên đồng
Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi.”
là một minh chứng tiêu biểu. Bằng trí tưởng tượng phong phú cùng biện pháp nhân hóa đặc sắc, tác giả đã vẽ nên một bức tranh đồng quê tươi sáng, ngộ nghĩnh và tràn đầy sức sống.
Trước hết, bài thơ hấp dẫn người đọc ở cách cảm nhận thiên nhiên vô cùng hồn nhiên, đáng yêu. Mở đầu là hình ảnh: “Chị lúa phất phơ bím tóc”. Cây lúa vốn quen thuộc nơi làng quê nay hiện lên như một cô gái dịu dàng, duyên dáng. Từ “chị” gợi sự thân mật, gần gũi, còn hình ảnh “bím tóc” khiến những bông lúa đang lay động trong gió trở nên mềm mại, nữ tính. Chỉ bằng một câu thơ ngắn, nhà thơ đã làm cho đồng lúa không còn tĩnh lặng mà như đang có hồn, có dáng, có nét đẹp rất riêng.
Nếu hình ảnh “chị lúa” mang vẻ đẹp dịu dàng thì câu thơ “Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học” lại đem đến nét tinh nghịch, hồn nhiên. Hàng tre bên làng vốn đứng thành bụi, thành hàng, nay qua con mắt trẻ thơ của Trần Đăng Khoa lại giống như những cậu học trò đang bá vai nhau trò chuyện. Từ láy “thì thầm” gợi âm thanh khe khẽ, khiến cảnh vật như có tiếng nói riêng. Câu thơ không chỉ cho thấy trí tưởng tượng phong phú mà còn gợi lên không khí thân thuộc, yên bình của làng quê Việt Nam, nơi tre từ lâu đã trở thành biểu tượng của sức sống và sự gắn bó. Đặc biệt, ba câu thơ:
“Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông” là một phát hiện rất độc đáo. Cánh cò trắng được gọi là “áo trắng”, làm nổi bật vẻ đẹp tinh khôi, thanh thoát. Hơn thế, tác giả dùng động từ “khiêng” để biến ánh nắng trở thành một vật thể hữu hình, như thể đàn cò đang chung sức chuyên chở nắng qua sông. Đây là một liên tưởng bất ngờ, thú vị, rất trẻ thơ mà cũng rất thơ. Nhờ đó, bức tranh thiên nhiên không chỉ có màu sắc mà còn có sự vận động nhịp nhàng, nhẹ nhàng và đầy chất mộng.
Không dừng lại ở đó, hai câu cuối tiếp tục mở rộng bức tranh quê bằng những hình ảnh đầy sáng tạo: “Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi.” Gió được nhân hóa thành một “cô” đang chăn mây như người mục đồng chăn trâu, còn mặt trời lại trở thành một “bác” đang đạp xe qua đỉnh núi. Những hình ảnh ấy khiến cả vũ trụ như gần gũi với con người, như cùng tham gia vào nhịp sống lao động bình dị của làng quê. Qua đó, ta thấy thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa không hề xa lạ mà vô cùng thân thiết, sống động, mang hơi thở của cuộc đời.
Về nghệ thuật, bài thơ thành công nổi bật nhờ biện pháp nhân hóa được sử dụng liên tiếp và rất tự nhiên: “chị lúa”, “cậu tre”, “cô gió”, “bác mặt trời”. Cách gọi ấy khiến cảnh vật hiện lên như một đại gia đình đông vui, ấm áp. Bên cạnh đó, ngôn ngữ thơ ngắn gọn, giàu hình ảnh, nhịp thơ linh hoạt đã góp phần tạo nên chất hồn nhiên, nhí nhảnh cho đoạn thơ. Đặc biệt, trí tưởng tượng bay bổng của nhà thơ đã làm cho bức tranh làng quê trở nên vừa chân thực vừa mơ mộng.
Qua bài thơ, người đọc không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp thanh bình, tươi sáng của thiên nhiên quê hương mà còn thấy được tâm hồn nhạy cảm, trong veo của nhà thơ. Trần Đăng Khoa đã nhìn cảnh vật bằng đôi mắt trẻ thơ nên mọi thứ đều trở nên có linh hồn, có chuyển động, có niềm vui. Chính điều đó làm nên sức hấp dẫn riêng cho thơ ông.
Tóm lại, với vài câu thơ ngắn gọn, Trần Đăng Khoa đã vẽ nên một bức tranh làng quê đầy màu sắc, âm thanh và sức sống. Bằng nghệ thuật nhân hóa đặc sắc cùng trí tưởng tượng phong phú, nhà thơ đã khiến lúa, tre, cò, gió, mặt trời đều trở thành những hình ảnh gần gũi, đáng yêu. Bài thơ không chỉ thể hiện tình yêu tha thiết với thiên nhiên quê hương mà còn cho thấy vẻ đẹp trong trẻo, hồn nhiên của tâm hồn trẻ nhỏ.
Bài tham khảo Mẫu 2
Trần Đăng Khoa là nhà thơ nổi tiếng với những vần thơ viết về làng quê bằng cái nhìn rất hồn nhiên và độc đáo. Thơ ông thường khiến những sự vật quen thuộc trở nên sống động, gần gũi như con người. Bài thơ: “Chị lúa phất phơ bím tóc / Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học / Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông / Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi” là một đoạn thơ tiêu biểu như thế. Bằng trí tưởng tượng phong phú và nghệ thuật nhân hóa đặc sắc, tác giả đã vẽ nên bức tranh đồng quê tươi đẹp, tràn đầy sức sống.
Trước hết, bài thơ mở ra bằng hình ảnh rất duyên dáng: “Chị lúa phất phơ bím tóc”. Cây lúa vốn là hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam, nhưng dưới ngòi bút của nhà thơ, lúa không chỉ là cây lúa nữa mà đã trở thành một “chị lúa” dịu dàng, nữ tính. Hình ảnh “bím tóc” gợi liên tưởng đến những bông lúa mềm mại đang lay động trong gió. Từ “phất phơ” lại làm cho cả cánh đồng như đang chuyển động nhẹ nhàng, uyển chuyển. Qua đó, ta thấy được vẻ đẹp êm đềm, duyên dáng của đồng lúa quê hương.
Không chỉ có lúa, tre cũng hiện lên thật ngộ nghĩnh trong câu thơ: “Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học”. Tre vốn gắn bó với làng quê, với con người Việt Nam. Ở đây, tác giả gọi tre là “những cậu tre”, khiến hàng tre trở thành những cậu học trò nhỏ đang bá vai nhau, thì thầm trò chuyện. Cụm từ “đứng học” vừa gợi sự nghiêm túc vừa mang nét hồn nhiên, tinh nghịch. Cách nhân hóa ấy làm cho tre không còn vô tri mà có tâm hồn, có dáng vẻ rất đáng yêu.
Đặc sắc hơn cả là hình ảnh: “Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông”. Chỉ bằng ba dòng thơ ngắn, tác giả đã tạo nên một liên tưởng rất đẹp. Cánh cò trắng được gọi là “áo trắng”, vừa gợi màu sắc tinh khôi vừa khiến đàn cò như những con người đang lao động. Từ “khiêng” được dùng rất lạ, khiến ánh nắng như có hình khối và đàn cò như đang chung sức mang nắng qua sông. Hình ảnh ấy không chỉ giàu chất thơ mà còn làm hiện lên vẻ đẹp thanh bình, sáng trong của làng quê.
Hai câu thơ cuối tiếp tục làm cho bức tranh thiên nhiên thêm rộng mở: “Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi.” Gió trở thành một “cô” dịu dàng, còn mặt trời là một “bác” gần gũi, thân thuộc. Những động từ “chăn”, “đạp xe” khiến thiên nhiên như mang nhịp sống của con người. Cả bầu trời, cánh đồng, đỉnh núi đều như đang cùng vận động trong một buổi sáng yên bình và vui tươi.
Về nghệ thuật, bài thơ nổi bật với biện pháp nhân hóa được sử dụng liên tiếp, sáng tạo. Tác giả đã dùng những cách gọi thân mật như “chị”, “cậu”, “cô”, “bác” để làm cho thiên nhiên trở nên gần gũi như một gia đình lớn. Ngôn ngữ thơ ngắn gọn, giàu hình ảnh, nhịp điệu linh hoạt cũng góp phần tạo nên sự hồn nhiên, trong sáng cho đoạn thơ.
Tóm lại, bài thơ đã khắc họa thành công bức tranh làng quê tươi đẹp, sống động bằng đôi mắt trẻ thơ đầy yêu thương. Qua đó, Trần Đăng Khoa không chỉ thể hiện tình yêu với thiên nhiên quê hương mà còn cho thấy một tâm hồn nhạy cảm, trí tưởng tượng phong phú. Đọc bài thơ, em cảm nhận được vẻ đẹp bình dị mà rất đỗi nên thơ của làng quê Việt Nam.
Bài tham khảo Mẫu 3
Có những bài thơ chỉ vài câu ngắn nhưng đủ khiến người đọc nhớ mãi bởi vẻ đẹp trong trẻo và cách nhìn rất riêng. Bài thơ của Trần Đăng Khoa là một đoạn thơ như vậy. Với những câu thơ giàu hình ảnh: “Chị lúa phất phơ bím tóc… Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi”, nhà thơ đã làm cho cảnh vật làng quê hiện lên vừa quen thuộc vừa mới lạ. Qua đó, người đọc cảm nhận được tình yêu tha thiết với quê hương cùng tâm hồn trẻ thơ hồn nhiên, bay bổng của tác giả.
Điểm nổi bật nhất của đoạn thơ là nghệ thuật nhân hóa. Tác giả không nhìn thiên nhiên như những sự vật vô tri mà nhìn chúng như những con người có hình dáng, tính cách, hoạt động riêng. “Chị lúa phất phơ bím tóc” là một hình ảnh rất đẹp. Bông lúa trong gió được ví như bím tóc của người con gái. Cách gọi “chị lúa” khiến cây lúa trở nên mềm mại, gần gũi và có hồn hơn. Qua đó, cánh đồng lúa quê hương hiện lên không chỉ trù phú mà còn duyên dáng, đáng yêu.
Sau lúa là tre. “Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học” gợi ra hình ảnh hàng tre thân quen ở làng quê Việt Nam. Tre đứng sát nhau, thân tre nghiêng vào nhau nên tác giả liên tưởng đến những cậu học trò bá vai nhau. Từ “thì thầm” làm cho hàng tre như đang trò chuyện nhỏ nhẹ. Hình ảnh ấy vừa vui nhộn, vừa thể hiện trí tưởng tượng vô cùng phong phú của nhà thơ. Qua con mắt trẻ thơ, cảnh vật như cũng có đời sống riêng, cũng biết học hành, trò chuyện như con người.
Ba dòng thơ: “Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông” là một nét chấm phá rất độc đáo. Từ “áo trắng” làm nổi bật màu cánh cò và gợi cảm giác thanh sạch, nhẹ nhàng. Đặc biệt, động từ “khiêng” đã tạo nên một liên tưởng rất bất ngờ: ánh nắng như một vật có thể được mang đi, còn đàn cò như những người đang chuyên chở nắng qua sông. Hình ảnh thơ vừa thực vừa mơ, cho thấy khả năng quan sát tinh tế và trí tưởng tượng đáng yêu của tác giả.
Ở hai câu cuối, cảnh vật tiếp tục được mở rộng và vận động mạnh hơn: “Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi.” Những hình ảnh ấy gợi cảm giác thiên nhiên đang chuyển động nhịp nhàng. Gió, mây, mặt trời đều mang dáng dấp con người. Nhờ vậy, bức tranh quê không hề tĩnh lặng mà tràn đầy niềm vui, sự sống và hơi thở của lao động.
Bài thơ còn hấp dẫn ở ngôn ngữ mộc mạc mà gợi cảm. Những từ ngữ giản dị, gần gũi với trẻ thơ nhưng lại rất giàu sức gợi hình. Nhịp thơ ngắn, nhanh, tự nhiên khiến người đọc như được ngắm nhìn từng nét trong bức tranh thiên nhiên đang hiện ra trước mắt.
Qua bài thơ, Trần Đăng Khoa đã cho thấy tài năng quan sát và trí tưởng tượng đầy sáng tạo của mình. Ông đã biến bức tranh làng quê bình dị thành một thế giới nghệ thuật lung linh, sinh động. Đọc bài thơ, ta không chỉ yêu hơn cảnh sắc quê hương mà còn thêm trân trọng vẻ đẹp trong trẻo của tâm hồn trẻ nhỏ.
Bài tham khảo Mẫu 4
Làng quê Việt Nam từ lâu đã đi vào thơ ca với những hình ảnh rất đỗi quen thuộc như cánh đồng lúa, hàng tre, đàn cò, mặt trời, ngọn gió. Nhưng ở mỗi nhà thơ, những hình ảnh ấy lại mang một vẻ đẹp riêng. Với Trần Đăng Khoa, thiên nhiên làng quê hiện lên không chỉ đẹp mà còn vô cùng sống động, ngộ nghĩnh qua trí tưởng tượng trẻ thơ. Điều đó được thể hiện rõ trong bài thơ: “Chị lúa phất phơ bím tóc / Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học / Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông / Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi.”
Mở đầu bài thơ là hình ảnh cánh đồng lúa trong gió: “Chị lúa phất phơ bím tóc”. Tác giả không tả lúa bằng màu sắc hay hương thơm mà dùng một liên tưởng rất riêng. Những bông lúa đung đưa được hình dung như bím tóc đang phất phơ. Từ đó, cánh đồng lúa hiện lên vừa mềm mại vừa duyên dáng, như một người chị thân quen của làng quê. Hình ảnh ấy thể hiện cách cảm nhận thiên nhiên rất tinh tế và đậm chất trẻ thơ.
Tiếp theo là hình ảnh hàng tre: “Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học”. Nếu lúa mang vẻ đẹp dịu dàng thì tre lại hiện lên khỏe khoắn, hồn nhiên. Từ “bá vai nhau” diễn tả thế đứng sát gần, quấn quýt của hàng tre, đồng thời gợi tình bạn vô tư, thân thiết. Còn “thì thầm đứng học” khiến tre như những cậu học trò đang chăm chú mà vẫn không quên trò chuyện. Chỉ bằng một câu thơ, tác giả đã làm cho hàng tre vốn quen thuộc trở nên mới lạ, đáng yêu vô cùng.
Đến hình ảnh “Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông”, đoạn thơ đạt đến sự bay bổng rất đẹp. Cò trắng là hình ảnh quen thuộc của đồng quê, nhưng dưới ngòi bút của nhà thơ, đàn cò như những người mặc áo trắng đang mang ánh nắng đi qua sông. Động từ “khiêng” vừa khỏe khoắn vừa ngộ nghĩnh, tạo nên cảm giác ánh nắng cũng có hình hài, có sức nặng. Hình ảnh này không chỉ cho thấy trí tưởng tượng phong phú mà còn khiến bức tranh quê trở nên sáng bừng, rực rỡ.
Hai câu cuối: “Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi” đã hoàn chỉnh bức tranh thiên nhiên đầy sinh khí. Gió được hình dung như người chăn mây, một liên tưởng rất mới mẻ. Mặt trời lại hiện lên như một “bác” đang đạp xe qua đỉnh núi, gợi cảm giác gần gũi, bình dị. Vũ trụ rộng lớn bỗng thu nhỏ lại trong thế giới quen thuộc của con người. Điều đó cho thấy thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa luôn gắn bó mật thiết với cuộc sống lao động ở làng quê.
Thành công của bài thơ trước hết nằm ở nghệ thuật nhân hóa đặc sắc. Tất cả sự vật đều được gọi bằng những danh xưng thân mật: “chị”, “cậu”, “cô”, “bác”. Nhờ thế, thiên nhiên trở thành một xã hội thu nhỏ, có tình cảm, có hoạt động, có sự gắn kết. Bên cạnh đó, ngôn ngữ thơ giản dị, giàu tính tạo hình, nhịp thơ nhẹ nhàng đã góp phần làm nổi bật vẻ đẹp trong trẻo của bài thơ.
Có thể nói, bài thơ là bức tranh thiên nhiên làng quê được nhìn bằng đôi mắt yêu thương và hồn nhiên của trẻ nhỏ. Qua đó, Trần Đăng Khoa bộc lộ tình yêu sâu sắc với quê hương, đồng thời cho thấy tài năng của một hồn thơ giàu trí tưởng tượng. Đọc đoạn thơ, người đọc như được trở về với cánh đồng, bờ tre, đàn cò thân thuộc của quê nhà và cảm nhận vẻ đẹp yên bình, tươi sáng của cuộc sống.
Bài tham khảo Mẫu 5
Đọc thơ Trần Đăng Khoa, người ta thường bắt gặp một thế giới thiên nhiên rất lạ: vẫn là đồng lúa, hàng tre, cánh cò, gió và mặt trời, nhưng tất cả đều hiện lên như có linh hồn. Bài thơ: “Chị lúa phất phơ bím tóc / Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học / Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông / Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi” đã thể hiện rõ nét phong cách thơ ấy. Chỉ với vài câu ngắn, tác giả đã tạo ra một bức tranh làng quê rộn ràng, tươi sáng và đầy chất mơ mộng.
Điều làm nên sức hấp dẫn của đoạn thơ chính là cái nhìn trẻ thơ. Trẻ thơ thường không nhìn sự vật một cách khô cứng mà luôn tưởng tượng, liên tưởng để biến mọi thứ thành gần gũi với mình. Vì thế, “chị lúa” hiện lên như một cô gái thôn quê dịu dàng với “bím tóc” phất phơ trong gió. Hình ảnh này vừa gợi chuyển động nhẹ nhàng của lúa, vừa gợi vẻ đẹp mềm mại, nữ tính của cánh đồng quê.
Không chỉ có lúa, hàng tre cũng được nhà thơ nhìn bằng con mắt đầy yêu mến: “Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học”. Tre vốn gắn bó với làng quê Việt Nam, nhưng trong câu thơ, tre không còn là cây cối vô tri mà đã trở thành những “cậu” học trò nhỏ. Hình ảnh “bá vai nhau” diễn tả sự gần gũi, đoàn kết, còn “thì thầm đứng học” khiến cho khung cảnh thêm vui tươi, sinh động. Câu thơ gợi một không gian vừa thân quen vừa đậm chất cổ tích.
Nổi bật trong bài thơ là hình ảnh: “Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông.” Đây là một liên tưởng rất đẹp. Màu trắng của cánh cò được gọi thành “áo trắng”, làm hiện lên vẻ tinh khôi của đàn cò bay. Từ “khiêng” khiến ánh nắng như trở thành vật hữu hình, còn đàn cò như những con người đang miệt mài mang ánh sáng đến khắp nơi. Hình ảnh ấy giúp bức tranh quê vừa có ánh sáng, vừa có sự chuyển động mềm mại, duyên dáng.
Hai câu thơ cuối khép lại bằng những liên tưởng vô cùng thú vị: “Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi.” Câu thơ khiến thiên nhiên giống như một xã hội người thu nhỏ. Gió, mây, mặt trời đều có công việc riêng, đều hiện lên bận rộn mà vui vẻ. Nhờ đó, bức tranh không chỉ đẹp mà còn có nhịp sống, có tiếng cười và niềm vui.
Xét về nghệ thuật, bài thơ đặc sắc ở việc sử dụng nhân hóa xuyên suốt. Những danh xưng gần gũi như “chị”, “cậu”, “cô”, “bác” làm cho thiên nhiên trở thành người bạn thân thiết của con người. Bên cạnh đó, ngôn ngữ thơ ngắn gọn mà giàu hình ảnh, các động từ như “phất phơ”, “bá vai”, “khiêng”, “chăn”, “đạp xe” đã góp phần tạo nên sức sống cho cảnh vật.
Bài thơ không chỉ cho thấy vẻ đẹp bình dị của làng quê Việt Nam mà còn cho thấy tâm hồn vô cùng trong sáng của nhà thơ. Chính cái nhìn hồn nhiên ấy đã làm nên sức sống lâu bền cho thơ Trần Đăng Khoa. Đọc bài thơ, em cảm nhận được tình yêu quê hương thật đẹp và càng thêm trân trọng những cảnh vật quen thuộc quanh mình.
Bài tham khảo Mẫu 6
Thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa luôn hiện lên bằng những đường nét rất riêng: tươi non, trong trẻo và đầy bất ngờ. Bài thơ “Chị lúa phất phơ bím tóc / Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học / Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông / Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi” tuy ngắn nhưng đã gợi ra cả một bức tranh đồng quê sinh động. Qua bài thơ, người đọc cảm nhận được không chỉ vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn là trí tưởng tượng phong phú và tình yêu quê hương tha thiết của tác giả.
Ngay câu thơ đầu, nhà thơ đã đem đến một hình ảnh rất đẹp: “Chị lúa phất phơ bím tóc”. Lúa vốn là cây trồng quen thuộc, nhưng qua cách nhìn của tác giả, lúa giống như một cô chị dịu hiền đang đứng giữa đồng quê. “Bím tóc” là một chi tiết rất giàu tính tạo hình, khiến người đọc hình dung những bông lúa dài, mềm, đung đưa trong gió. Câu thơ làm hiện lên vẻ đẹp dịu dàng của đồng lúa, đồng thời cho thấy tình cảm trìu mến của nhà thơ dành cho cảnh vật quê hương.
Sau lúa là tre – hình ảnh thân thuộc của làng quê Việt Nam. Trong câu thơ “Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học”, tre hiện lên như những cậu bé đang tuổi đến trường. Hình ảnh “bá vai nhau” gợi sự thân mật, gắn bó; còn “thì thầm đứng học” lại gợi không khí vui tươi, hồn nhiên. Từ cách cảm nhận ấy, ta thấy thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa không tĩnh mà luôn sống động, có hành động, có âm thanh và có cả tâm hồn.
Một trong những hình ảnh đặc sắc nhất của bài thơ là: “Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông.” Cò trắng vốn đã đẹp, nhưng tác giả không chỉ tả màu trắng mà gọi đó là “áo trắng”, khiến đàn cò giống như những con người đang đi giữa trời cao. Động từ “khiêng” là một sáng tạo thú vị, làm cho ánh nắng như trở nên có thể cầm nắm được. Hình ảnh thơ vừa hồn nhiên, ngộ nghĩnh, vừa rất giàu chất hội họa. Nó khiến không gian làng quê như bừng sáng lên trong vẻ đẹp thanh bình.
Đến hai câu cuối, bức tranh thiên nhiên càng thêm rộng lớn: “Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi.” Ở đây, trí tưởng tượng của tác giả bay xa hơn. Gió được ví như người chăn mây, còn mặt trời như một bác nông dân cần mẫn đạp xe qua núi. Những liên tưởng ấy làm cho bầu trời, cánh đồng, núi non đều trở nên gần gũi. Thiên nhiên không còn xa vời mà gắn bó mật thiết với đời sống con người.
Về nghệ thuật, bài thơ thành công nhờ biện pháp nhân hóa được sử dụng liên tiếp và đầy sáng tạo. Mỗi hình ảnh thiên nhiên đều mang một dáng vẻ riêng, một công việc riêng, giống như những con người trong cuộc sống thường ngày. Ngôn ngữ thơ giản dị, giàu hình ảnh, nhịp thơ linh hoạt đã tạo nên âm điệu tươi vui, nhí nhảnh và trong sáng.
Như vậy, bằng đôi mắt trẻ thơ và tâm hồn nhạy cảm, Trần Đăng Khoa đã làm cho làng quê Việt Nam hiện lên thật đẹp và đáng yêu. Bài thơ không chỉ là một bức tranh thiên nhiên giàu sức sống mà còn là biểu hiện của tình yêu quê hương sâu đậm. Càng đọc, ta càng thấy yêu hơn những cánh đồng lúa, hàng tre, đàn cò, ngọn gió, mặt trời của quê hương mình.
Bài tham khảo Mẫu 7
Trong thơ ca viết về quê hương, thiên nhiên thường hiện lên gần gũi, thân thuộc, nhưng không phải ai cũng có thể làm cho cảnh vật mang linh hồn và sức sống riêng. Trần Đăng Khoa là một trong những nhà thơ làm được điều đó bằng cái nhìn hồn nhiên mà tinh tế của tuổi thơ. Bài thơ: “Chị lúa phất phơ bím tóc / Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học / Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông / Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi” đã vẽ nên một bức tranh đồng quê vừa tươi sáng, vừa sinh động, đồng thời bộc lộ rõ tâm hồn trong trẻo và trí tưởng tượng phong phú của nhà thơ.
Trước hết, bài thơ gây ấn tượng ở cách cảm nhận thiên nhiên vô cùng độc đáo. Nhà thơ không nhìn lúa, tre, cò, gió, mặt trời như những sự vật vô tri, mà nhìn chúng như những con người có dáng vẻ, có hoạt động, có tâm hồn riêng. Hình ảnh “Chị lúa phất phơ bím tóc” là một nét vẽ rất mềm mại. Cánh đồng lúa hiện lên như một thiếu nữ thôn quê dịu dàng, duyên dáng. “Bím tóc” gợi những bông lúa đang lay động trong gió, còn từ “phất phơ” làm nổi bật vẻ nhẹ nhàng, uyển chuyển của cảnh vật. Chỉ bằng một câu thơ, tác giả đã làm cho cánh đồng quê vốn quen thuộc trở nên thật có hồn.
Tiếp đó, hình ảnh “Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học” lại mở ra một liên tưởng khác: khỏe khoắn, hồn nhiên mà đầy tinh nghịch. Hàng tre vốn đứng san sát bên nhau, qua con mắt trẻ thơ bỗng hóa thành những cậu học trò đang bá vai trò chuyện. Từ “thì thầm” khiến cảnh vật như có tiếng nói, như có sự giao cảm riêng. Hình ảnh ấy không chỉ cho thấy trí tưởng tượng ngộ nghĩnh mà còn gợi lên vẻ đẹp gắn bó, quây quần của làng quê Việt Nam.
Đặc biệt, ba câu thơ “Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông” mang đậm chất sáng tạo. Cánh cò trắng được gọi là “áo trắng”, vừa gợi màu sắc thanh sạch, vừa khiến đàn cò mang dáng vẻ con người. Động từ “khiêng” là một phát hiện rất lạ. Nắng vốn vô hình, vậy mà qua cảm nhận của tác giả, nắng như trở thành một vật có thể nâng đỡ, chuyên chở. Hình ảnh ấy vừa giàu chất hội họa, vừa giàu chất mộng, khiến bức tranh quê như bừng sáng trong vẻ đẹp thanh bình.
Hai câu thơ cuối “Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi” tiếp tục mở rộng bức tranh thiên nhiên bằng những liên tưởng đầy bất ngờ. Gió trở thành một cô gái chăn mây, còn mặt trời giống như một người lao động đang đạp xe qua núi. Thiên nhiên trong bài thơ không đứng yên mà luôn vận động, luôn sống động trong mối giao hòa với con người. Qua đó, người đọc cảm nhận được nhịp sống vui tươi, rộn ràng của một buổi sáng quê hương.
Về nghệ thuật, bài thơ thành công nổi bật ở biện pháp nhân hóa được sử dụng xuyên suốt. Các cách gọi “chị”, “cậu”, “cô”, “bác” vừa gần gũi vừa trìu mến, khiến thiên nhiên hiện lên như một thế giới thân thuộc. Ngôn ngữ thơ ngắn gọn, giàu sức gợi, nhịp điệu linh hoạt đã góp phần làm nên giọng thơ hồn nhiên, trong trẻo.
Có thể nói, bài thơ là bức tranh làng quê được nhìn bằng đôi mắt trẻ thơ nhưng chứa đựng một năng lực cảm nhận rất tinh tế. Qua đó, Trần Đăng Khoa không chỉ thể hiện tình yêu sâu sắc với thiên nhiên quê hương mà còn cho thấy tài năng của một hồn thơ giàu tưởng tượng. Đọc bài thơ, ta như được trở về với một miền quê ấm áp, nơi mọi cảnh vật đều sống động và chan chứa niềm vui.
Bài tham khảo Mẫu 8
Thiên nhiên làng quê Việt Nam từ lâu đã trở thành nguồn cảm hứng quen thuộc của thơ ca. Nhưng dưới ngòi bút của Trần Đăng Khoa, những hình ảnh vốn bình dị ấy lại hiện lên bằng vẻ đẹp rất riêng, vừa trong trẻo vừa ngộ nghĩnh. Bài thơ: “Chị lúa phất phơ bím tóc / Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học / Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông / Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi” không chỉ là một bức tranh quê giàu màu sắc mà còn là kết tinh của trí tưởng tượng bay bổng và tâm hồn trẻ thơ đầy yêu thương.
Mở đầu bài thơ là hình ảnh “Chị lúa phất phơ bím tóc”. Cách gọi “chị lúa” khiến cây lúa trở thành một con người thân quen, gần gũi. Từ “bím tóc” gợi liên tưởng đến những bông lúa mềm mại, còn “phất phơ” diễn tả nhịp rung nhẹ trong gió. Hình ảnh ấy làm hiện lên vẻ đẹp duyên dáng của đồng lúa quê nhà. Không chỉ là một cảnh vật, lúa trong câu thơ dường như còn mang nét đẹp của người phụ nữ nông thôn hiền hậu, dịu dàng.
Nếu lúa hiện lên mềm mại, nữ tính thì tre lại mang dáng vẻ trẻ trung, tinh nghịch trong câu thơ “Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học”. Tre vốn là biểu tượng quen thuộc của làng quê Việt Nam, của sự bền bỉ, kiên cường. Nhưng ở đây, tre được nhìn bằng con mắt tuổi thơ nên hiện lên thật gần gũi, đáng yêu. Từ “bá vai nhau” gợi sự gắn bó, đoàn kết; còn “thì thầm đứng học” lại làm bật lên vẻ hồn nhiên, nghịch ngợm. Câu thơ khiến hàng tre như đang sống trong một thế giới rất người, rất vui.
Bài thơ trở nên đặc sắc hơn với hình ảnh “Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông”. Trong văn học Việt Nam, cánh cò thường gắn với sự thanh bình của thôn quê. Nhưng Trần Đăng Khoa không chỉ tả đàn cò bay mà còn tạo nên một liên tưởng mới mẻ: đàn cò như những người mặc áo trắng đang “khiêng nắng” qua sông. Từ “khiêng” làm cho nắng dường như trở nên hữu hình, có sức nặng, có thể chuyên chở. Nhờ vậy, cảnh vật vừa cụ thể vừa lãng mạn, vừa chân thực vừa giàu chất thơ.
Hai câu thơ cuối “Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi” đã hoàn thiện bức tranh đồng quê đầy sinh khí. Gió được hình dung như một cô gái đang thong thả chăn mây, còn mặt trời như một bác nông dân cần mẫn đạp xe qua núi. Cách liên tưởng này làm cho bầu trời, đỉnh núi, cánh đồng đều mang hơi thở đời sống con người. Thiên nhiên không còn xa vời mà trở thành một phần thân thiết của cuộc sống.
Thành công của bài thơ trước hết nằm ở nghệ thuật nhân hóa đầy sáng tạo. Bên cạnh đó, ngôn ngữ thơ giản dị mà gợi cảm, hình ảnh thơ trong sáng, giàu tính tạo hình. Nhịp thơ ngắn, linh hoạt khiến toàn bộ đoạn thơ như một thước phim nhỏ đang chuyển động trước mắt người đọc.
Đọc bài thơ, ta không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp của một miền quê yên bình mà còn nhận ra vẻ đẹp trong tâm hồn nhà thơ. Chính tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương và trí tưởng tượng hồn nhiên đã giúp Trần Đăng Khoa tạo nên những câu thơ đẹp đến vậy. Bài thơ vì thế không chỉ giàu giá trị nghệ thuật mà còn khơi dậy trong lòng người đọc niềm yêu mến tha thiết với quê hương đất nước.
Bài tham khảo Mẫu 9
Có những vần thơ chỉ cần đọc lên là cả một bức tranh quê đã hiện ra trước mắt, vừa gần gũi vừa lung linh như bước ra từ cổ tích. Bài thơ của Trần Đăng Khoa là một đoạn thơ như thế. Bằng giọng thơ hồn nhiên và trí tưởng tượng đặc biệt phong phú, tác giả đã thổi hồn vào thiên nhiên: “Chị lúa phất phơ bím tóc / Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học / Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông / Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi.” Từ đó, một bức tranh làng quê yên bình mà sống động đã hiện lên, thấm đẫm tình yêu quê hương tha thiết.
Điều đáng chú ý là đoạn thơ được xây dựng trên một hệ thống hình ảnh nhân hóa xuyên suốt. Thiên nhiên hiện ra như một đại gia đình: có “chị lúa”, “cậu tre”, “cô gió”, “bác mặt trời”. Những cách gọi thân mật ấy lập tức xóa nhòa khoảng cách giữa con người với cảnh vật. Thiên nhiên không đứng ngoài con người mà sống cùng con người, gần gũi như ruột thịt. Chính điều đó làm nên nét đáng yêu riêng cho đoạn thơ.
Trong câu thơ đầu, “Chị lúa phất phơ bím tóc”, nhà thơ đã phát hiện được vẻ đẹp duyên dáng của đồng lúa. “Bím tóc” là chi tiết rất giàu chất tạo hình. Người đọc có thể hình dung những bông lúa cong mềm, đung đưa theo gió như mái tóc của người thiếu nữ. Câu thơ không chỉ gợi hình mà còn gợi cảm, bởi đằng sau đó là cái nhìn trìu mến, nâng niu đối với sự vật quê hương.
Sang câu thơ “Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học”, chất trẻ thơ được bộc lộ rõ nét hơn. Hàng tre không chỉ được nhân hóa mà còn được đưa vào một hoạt động rất con người: “đứng học”. Cách miêu tả ấy khiến khung cảnh làng quê trở nên vui tươi, rộn rã như một lớp học lớn của thiên nhiên. Từ “thì thầm” vừa gợi âm thanh vừa gợi tình cảm quấn quýt, thân mật. Tre không còn là biểu tượng tĩnh lặng mà trở thành một phần sống động của cuộc đời.
Ba dòng thơ “Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông” là một nét chấm phá giàu chất thơ. Hình ảnh “áo trắng” trước hết làm nổi bật sắc trắng tinh khôi của đàn cò. Đồng thời, cách gọi ấy khiến đàn cò như những con người đang hiện diện trên cánh đồng quê. Đặc biệt, từ “khiêng” cho thấy một trí tưởng tượng rất lạ. Ánh nắng như có thể được nâng trên vai, được mang đi qua sông. Nhờ vậy, bức tranh không chỉ có ánh sáng mà còn có chiều sâu vận động, có vẻ đẹp mơ màng rất riêng.
Hai câu cuối “Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi” tiếp tục cho thấy cách cảm thiên nhiên rất độc đáo của Trần Đăng Khoa. Gió, mây, mặt trời vốn thuộc về bầu trời rộng lớn, nhưng vào thơ ông lại gần gũi như những con người lao động thường ngày. Từ “chăn” và “đạp xe” đều rất bình dị, gợi lên một nhịp sống thân quen. Nhờ thế, thiên nhiên trong đoạn thơ không hề xa cách mà đầy hơi ấm của cuộc sống.
Bài thơ ngắn nhưng hàm chứa giá trị nghệ thuật sâu sắc. Nhân hóa được sử dụng một cách tự nhiên, sáng tạo. Ngôn ngữ thơ trong sáng, giàu nhạc điệu. Hình ảnh thơ vừa chân thực vừa mơ mộng. Tất cả đã góp phần làm nổi bật vẻ đẹp thanh bình, tươi non của làng quê Việt Nam qua cái nhìn trẻ thơ.
Đọc bài thơ, ta không chỉ bắt gặp một cánh đồng, một hàng tre, một đàn cò, một ngọn gió hay một vầng mặt trời. Ta còn bắt gặp ở đó một tâm hồn biết yêu, biết rung động, biết nhìn thấy phép màu trong những điều bình dị nhất. Chính điều ấy đã làm cho thơ Trần Đăng Khoa sống mãi trong lòng người đọc.
Bài tham khảo Mẫu 10
Trần Đăng Khoa là nhà thơ đã đem đến cho thơ ca thiếu nhi một thế giới nghệ thuật rất riêng: trong sáng, ngộ nghĩnh mà giàu sức gợi. Ông có khả năng nhìn những sự vật hết sức quen thuộc bằng một ánh nhìn mới mẻ, khiến thiên nhiên như mang linh hồn con người. Bài thơ: “Chị lúa phất phơ bím tóc / Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học / Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông / Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi” chính là một minh chứng tiêu biểu cho phong cách ấy.
Trước hết, bài thơ đã dựng lên một không gian đồng quê rất đỗi thân thuộc với lúa, tre, cò, gió, mặt trời. Đây đều là những hình ảnh gắn bó mật thiết với cuộc sống nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên, điều làm nên giá trị của đoạn thơ không nằm ở việc lựa chọn chất liệu quen thuộc, mà ở cách nhà thơ thổi hồn vào chúng bằng trí tưởng tượng trong trẻo. Nhờ vậy, bức tranh quê hiện lên không tĩnh tại mà đầy chuyển động, không đơn thuần là phong cảnh mà đã trở thành một thế giới sống.
Câu thơ “Chị lúa phất phơ bím tóc” có thể xem là điểm mở đầu đầy duyên dáng cho đoạn thơ. Từ “chị” khiến lúa có tuổi tác, có mối quan hệ, có sự gần gũi như một người thân. Hình ảnh “bím tóc” không chỉ gợi hình dáng của bông lúa mà còn gợi vẻ đẹp nữ tính, dịu dàng. Đây là một cách liên tưởng rất trẻ thơ nhưng cũng rất tinh tế, bởi nó nắm bắt được cái mềm mại, đằm thắm của đồng lúa quê hương.
Đến câu “Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học”, chất hồn nhiên càng hiện rõ. Tre được gọi là “cậu”, tạo cảm giác trẻ trung, nghịch ngợm. Cụm từ “bá vai nhau” cho thấy sự thân mật, gần gũi, còn “thì thầm đứng học” làm cho hàng tre như những cậu học trò đang ríu rít trong giờ học. Bằng một hình ảnh rất đời thường, nhà thơ đã khiến thiên nhiên mang dáng dấp trẻ nhỏ, qua đó thể hiện cái nhìn vô cùng hồn hậu đối với quê hương.
Đặc sắc nhất có lẽ là ba dòng thơ “Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông”. Câu thơ ngắn mà mở ra một không gian rộng, sáng và đẹp. “Áo trắng” vừa là màu của đàn cò, vừa khiến đàn cò như hóa thành những con người trong một đoàn di chuyển. Động từ “khiêng” đầy bất ngờ và táo bạo, bởi ánh nắng vốn vô hình lại được hình dung như một vật có thể mang vác. Điều đó cho thấy năng lực liên tưởng rất mạnh của tác giả. Hình ảnh thơ vừa mang vẻ đẹp lao động, vừa đậm chất mộng mơ.
Hai câu cuối “Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi” tiếp tục khẳng định sức sáng tạo của nhà thơ. Gió, mây, mặt trời đều được đưa vào nhịp sống con người. Thiên nhiên vũ trụ trở nên gần gũi, thân thương như một phần của làng quê. Cách dùng những động từ bình dị “chăn”, “đạp xe” khiến bức tranh thơ vừa có nét ngộ nghĩnh vừa có hơi ấm đời thường.
Xét về nghệ thuật, bài thơ thành công nổi bật ở biện pháp nhân hóa và liên tưởng độc đáo. Bên cạnh đó, cách ngắt nhịp ngắn, nhanh làm cho lời thơ giàu nhịp điệu, phù hợp với cảm xúc trẻ thơ. Ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi đã biến những cảnh vật quen thuộc thành một thế giới thơ đầy mê hoặc.
Từ bài thơ, có thể thấy Trần Đăng Khoa không chỉ là người miêu tả cảnh vật, mà còn là người phát hiện linh hồn của cảnh vật. Bằng đôi mắt trẻ thơ và trái tim nhạy cảm, ông đã làm cho quê hương hiện lên đẹp hơn, sống động hơn, đáng yêu hơn. Và chính điều ấy khiến bài thơ nhỏ bé này để lại dư âm sâu đậm trong lòng người đọc
Bài tham khảo Mẫu 11
Nếu người lớn thường nhìn thiên nhiên bằng lí trí và thói quen, thì trẻ nhỏ lại nhìn bằng tưởng tượng và cảm xúc. Bởi thế, trong thơ Trần Đăng Khoa, thiên nhiên không chỉ là thiên nhiên mà còn là một thế giới có tiếng nói, có cử chỉ, có niềm vui. Bài thơ “Chị lúa phất phơ bím tóc / Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học / Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông / Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi” là một trong những đoạn thơ thể hiện rõ nhất vẻ đẹp ấy. Qua vài nét chấm phá ngắn gọn, tác giả đã dựng lên bức tranh làng quê thanh bình, tươi sáng và tràn đầy sức sống.
Ngay từ câu đầu tiên, hình ảnh “Chị lúa phất phơ bím tóc” đã cho thấy cách cảm nhận rất riêng của nhà thơ. Cánh đồng lúa không được tả bằng màu vàng hay mùi thơm, mà hiện ra qua hình dáng “bím tóc”. Đây là một liên tưởng vừa tự nhiên vừa duyên dáng. Từ “chị” còn làm cho cây lúa trở thành một con người cụ thể, gần gũi, thân quen. Nhờ đó, người đọc không chỉ thấy cánh đồng quê mà còn cảm nhận được tình cảm yêu mến, trìu mến của tác giả dành cho nó.
Hình ảnh tre trong câu thơ “Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học” lại mang sắc thái khác. Nếu lúa thiên về vẻ đẹp mềm mại thì tre gợi cảm giác khỏe khoắn, rắn rỏi. Tuy nhiên, qua nghệ thuật nhân hóa, tre vẫn hiện lên đầy hồn nhiên. “Bá vai nhau” là một cử chỉ thân thiết của bạn bè, còn “thì thầm đứng học” khiến tre giống như những cậu học trò đang cùng nhau lớn lên giữa làng quê. Câu thơ vừa vui nhộn, vừa thể hiện cái nhìn hết sức thân tình với sự vật.
Đến hình ảnh “Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông”, đoạn thơ bỗng trở nên bừng sáng. Cánh cò trắng vốn là một hình ảnh đẹp của đồng quê, nhưng dưới ngòi bút Trần Đăng Khoa, đàn cò không chỉ bay mà còn “khiêng nắng”. Động từ ấy khiến ánh sáng như có hình, có khối, có thể nâng trên vai. Hình ảnh thơ tạo nên vẻ đẹp vừa trong trẻo, vừa giàu nhạc và họa. Nó cho thấy khả năng phát hiện những mối liên hệ rất bất ngờ giữa sự vật của nhà thơ.
Hai câu cuối “Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi” đem đến một kết thúc rất đẹp. Gió, mây, mặt trời thuộc về bầu trời rộng lớn, nhưng qua cách hình dung của tác giả, tất cả đều trở nên gần gũi với nhịp sống con người. “Chăn mây”, “đạp xe” là những hoạt động bình dị, khiến thiên nhiên như cùng lao động, cùng sinh hoạt với con người. Bức tranh quê vì thế không chỉ có vẻ đẹp của cảnh sắc mà còn có nhịp sống, có hơi ấm.
Thành công của đoạn thơ trước hết là ở nghệ thuật nhân hóa rất linh hoạt. Hệ thống từ ngữ “chị”, “cậu”, “cô”, “bác” được sử dụng nhất quán, tạo nên cảm giác thân thương và gắn bó. Bên cạnh đó, ngôn ngữ thơ ngắn gọn, giàu hình ảnh, cách ngắt dòng tự nhiên đã giúp đoạn thơ mang âm điệu trong sáng, vui tươi, đúng với cảm nhận của một tâm hồn trẻ nhỏ.
Tóm lại, bài thơ là một bức tranh đồng quê đẹp cả ở hình ảnh lẫn cảm xúc. Qua trí tưởng tượng hồn nhiên mà tinh tế, Trần Đăng Khoa đã làm cho thiên nhiên quê hương trở nên sống động như một thế giới con người. Đọc đoạn thơ, ta không chỉ thấy vẻ đẹp của làng quê Việt Nam mà còn cảm nhận được sức mạnh của một tâm hồn biết yêu thương, biết phát hiện chất thơ trong những điều bình dị nhất.
Bài tham khảo Mẫu 12
Có những bài thơ rất ngắn nhưng chỉ vài câu cũng đủ mở ra cả một thế giới. Bài thơ của Trần Đăng Khoa là một tác phẩm như thế. Với những hình ảnh giản dị mà sáng tạo, nhà thơ đã dựng lên trước mắt người đọc một bức tranh thiên nhiên đồng quê đầy màu sắc, âm thanh và chuyển động:
“Chị lúa phất phơ bím tóc
Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học
Đàn cò áo trắng
Khiêng nắng
Qua sông
Cô gió chăn mây trên đồng
Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi.”
Điều nổi bật nhất của bài thơ là nhà thơ nhìn thiên nhiên như nhìn con người. Lúa không chỉ là lúa mà là “chị lúa”. Cách gọi ấy gợi cảm giác thân thương, trìu mến. Hình ảnh “phất phơ bím tóc” làm người đọc liên tưởng đến những bông lúa mềm mại, đong đưa trong gió như mái tóc thiếu nữ. Chỉ bằng một phép nhân hóa, cánh đồng quê đã trở nên dịu dàng và đầy nữ tính.
Không chỉ có lúa, tre cũng được nhìn bằng con mắt rất trẻ thơ. “Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học” là câu thơ vừa tinh nghịch vừa giàu sức gợi. Tre vốn mọc thành hàng, khăng khít bên nhau, qua cái nhìn của nhà thơ lại giống như những cậu học sinh đang khoác vai nhau, rì rầm trò chuyện. Từ đó, khung cảnh làng quê không còn tĩnh tại mà như có linh hồn, có tiếng nói riêng.
Đặc sắc hơn cả là hình ảnh “Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông”. Cò trắng từ lâu đã là biểu tượng thân thuộc của đồng quê Việt Nam. Trong bài thơ này, đàn cò xuất hiện thật đẹp, thật thơ mộng. Từ “khiêng” rất lạ, gợi cảm giác như những cánh cò đang mang ánh nắng đi qua mặt sông. Hình ảnh đó vừa cụ thể, vừa giàu chất hội họa, khiến bức tranh thiên nhiên trở nên sáng bừng.
Hai câu cuối bài thơ tiếp tục cho thấy sự phong phú trong liên tưởng của tác giả: “Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi.” Gió được hình dung như một cô gái đang chăn đàn mây, còn mặt trời như một bác nông dân hay người lao động cần mẫn đang đạp xe đi qua đỉnh núi. Từ đó, thiên nhiên hiện ra không chỉ đẹp mà còn rất vui, rất gần gũi với đời sống con người.
Bài thơ tuy ngắn nhưng đã quy tụ nhiều nét nghệ thuật đặc sắc: nhân hóa liên tiếp, ngôn ngữ trong sáng, cách ngắt nhịp sáng tạo, hình ảnh giàu sức gợi. Qua đó, Trần Đăng Khoa không chỉ cho thấy tài quan sát tinh tế mà còn bộc lộ tâm hồn trẻ thơ hồn nhiên, yêu thiên nhiên, yêu quê hương tha thiết.
Có thể nói, bài thơ là một bức tranh đồng quê rực rỡ và tràn đầy sức sống. Đọc tác phẩm, ta không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp của làng quê Việt Nam mà còn thấy được vẻ đẹp trong tâm hồn của người nghệ sĩ nhỏ tuổi: ngây thơ, giàu tưởng tượng và chan chứa tình yêu cuộc sống.
Bài tham khảo Mẫu 13
Thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa luôn hiện lên rất riêng: không khô cứng, không xa cách mà gần gũi như những người bạn của tuổi thơ. Bài thơ:
“Chị lúa phất phơ bím tóc
Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học
Đàn cò áo trắng
Khiêng nắng
Qua sông
Cô gió chăn mây trên đồng
Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi.”
đã cho thấy rõ nét phong cách ấy. Qua vài dòng thơ ngắn, nhà thơ đã làm sống dậy cả một không gian làng quê quen thuộc bằng trí tưởng tượng ngộ nghĩnh và tình cảm tha thiết.
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ trước hết được tạo nên từ những hình ảnh rất gần gũi của quê hương: lúa, tre, cò, gió, mây, mặt trời. Đó đều là những sự vật quen thuộc trong đời sống nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên, điều đặc biệt là dưới ngòi bút của Trần Đăng Khoa, tất cả không còn là cảnh vật bình thường mà trở nên sinh động, có tính cách, có cử chỉ như con người.
Hình ảnh “Chị lúa phất phơ bím tóc” gợi ra vẻ mềm mại, nữ tính của cánh đồng lúa. Từ “chị” khiến cây lúa trở nên gần gũi như một người thân trong gia đình. Còn “bím tóc” là một liên tưởng rất đẹp, vừa thể hiện sự quan sát tinh tế vừa cho thấy tâm hồn trẻ thơ trong sáng. Cây lúa không chỉ là cây lúa nữa mà đã hóa thành một cô gái thôn quê dịu dàng trong gió.
Đến câu thơ “Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học”, vẻ đẹp đồng quê chuyển sang sắc thái khỏe khoắn, tinh nghịch. Tre từ lâu vốn tượng trưng cho làng quê và con người Việt Nam. Ở đây, tre được gọi là “những cậu tre”, mang dáng vẻ của những cậu học trò nhỏ. Hình ảnh “bá vai nhau” gợi sự thân thiết, còn “thì thầm đứng học” làm cho hàng tre như đang tiếp nhận bài học của đất trời. Cách miêu tả ấy làm hiện lên một thế giới thiên nhiên tràn đầy nhịp sống.
Đặc biệt, ba dòng thơ “Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông” rất ngắn nhưng giàu sức gợi. Hình ảnh cò trắng bay qua sông trong ánh nắng trở thành một bức tranh đẹp và thơ mộng. Từ “khiêng” là một sáng tạo độc đáo, khiến ánh nắng như có hình khối, có thể được nâng lên và mang đi. Nhờ đó, câu thơ không chỉ có hình mà còn có ánh sáng, tạo nên vẻ đẹp lung linh cho cả không gian.
Hai câu kết “Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi” tiếp tục mở rộng bức tranh thiên nhiên. Nếu gió là một cô gái dịu dàng đang chăn mây thì mặt trời lại là một bác lao động khỏe khoắn, vui vẻ. Cách gọi “cô”, “bác” rất thân thương, khiến thiên nhiên trở nên gần gũi như đang cùng con người lao động, sinh hoạt giữa cuộc đời thường nhật.
Bằng ngôn ngữ giản dị, phép nhân hóa liên tiếp và trí tưởng tượng phong phú, Trần Đăng Khoa đã tạo nên một bài thơ ngắn mà giàu hình ảnh, nhạc điệu. Tác phẩm không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của làng quê mà còn cho thấy cái nhìn hồn nhiên, tinh tế của một tâm hồn trẻ nhỏ biết yêu và cảm nhận cuộc sống.
Bài thơ khép lại nhưng dư âm vẫn còn đọng mãi. Đó là dư âm của cánh đồng lúa, hàng tre, đàn cò, gió mây và nắng sớm; đồng thời cũng là dư âm của một hồn thơ trẻ thơ, trong trẻo. Qua bài thơ, người đọc thêm yêu quê hương, yêu thiên nhiên và càng trân trọng hơn tài năng thơ ca của Trần Đăng Khoa.
Bài tham khảo Mẫu 14
Khi viết về làng quê, nhiều nhà thơ thường gợi ra vẻ yên bình, mộc mạc. Nhưng đến với Trần Đăng Khoa, làng quê không chỉ yên bình mà còn hiện lên đầy nghịch ngợm, đáng yêu qua cách nhìn của tuổi thơ. Bài thơ:
“Chị lúa phất phơ bím tóc
Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học
Đàn cò áo trắng
Khiêng nắng
Qua sông
Cô gió chăn mây trên đồng
Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi.”
là minh chứng tiêu biểu cho khả năng quan sát tinh tế và trí tưởng tượng rất đẹp của nhà thơ.
Điểm thành công trước hết của bài thơ là đã biến thiên nhiên thành một thế giới con người. Mỗi hình ảnh đều được gắn với một cách gọi thân mật: chị lúa, cậu tre, cô gió, bác mặt trời. Điều này khiến cảnh vật vốn quen thuộc bỗng trở nên sống động như một xã hội thu nhỏ. Cách nhân hóa ấy không chỉ tạo sự ngộ nghĩnh mà còn thể hiện tình cảm yêu mến, gắn bó của tác giả với quê hương.
Ngay từ câu đầu tiên, “Chị lúa phất phơ bím tóc” đã mở ra vẻ đẹp mềm mại của đồng lúa. Từ “phất phơ” gợi sự chuyển động nhẹ nhàng, còn “bím tóc” cho thấy liên tưởng hồn nhiên, đáng yêu. Nhờ vậy, cánh đồng lúa không chỉ có màu sắc mà còn có dáng vẻ, có hồn.
Nếu lúa mang vẻ dịu dàng thì tre lại hiện lên với sự khỏe khoắn, thân mật trong câu thơ: “Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học”. Tre thường mọc thành hàng, thân cây sát nhau, nên tác giả đã hình dung như những cậu bé đang bá vai nhau. Cụm từ “thì thầm đứng học” còn gợi một không gian làng quê thật yên ả, nơi mọi sự vật như đang lắng nghe bài học của tự nhiên.
Đến hình ảnh “Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông”, bài thơ đạt đến vẻ đẹp giàu chất tạo hình. Màu trắng của cánh cò hòa với ánh vàng của nắng tạo nên một bức tranh vừa thanh thoát vừa rực rỡ. Động từ “khiêng” khiến ánh nắng như trở thành một vật thể có thể nâng đỡ. Cách diễn đạt ấy rất trẻ thơ nhưng không hề ngô nghê, trái lại còn làm cho hình ảnh thơ trở nên mới lạ và giàu sức gợi.
Hai câu cuối lại tiếp tục khẳng định sự chuyển động của bức tranh quê: “Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi.” Thiên nhiên như đang lao động, đang vui sống. Gió không còn vô hình mà thành người mục đồng chăn mây; mặt trời không còn xa xôi mà trở nên gần gũi như một người đang đạp xe đi làm. Qua đó, ta thấy trong mắt nhà thơ, cả vũ trụ đều thân thuộc và chan hòa với con người.
Bài thơ tuy chỉ có vài câu nhưng chứa đựng giá trị nghệ thuật đáng quý. Tác giả sử dụng phép nhân hóa liên tục, ngôn ngữ ngắn gọn mà giàu hình ảnh, nhịp thơ linh hoạt, tự nhiên. Quan trọng hơn, tác phẩm đã thể hiện một tâm hồn thơ thật hồn nhiên, trong trẻo và giàu sức sáng tạo.
Như vậy, bài thơ không chỉ là bức tranh đồng quê đẹp đẽ mà còn là tiếng nói của tình yêu thiên nhiên, yêu làng quê tha thiết. Đọc bài thơ, ta như được trở về với đồng ruộng, với nắng gió và những điều bình dị thân thương của quê hương mình.
Bài tham khảo Mẫu 15
Tuổi thơ thường nhìn thế giới bằng đôi mắt rất khác. Với người lớn, cánh đồng, hàng tre hay đàn cò chỉ là cảnh vật quen thuộc. Nhưng với trẻ thơ, tất cả đều có thể nói cười, đi lại, vui đùa như con người. Bài thơ của Trần Đăng Khoa đã thể hiện rất rõ điều đó:
“Chị lúa phất phơ bím tóc
Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học
Đàn cò áo trắng
Khiêng nắng
Qua sông
Cô gió chăn mây trên đồng
Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi.”
Đây là một bài thơ ngắn nhưng giàu chất họa, chất nhạc và đặc biệt đậm màu sắc trẻ thơ.
Đi từ đầu đến cuối bài thơ, người đọc bắt gặp một loạt hình ảnh nhân hóa rất thú vị. Lúa được gọi là “chị”, tre được gọi là “cậu”, gió là “cô”, mặt trời là “bác”. Cách gọi ấy làm thiên nhiên gần gũi như những thành viên trong cuộc sống hằng ngày. Không gian làng quê nhờ thế không còn xa lạ mà trở nên thân thương, ấm áp.
Ở câu thơ đầu, “Chị lúa phất phơ bím tóc”, nhà thơ đã chọn một chi tiết rất đắt. Bông lúa trong gió được ví như bím tóc đang bay nhẹ. Hình ảnh ấy vừa cho thấy vẻ đẹp duyên dáng của đồng lúa, vừa bộc lộ khả năng liên tưởng rất hồn nhiên của tác giả. Từ một sự vật quen thuộc, nhà thơ đã tạo nên một hình ảnh mới lạ, giàu cảm xúc.
Sau đó, đến câu “Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học”, hàng tre làng hiện lên như một tập thể học sinh. Không chỉ có dáng đứng mà tre còn có hành động, có âm thanh. Từ “thì thầm” khiến cảnh vật như có tiếng nói nhỏ nhẹ, làm cho bức tranh làng quê thêm yên bình mà sinh động.
Ba dòng thơ tiếp theo có thể xem là điểm nhấn của bài thơ: “Đàn cò áo trắng / Khiêng nắng / Qua sông”. Hình ảnh này rất giàu sức gợi. Cánh cò trắng bay trong nắng được nhìn như đang mang ánh sáng đi qua sông. Từ “khiêng” khiến câu thơ có sự khỏe khoắn, đồng thời tạo cảm giác ánh nắng như đang chuyển động cùng đôi cánh cò. Đây là một sáng tạo rất đẹp và rất thơ.
Khổ thơ khép lại bằng hai hình ảnh đầy bất ngờ: “Cô gió chăn mây trên đồng / Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi.” Câu thơ khiến người đọc bật lên thích thú vì sự tưởng tượng vừa hồn nhiên vừa độc đáo. Gió, mây, mặt trời đều được đưa về gần với đời sống con người. Từ đó, thiên nhiên hiện lên như một thế giới đang vận động, đang lao động, đang sống giữa nhịp điệu của quê hương.
Về nghệ thuật, bài thơ thành công ở cách sử dụng nhân hóa, ngôn từ ngắn gọn, hình ảnh trong sáng và nhịp thơ linh hoạt. Tuy dung lượng ít nhưng mỗi câu đều gợi mở một nét vẽ riêng, góp phần làm nên bức tranh làng quê nhiều màu sắc. Bài thơ cũng cho thấy phong cách thơ Trần Đăng Khoa: quan sát tinh tế, cảm xúc hồn nhiên và trí tưởng tượng phong phú.
Tóm lại, bài thơ là một tác phẩm ngắn gọn mà giàu sức biểu đạt. Qua những hình ảnh rất đỗi bình dị, Trần Đăng Khoa đã làm hiện lên một làng quê tươi đẹp, sống động và đầy chất thơ. Đọc tác phẩm, ta không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn thấy được vẻ đẹp của tâm hồn trẻ nhỏ biết yêu, biết rung động trước cuộc sống quanh mình.
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Gửi tới đảo xa (Nguyễn Trọng Hoàn) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Thời nắng xanh (Trương Nam Hương) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Nghề giáo tôi yêu (Đinh Văn Nhã) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Mẹ (Trần Quốc Minh) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Con nợ mẹ (Nguyễn Văn Chung) hay nhất
>> Xem thêm
Các bài khác cùng chuyên mục
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Tết này nhớ mẹ (Nguyễn Trọng Tạo)
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Con nợ mẹ (Nguyễn Văn Chung) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Mẹ (Trần Quốc Minh) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Nghề giáo tôi yêu (Đinh Văn Nhã) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Thời nắng xanh (Trương Nam Hương) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Tết này nhớ mẹ (Nguyễn Trọng Tạo)
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Con nợ mẹ (Nguyễn Văn Chung) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Mẹ (Trần Quốc Minh) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Nghề giáo tôi yêu (Đinh Văn Nhã) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Thời nắng xanh (Trương Nam Hương) hay nhất




Danh sách bình luận