1001+ bài văn nghị luận văn học hay nhất cho mọi thể loại 200+ bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ thất ngôn bá..

Top 45 Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích một tác phẩm thơ thất ngôn bát cú hay nhất


1, Mở bài: - Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nhấn mạnh giá trị của tác phẩm trong lĩnh vực văn học.

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Dàn ý

1, Mở bài:

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nhấn mạnh giá trị của tác phẩm trong lĩnh vực văn học.

2, Thân bài:

- Tổng quan về tác giả, bao gồm thông tin về cuộc đời và tác phẩm của ông, cùng với bối cảnh sáng tác để làm nổi bật sự đặc biệt của tác phẩm.

- Đề cập đến đề tài và thể loại của bài thơ, giải thích tại sao chúng quan trọng và có ảnh hưởng trong lĩnh vực văn học.

- Phân tích chi tiết nội dung chính của tác phẩm, bao gồm các sự kiện, ý tưởng và thông điệp của tác giả.

- Tìm hiểu về cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài thơ, nhấn mạnh tầm quan trọng và sự chân thành của những cảm xúc này.

- Đề cập đến những nét đặc sắc nghệ thuật trong bài thơ, ví dụ: sử dụng phép tu từ, hình ảnh hay biểu tượng để tạo nên hiệu ứng mạnh mẽ và gợi cảm xúc cho độc giả.

- Phân tích cách tác giả sử dụng ngôn ngữ trong tác phẩm, nhấn mạnh những cách sáng tạo và độc đáo trong việc sử dụng từ ngữ và cú pháp.

3, Kết bài: Tổng kết và khẳng định vị trí và ý nghĩa của bài thơ trong lĩnh vực văn học, nhấn mạnh sự tác động của tác phẩm đối với độc giả và văn học nói chung.

Bài siêu ngắn Mẫu 1

Qua Đèo Ngang là một trong những bài thơ hay nhất của Bà Huyện Thanh Quan. Tác phẩm có nhiều giá trị về mặt nội dung cũng như nghệ thuật.

Mở đầu bài thơ, tác giả đã miêu tả thiên nhiên nơi đèo Ngang hiện lên mang đầy sức sống:

“Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”

Vào thời điểm “bóng xế tà”, nhân vật trữ tình bước tới đèo Ngang và đưa mắt ngắm nhìn vạn vật. Thiên nhiên đèo Ngang hiện lên với hình ảnh “cỏ cây chen đá, lá chen hoa” gợi ra sức sống đang trỗi dậy. Và trong nền bức tranh thiên nhiên ấy, con người xuất hiện đầy lẻ loi, cô đơn. Bà Huyện Thanh Quan đã sử dụng biện pháp tu từ đảo ngữ kết hợp với đối để miêu tả hình ảnh con người “lom khom - tiều vài chú”, “lác đác - chợ mấy nhà”. Từ đó, chúng ta hình dung về hình ảnh vài chú tiều với dáng đứng lom khom dưới chân núi cùng mấy căn nhà nhỏ lác đác. Qua đó, sự nhỏ bé bé của con người giữa thiên nhiên rộng lớn, bát ngát càng nổi bật hơn.

“Nhớ nước, đau lòng, con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.”

Ở câu thơ này, “con quốc quốc” và “cái gia gia” không chỉ là hình ảnh thực về hai loại chim mà còn gợi âm thanh “quốc quốc”, “đa đa”. Qua đó, nhà thơ bộc lộ nỗi nhớ nhung sâu sắc, da diết dành cho quê hương, đất nước. Sự cô đơn với “một mảnh tình riêng” không có người chia sẻ càng tăng lên ở hai câu thơ cuối cùng:

“Dừng chân đứng lại trời, non, nước
Một mảnh tình riêng, ta với ta.”

Giữa thiên nhiên rộng lớn, con người càng trở nên nhỏ bé.Cụm từ “ta với ta” được Bà Huyện Thanh Quan để nhấn mạnh nỗi cô đơn của nhân vật trữ tình hay chính tác giả.

Qua Đèo Ngang là một bài thơ mang đậm phong cách sáng tác của Bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ cũng gửi gắm nỗi niềm tâm trạng của nhà thơ trước cảnh ngộ đất nước lúc bấy giờ.

Bài siêu ngắn Mẫu 2

Tự tình II của Hồ Xuân Hương là tiếng nói đầy ám ảnh về thân phận và khát vọng sống của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Mở đầu bài thơ là không gian đêm khuya tĩnh mịch với âm thanh “trống canh dồn”, gợi bước đi nặng nề của thời gian và nỗi cô đơn kéo dài. Hình ảnh “trơ cái hồng nhan với nước non” vừa thể hiện sự tủi hổ, vừa cho thấy ý thức sâu sắc về thân phận lẻ loi.

Đến hai câu thực, tác giả sử dụng hình ảnh “chén rượu” và “vầng trăng” để diễn tả tâm trạng bế tắc: càng muốn quên lại càng tỉnh, càng mong trọn vẹn lại càng dang dở. Hai câu luận là điểm nhấn mạnh mẽ với những động từ “xiên”, “đâm” đầy táo bạo, thể hiện sự phản kháng quyết liệt của cái tôi cá nhân trước số phận.

Tuy nhiên, hai câu kết lại trở về với nỗi ngán ngẩm khi thời gian cứ trôi mà hạnh phúc vẫn xa vời. Bài thơ là sự đan xen giữa phản kháng và cam chịu, giữa khát vọng và thực tại. Qua đó, Hồ Xuân Hương đã cất lên tiếng nói nhân đạo sâu sắc, vừa cảm thương vừa trân trọng vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ.

Bài siêu ngắn Mẫu 3

Trong kho tàng thơ Nôm, Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến là một thi phẩm đặc sắc thể hiện tình bạn chân thành, giản dị mà sâu sắc. Sáu câu đầu bài thơ là một loạt những cái “không có”: trẻ đi vắng, chợ xa, ao sâu không chài được cá, vườn rộng khó bắt gà… Những chi tiết tưởng chừng bất lợi ấy lại được kể bằng giọng điệu hóm hỉnh, tự nhiên, khiến người đọc cảm nhận được sự vui vẻ, lạc quan của tác giả.

Sự thiếu thốn vật chất được đẩy lên đến đỉnh điểm khi ngay cả miếng trầu – “đầu câu chuyện” – cũng không có. Nhưng chính trong hoàn cảnh ấy, tình bạn lại càng được làm nổi bật. Hai câu kết “ta với ta” là sự khẳng định đầy xúc động về tình tri kỉ: không cần vật chất, không cần lễ nghi, chỉ cần sự đồng điệu tâm hồn.

Bài thơ sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi, mang đậm chất dân gian nhưng vẫn tuân thủ chặt chẽ thể thơ Đường luật. Qua đó, Nguyễn Khuyến đã thể hiện một quan niệm đẹp về tình bạn: chân thành, tự nhiên và vượt lên trên mọi điều kiện vật chất

Bài tham khảo Mẫu 1

 Trong số những tác phẩm nổi tiếng được truyền cảm hứng từ Đèo Ngang, không thể không nhắc đến bài thơ "Qua đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan. Đây là một tác phẩm thể hiện chân thành và cảm xúc của bà khi trên đường đi Huế nhận chức. "Qua đèo Ngang" chính là sự biểu đạt sâu sắc về nỗi nhớ nhà, nỗi nhớ quê hương đậm đà trong lòng bà.

"Qua đèo Ngang" là một bài thơ được viết theo thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật. Cảm hứng sáng tác của bà chủ yếu đến từ khung cảnh quê hương và đất nước, và thông qua đó, bày tỏ tâm trạng của con người. Gần như tất cả các tác phẩm của Bà Huyện Thanh Quan đều bắt đầu bằng hình ảnh hoàng hôn. Và bài thơ "Qua đèo Ngang" cũng không là ngoại lệ:

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá, lá xen hoa

Cảnh đèo hiện ra trước mắt như một bức tranh thuỷ mặc sắc màu, tràn đầy nỗi u buồn. Từ "bóng xế tà" đã định rõ không chỉ không gian mà còn thời gian, tạo nên một không khí u ám, buồn tênh trong lòng người đọc. Trong bức tranh của nhà thơ, cảm giác cô đơn và lạc lõng được tạo nên bởi cảnh vật u buồn, không một ai hiện diện. Chỉ có cây cỏ và hoa, "chen" vào nhau để tìm ánh sáng, để tìm sự sống. Từ "chen" được lặp lại hai lần, như một lầm lỗi, làm tăng thêm sự hiu quạnh, đau lòng tại địa điểm này. Hình ảnh trong hai câu thơ không chỉ đơn thuần là những dòng lệ uất ức, mà còn là sự lựa chọn tỉ mỉ, tinh tế, gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc. Tác giả đã tạo ra một khung cảnh đầy màu sắc, đậm chất cảm xúc và tâm trạng.

“Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà"

Câu thơ khởi đầu mang đến cho chúng ta hình ảnh trong bóng chiều lạnh lẽo, với những chú tiều phu đang mệt mỏi đi đốn củi, và những quán chợ thưa thớt. Đảo ngữ được sử dụng một cách khéo léo, đặc biệt là từ "lác đác" và " lom khom", đã tạo ra một hình ảnh sống động, bộc lộ cuộc sống tẻ nhạt và buồn chán. Đèo Ngang trở nên cô đơn, u buồn hơn gấp nhiều lần. Sự đối lập trong hai câu thơ thực sự này tạo ra một cảnh tượng thưa thớt dưới chân núi, trên dòng sông. Từ "vài" và "mấy" càng làm tăng sự vắng vẻ tại đèo Ngang này. Trong không gian trống lặng ấy, từ xa xa, tiếng chim quốc quốc, chim gia gia vang lên một cách đều đều.

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Hai câu thơ trên, Bà Huyện Thanh Quan đã tận dụng khả năng thính giác của mình để truyền tải cảm nhận: tiếng chim quốc quốc, chim gia gia vang lên từ xa, truyền đi trong không gian êm đềm, yên tĩnh của buổi chiều trên đèo cao. Từ cảnh vật thiên nhiên đó và hoàn cảnh của nhà thơ lúc này đã khơi gợi trong bà những suy tưởng về sự nhớ nhà và tình yêu quê hương. Nhà thơ thương nhớ cảnh quê hương đang chìm trong cảnh loạn lạc, gia đình tan rã không thể sum vầy bên nhau. Nỗi đau lòng khi nhớ đến quê hương có lẽ là vì những lý do như vậy.  Hai câu thơ trong phần bàn luận của "Qua đèo Ngang" đã nhấn mạnh tình cảm mà Bà Huyện Thanh Quan dành cho Tổ quốc và gia đình. Những hiện thực xã hội và khung cảnh nơi đèo Ngang đã khiến tác giả nhớ về chính mình và thúc đẩy bà thốt lên: 

Dừng chân đứng lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta.

Nơi đây chỉ có một mình nhà thơ và cộng hưởng thêm tình cảm thiêng liêng dành cho nước, cho nhà khiến lòng bà càng thêm trống trải. Vũ trụ rộng lớn quá! Con người cô đơn biết nhường nào! Cụm từ “ta với ta” đã càng cho thấy rõ hơn tài năng điêu luyện của nhà thơ. Câu thơ đã nhấn mạnh vào sự lẻ loi, đơn côi của tác giả trong bối cảnh thiên nhiên rộng lớn. Qua đó, chúng ta cảm nhận sâu hơn về nỗi tâm sự của nhà thơ đối với quê hương và đất nước.

Nghệ thuật tả cảnh và ngụ tình xuất sắc, chỉ nói về cảnh vật nhưng nỗi niềm và tâm trạng của tác giả được thể hiện rõ nét. Bài thơ của bà mang giá trị đặc biệt, không chỉ thành công trong việc miêu tả hình ảnh mà còn chứa đựng cả tâm hồn, tình cảm và nỗi nhớ quê hương, tình yêu nhà và tài năng của một cây bút tuyệt vời. Gấp trang sách lại, trong lòng mỗi người ta vẫn còn mang trong mình những cảm xúc về nữ sĩ đó. Bài thơ sẽ sống mãi với thời gian, với những điều tươi đẹp nhất mà nó đem lại.

Bài tham khảo Mẫu 2

Bài thơ Câu cá mùa thu thể hiện sự cảm nhận và nghệ thuật gợi cảm tinh tế của Nguyễn Khuyến về cảnh sắc mùa thu đồng bằng Bắc bộ. Đồng thời, bài thơ cũng cho thấy tình yêu thiên nhiên, đất nước của tác giả.

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”

Hai câu đầu nói về bức tranh mùa thu ở đồng bằng Bắc bộ. Tác giả từ đã khéo léo thay đổi điểm nhìn từ gần ra xa để thu vào tầm mắt cảnh vật xung quanh. Nước ao “trong veo” toả ra hơi thu “lạnh lẽo”. Làn sương mờ ảo như bao trùm mọi vật. Trên mặt nước hiện lên thấp thoáng một chiếc thuyền câu rất bé nhỏ, được miêu tả với dáng vẻ - “bé tẻo teo”. Cách gieo vần “eo” - vốn là một vần rất khó để vào mạch nhưng lại được Nguyễn Khuyến sử dụng khéo léo, tinh tế. Từ đó, nhà thơ gợi đã ra một không gian vắng lặng, cô quạnh cũng như nỗi lòng đầy uẩn khúc của nhà thơ.

“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo”

Ở hai câu tiếp, mùa thu được gợi ra qua hình ảnh “sóng biếc, lá vàng” cùng với đường nét “hơi gợn tí, khẽ đưa vèo”. Ở đây, màu “biếc” của sóng hòa hợp với sắc “vàng” của lá vẽ nên bức tranh quê đơn sơ mà lộng lẫy. Tác giả sử dụng nghệ thuật đối vô cùng điêu luyện, góp phần diễn tả vẻ đẹp thiên nhiên. Hình ảnh “lá vàng ” với “sóng biếc ”, tốc độ “vèo” của lá bay tương ứng với mức độ “tí” của gợn sóng. Có thể hình dung ra, mùa thu hiện lên không chỉ có màu sắc mà còn có chuyển động, làm tăng thêm vẻ sống động, chân thực. Hai câu thơ giúp tôi nhận ra vẻ đẹp của hồn thu.

“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.”

Ở đây, không gian miêu tả được mở rộng thêm. Bức tranh thu có thêm chiều cao của bầu trời “xanh ngắt” với những tầng mây “lơ lửng” trôi theo chiều gió nhẹ. Từ “xanh ngắt” không chỉ gợi ra màu xanh mà còn cho thấy chiều sâu. Trời thu không mây mà xanh ngắt một màu. Và rồi, nhà thơ đưa điểm nhìn lại gần. Nơi thôn xóm vắng lặng. Mọi con đường quanh co, hun hút và không một bóng người qua lại. Cảnh vật dường như mang chút êm đềm, thoáng một nỗi buồn cô tịch, hiu hắt.

“Tựa gối buông cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo”

Đến hai câu cuối, con người đã xuất hiện. “Tựa gối buông cần” là tư thế của người câu cá cũng là một tâm thế nhàn của một nhà thơ đã thoát vòng danh lợi. Âm thanh “cá đâu đớp động”, thêm từ “đâu” gợi lên sự mơ hồ, xa vắng và chợt tỉnh. Người câu cá phải chăng cũng chính là tác giả - một con người yêu nước thương dân nhưng bất lực trước thời cuộc, không cam tâm làm tay sai cho thực dân Pháp nên đã cáo bệnh, từ quan. Và rồi, tâm hồn bỗng chợt tỉnh trở về thực tại khi “cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Không gian có lẽ phải vô cùng yên tĩnh mới có thể lắng nghe được tiếng cá đớp động. Nhờ có không gian tĩnh lặng đó đã góp phần diễn tả tâm trạng buồn bã, cô quạnh trong lòng nhà thơ.

Bài thơ Câu cá mùa thu khắc họa vẻ đẹp của khung cảnh làng quê vào mùa thu cũng như thể hiện tình yêu thiên nhiên, đất nước sâu sắc, cùng với nỗi lo lắng cho cảnh ngộ đất nước ngay cả khi đã cáo quan về ở ẩn.

Bài tham khảo Mẫu 3

Bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác của Phan Bội Châu là một trong những tác phẩm tiêu biểu thể hiện rõ khí phách hiên ngang, tinh thần lạc quan và ý chí kiên cường của người chí sĩ yêu nước trong hoàn cảnh tù đày. Được sáng tác khi tác giả bị giam giữ tại nhà ngục Quảng Đông, bài thơ không chỉ là lời tự bạch mà còn là tuyên ngôn sống đầy bản lĩnh của một con người suốt đời vì dân, vì nước.

Ngay từ hai câu đề:
 “Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu,
 Chạy mỏi chân thì hẵng ở tù.”
Phan Bội Châu đã khẳng định tư thế ung dung, bất biến của mình. Cụm từ “hào kiệt, phong lưu” không chỉ nói về tài năng mà còn thể hiện phong thái sống tự tin, ngẩng cao đầu của một bậc anh hùng. Điệp từ “vẫn” được lặp lại hai lần như một lời nhấn mạnh mạnh mẽ: dù hoàn cảnh có thay đổi, dù bị giam cầm, bản chất và khí phách của người chí sĩ vẫn không hề suy chuyển. Đặc biệt, câu thơ “chạy mỏi chân thì hẵng ở tù” mang giọng điệu nửa đùa nửa thật, thể hiện cái nhìn đầy lạc quan: nhà tù không phải là điểm kết thúc mà chỉ là một chặng dừng chân tạm thời trên con đường cách mạng. Chính cách nhìn ấy đã nâng tầm người tù từ thân phận bị giam cầm thành chủ thể làm chủ hoàn cảnh. Đến hai câu thực:
 “Đã khách không nhà trong bốn bể,
 Lại người có tội giữa năm châu.”
Nhà thơ tự nhận mình là “khách không nhà”, một con người tự do, phiêu bạt vì lý tưởng lớn lao. Hình ảnh “bốn bể”, “năm châu” mở ra không gian rộng lớn, cho thấy tầm vóc của người chí sĩ không bị bó hẹp trong phạm vi cá nhân hay quốc gia mà mang tầm vóc toàn cầu. Tuy nhiên, giữa không gian rộng lớn ấy, ông lại trở thành “người có tội” – một nghịch lí đầy chua xót. Nhưng “tội” ở đây không phải là tội lỗi đáng xấu hổ, mà chính là “tội” yêu nước, “tội” chống lại áp bức. Qua đó, Phan Bội Châu đã gián tiếp tố cáo sự phi lí của chế độ thực dân phong kiến, đồng thời khẳng định giá trị cao đẹp của người cách mạng. Hai câu luận đã đưa cảm xúc bài thơ lên cao trào:
 “Dang tay ôm chặt bồ kinh tế,
 Mở miệng cười tan cuộc oán thù.”
Hình ảnh “bồ kinh tế” mang ý nghĩa biểu tượng cho sự nghiệp cứu nước lớn lao. Động từ “dang tay ôm chặt” thể hiện khát vọng mãnh liệt, quyết tâm không buông bỏ lý tưởng. Dù bị giam cầm về thể xác, tinh thần của người chí sĩ vẫn tự do, vẫn hướng về sự nghiệp lớn. Đặc biệt, hình ảnh “mở miệng cười tan” cho thấy một thái độ sống đầy bản lĩnh: không bi lụy, không oán than mà đối diện với nghịch cảnh bằng nụ cười. Tiếng cười ấy không chỉ là sự lạc quan mà còn là sự thách thức, coi thường mọi thế lực áp bức. Hai câu kết là lời khẳng định chắc chắn, dứt khoát về ý chí của tác giả:
 “Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp,
 Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu.”
Chỉ cần còn sống, còn tồn tại, thì sự nghiệp cách mạng vẫn tiếp tục. Câu thơ như một lời thề, một lời tự nhắc nhở đầy kiên định. Tinh thần “sợ gì đâu” thể hiện sự coi thường hiểm nguy, đặt lý tưởng lên trên tất cả. Đây cũng chính là vẻ đẹp cao nhất của người chí sĩ: sẵn sàng hi sinh bản thân vì mục tiêu lớn lao của dân tộc.

\Xét về nghệ thuật, bài thơ tuân thủ chặt chẽ thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, với kết cấu đề – thực – luận – kết rõ ràng. Ngôn ngữ thơ hàm súc, giàu hình ảnh, kết hợp nhuần nhuyễn giữa giọng điệu trữ tình và chất hùng biện. Đặc biệt, giọng thơ vừa ngang tàng, vừa lạc quan, tạo nên phong cách rất riêng của Phan Bội Châu.

Tóm lại, “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” không chỉ là tiếng nói cá nhân mà còn là biểu tượng cho tinh thần bất khuất của người cách mạng Việt Nam đầu thế kỉ XX. Qua bài thơ, người đọc cảm nhận sâu sắc khí phách hiên ngang, ý chí kiên cường và niềm tin mãnh liệt vào con đường cứu nước. Đây thực sự là một tác phẩm có giá trị lớn cả về nội dung tư tưởng lẫn nghệ thuật.

Bài tham khảo Mẫu 4

Phan Châu Trinh là một trong những chí sĩ yêu nước nổi tiếng của cách mạng Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX. Không chỉ vậy, ông còn được biết đến với tư cách là một nhà thơ. Một trong những tác phẩm tiêu biểu phải kể đến bài thơ “Đập đá ở Côn Lôn” đã thể hiện được tư thế hiên ngang của người chí sĩ cách mạng trước hoàn cảnh chốn lao tù vẫn lạc quan quyết không “sờn lòng đổi chí".

Vào năm 1908, Phan Châu Trinh bị chính quyền thực dân khép vào tội xúi giục nhân dân nổi loạn trong phong trào chống thuế ở Trung Kì và bị bắt đày ra Côn Đảo. Tháng 6 năm 1910, ông được tha do có sự can thiệp của Hội nhân quyền (Pháp). Bài thơ được sáng tác khi ông đang cùng những người tù khác lao động khổ sai tại nhà tù ở Côn Đảo (Côn Lôn).

Những câu thơ đầu tiên gợi ra hình ảnh người tù cách mạng với tư thế hiên ngang:

“Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn,
Lừng lẫy làm cho lở núi non”

Tác giả đã cho người đọc thấy được một hoàn cảnh sống vô cùng khắc nghiệt nơi Côn Đảo - chỉ có núi non hiểm trở, biển cả mênh mông. Nhưng trước hoàn cảnh đó, người tù vẫn giữ được tư thế vững vàng của một đấng nam nhi. Hình ảnh người chí sĩ cách mạng đầu đội trời, chân đạp đất - lừng lẫy, oai phong hiện ra trước mắt người đọc thật đẹp đẽ. Giữa hoàn cảnh sống như vậy, họ phải lao động khổ sai với công việc đập đá. Một công việc mà mới chỉ nghe tên thôi đã thấy được sự nặng nhọc. Công cụ lao động là “búa” và “tay”, cùng với hành động đầy quyết liệt “đánh tan năm bảy đống”, “đập bể mấy trăm hòn” - quả là một sức mạnh phi thường.

Tiếp đến, hình ảnh người tù cách mạng hiện lên với ý chí dẻo dai, bền bỉ và kiên cường:

“Tháng ngày bao quản thân sành sỏi,
Mưa nắng càng bền dạ sắt son”

Cụm từ “tháng ngày” chỉ thời gian bị tù đày, bị khổ sai kéo dài, còn “mưa nắng” tượng trưng cho gian khổ, cho mọi nhục hình, đày đọa. Trước những thử thách ghê gớm ấy, người chí sĩ “bao quản” chí khí. Cùng với đó, hình ảnh “thân sành sỏi”, “dạ sắt son” là hai ẩn dụ nói lên chí khí bền vững, lòng son sắt thủy chung đối với nước với dân của một đấng nam nhi. có chí lớn, của một kẻ sĩ chân chính: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Đó chính là cốt cách của những bậc trượng phu trong thời xưa. Trong gian khổ, ý chí của người tù cách mạng hiện lên càng đẹp đẽ, sáng ngời.

Hai câu cuối cùng vang lên như một lời thề với non sông, đất nước:

“Những kẻ vá trời khi lỡ bước,
Gian nan chi kể sự con con”

Ở đây, Phan Châu Trinh đã mượn sự tích “vá trời” của bà Nữ Oa trong thần thoại Trung Hoa để nói lên chí lớn làm cách mạng, cứu nước cứu dân. Đối với họ, dù “có lỡ bước” - có gặp khó khăn, có chịu thất bại, dù có nếm trải gian nan cay đắng tù đày thì với nhà chí sĩ chân chính việc “con con” ấy không đáng kể, không đáng nói, không đáng quan tâm. Cùng với đó là niềm tin vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc trong tương lai.

Như vậy, bài thơ “Đập đá ở Côn Lôn” đã khắc họa hình tượng lẫm liệt, ngang tàn của người anh hùng cứu nước dù gặp bước nguy nan nhưng vẫn không sờn lòng đổi chí. Qua bài thơ, vẻ đẹp của một con người mang lí tưởng lớn được tỏa sáng: dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất vẫn giữ vững khí phách và niềm tin vào con đường đã chọn. Tác phẩm vì thế không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn mang ý nghĩa cổ vũ tinh thần mạnh mẽ, trở thành tiếng nói tiêu biểu cho chí khí của những người cách mạng Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Bài tham khảo Mẫu 5

Không ồn ào, không rực rỡ, Thu điếu của Nguyễn Khuyến chinh phục người đọc bằng vẻ đẹp lặng lẽ và chiều sâu cảm xúc. Ẩn sau bức tranh thu quen thuộc của làng quê là một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế và đầy trăn trở. Chính sự hòa quyện giữa cảnh và tình đã làm nên giá trị đặc biệt cho bài thơ.

Tác giả đã sử dụng điểm nhìn một cách linh hoạt từ gần đến xa, từ xa đến gần để khắc họa bức tranh thu. Bức tranh hiện ra với không gian khá hẹp trong một chiếc ao nhỏ bé với một chiếc thuyền câu nhẹ tênh. Mùa thu trong tâm hồn nhà thơ với hình ảnh “ao thu lạnh lẽo” với làn nước “trong veo” giống như một chiếc gương khổng lồ có thể phản chiếu mọi cảnh vật. Chiếc thuyền câu ở đấy rồi nhưng vẫn chưa thấy con người xuất hiện:

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”

Đến hai câu thơ tiếp theo, khung cảnh làng quê lúc này đã không còn tĩnh lặng nữa mà đã bắt đầu có chút âm thanh:

“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”

Sóng nhỏ vì ao vốn nhỏ, bởi vậy mới có “theo làn hơi gợn tí”. Kế tiếp là hình ảnh “lá vàng trước gió khẽ đưa vèo” - chỉ một động từ “vèo” thôi nhưng đã gợi ra một chuyển động thật tinh tế của chiếc lá.

“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”

Tác giả mở rộng không gian lên tận trời xanh với hình ảnh những đám mây lơ lửng giữa trời. Dường như với hình ảnh này, bức tranh thu trở nên thật lãng mạn và trữ tình. Không gian mở rộng là thế, bỗng chốc lại trở về với cận cảnh. Hình ảnh “ngõ trúc quanh co” chính là con đường làng quen thuộc với bóng tre đã đứng đó từ bao đời. Trời thu lạnh lẽo khiến cho đường làng trở nên vắng vẻ hơn. Vần “eo” (veo - teo - vèo) thật độc đáo, góp phần khắc họa bức tranh mùa thu.

Bài thơ được kết thúc bởi hình ảnh của nhân vật trữ tình:

“Tựa gối buông cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.”

Con người đã xuất hiện trong bức tranh thu. Nhân vật trữ tình trong bài thơ đang câu cá mà dường như chẳng hề chú tâm đến công việc của mình “tựa gối buông cần”. Có lẽ vì đang chìm đắm trong dòng suy nghĩ miên man của bản thân để rồi chỉ một âm thanh nhỏ bé của cá đớp động dưới chân bèo lại làm nhà thơ giật mình sực tỉnh. Hai câu cuối đã khắc họa hình ảnh nhân vật trữ tình - hay cũng chính là nhà thơ trong một tâm thế nhàn nhã trước bức tranh thu nơi quê hương. Từ đó, bài thơ cũng bộc lộ tình yêu thiên nhiên, đất nước sâu sắc, cùng với nỗi lo lắng cho cảnh ngộ đất nước ngay cả khi đã cáo quan về ở ẩn.

Tóm lại, Thu điếu không chỉ là một bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ mà còn là sự thể hiện tinh tế tâm trạng của Nguyễn Khuyến. Qua đó, người đọc cảm nhận được tình yêu quê hương sâu sắc cùng nỗi niềm trăn trở trước thời cuộc. Bài thơ vì thế mang giá trị bền vững cả về nghệ thuật lẫn nội dung.

Bài tham khảo Mẫu 6

Mùa thu luôn là đề tài, là cảm hứng quen thuộc lâu đời của thơ ca. Quay ngược bánh xe thời gian ta sẽ bắt gặp những mùa thu tuyệt vời ngập tràn trong những trang thơ của bao thế hệ. Trong kho tàng văn học dân tộc ta đã từng biết đến một mùa thu ngơ ngác trong thơ Lưu Trọng Lư, dào dạt và đượm buồn trong thơ Xuân Diệu, một mùa thu trong veo trong thơ Nguyễn Khuyến. “Câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyến – một bức tranh mùa thu mà Xuân Diệu đã từng nhận xét: “Là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”.

Mở đầu bài thơ là hình ảnh:

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.”

Đã mở ra một không gian nghệ thuật, một cảnh sắc mùa thu đồng quê. Chiếc ao thu nước trong veo có thể nhìn được rong rêu tận đáy, tỏa ra khí thu lạnh lẽo như bao trùm không gian. Trên mặt ao thu đã có một chiếc thuyền câu tai liệu của nhung tây bé tẻo teo tự bao giờ, gợi tả sự cô đơn. Hình ảnh mùa thu hiện lên trong bài thơ với một không gian hẹp ở chốn làng quê của tác giả, trong một cái ao nhỏ với chiếc thuyền câu nhẹ thênh. Ao nhỏ thì thuyền câu cũng nhỏ theo “bé tẻo teo”, vần eo là thử vận hiểm hóc, vậy mà câu thơ trôi chảy tự nhiên như không, như không có chút gì là kĩ xảo cả. Thuyền câu đã hiện ra đấy mà người câu đâu chẳng thấy. Cũng chưa thấy cần thấy nhớ gì cả. Người đi câu còn mải mê với trời nước của mùa thu:

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng, trước gió khẽ đưa vèo.

Sóng nhỏ vì ao nhỏ, lại là trong chỗ khuất. Gió nhẹ, gió heo may mùa thu. Sóng lại có màu sắc, “sóng biếc” thật đẹp. Ngòi bút của tác giả tinh tế đến từng chi tiết nhỏ.

Hai câu thực đối rất chỉnh “sóng biếc" đối với “lá vàng”, đều là màu sắc đặc trưng của mùa thu. “Hơi gợn tí” đối với “khẽ đưa vèo”, vận động của chiều dọc tương xứng với vận động của chiều ngang thật tài tình. Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo. Nhà thơ đã thả hồn theo chiếc lá vàng “khẽ đưa vèo" trên mặt ao trong veo.

Ông thổ lộ một đời thơ mới có được một câu vừa ý: vèo trông lá rụng đầy sân. Bức tranh thu được mở rộng dần ra qua hai câu thơ:

“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.”

Bầu trời thu xanh ngắt thăm thẳm, bao la. Áng mây, tầng mây lơ lửng nhè nhẹ trôi. Thoáng đãng, êm đềm, tĩnh lặng và nhẹ nhàng. Không một bóng người lại qua trên con đường làng đi về các ngõ xóm: Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Vắng teo nghĩa là vô cùng vắng lặng không một tiếng động nhỏ nào, cũng gợi tả sự cô đơn, trống vắng. Bài thơ kết thúc với hình ảnh của người đi câu như một nét tự họa:

“Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.”

Nhà thơ thu mình lại “tựa gối ôm cần”, dường như để tương xứng với khung ao nhỏ, với chiếc thuyền “bé tẻo teo”. Người đi câu đang đắm chìm trong suy tư thì một cử động đã làm cho nhà thơ sực tỉnh: Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Ba chữ “đ” (đâu, đớp, dộng) miêu tả một chút xao động trong làn ao và rất nhiều xao động trong lòng thật là tài tình. Có ý kiến cho rằng cử chỉ đi câu của Nguyễn Khuyến giống với Khương Tử Nha và nhà bình luận đó hết lời ngợi ca cả hai ông. Không! Nguyễn Khuyến đâu có còn chờ thời.

Nhà thơ chỉ muốn tan hòa vào thiên nhiên, vào non nước. Toàn bộ hình tượng thơ “Thu điếu” đã sửa soạn cho thái độ này. Khung cảnh hẹp, làn ao nhỏ, chiếc thuyền “bé tẻo teo”. Nhà thơ thu mình lại “tựa gối ôm cần” hòa điệu với thiên nhiên, tan hòa với non nước. Thế thì làm sao thái độ đi câu của Nguyễn Khuyến lại giống với thái độ đi câu của Khương Tử Nha được? Còn đồng tình với ai đó là chuyện riêng. Tôi đồng tình với Nguvễn Khuyến.Trong chùm thơ bài viết về mùa thu của Nguyễn Khuyến, nếu được chọn một bài thì đó là bài “Thu điếu”.

Bài thơ "Thu điếu” là kiệt tác trong nền thơ cổ điển nước nhà. Bức tranh mùa thu được miêu tả bằng những hòa sắc tinh tế, những đường nét gợi cảm. Nhạc điệu cũng độc đáo. vần gieo hiểm hóc mà tự nhiên, hồn nhiên. Theo Xuân Diệu, cả bài thơ không còn lép chữ nào. Thật là một nghệ sĩ cao tay. Cái tình của nhà thơ cũng theo kịp cái tài. Cái tình của nhà thơ đối với quê hương làng cảnh, với non sông đất nước thấm trong mỗi chữ mỗi lời làm xúc động hết thảy mỗi tâm hồn Việt Nam.

Bài tham khảo Mẫu 7

Năm nào cũng vậy, khi những giá lạnh cuối cùng vừa tan, hương vị đất mới còn chưa thành hình hẳn mà chỉ phảng phất trên cành cây trước sân đó là thời khắc đất trời khẽ lay mình chuẩn bị đón xuân sang. Cảm nhận được dư vị ngọt ngào, lắng đọng trong vẹn nhất của vạn vật thời khắc ấy các thi nhân lại đắm mình cùng mình vần thơ long lanh và Nguyễn Trãi cũng thế. Ông gửi vào tiết Xuân bao say sưa, mơ hồ, bay bổng, nhẹ tênh qua phút xuất thần với những câu thơ của “Đào hoa thi” khiến vạn người hôm nay đọc mà vẫn trầm trồ, xao xuyến, thương mến không thôi.

Ai có thể níu giữ thời gian, đông lại khoảnh khắc đẹp nhất của đời người, khóa kín hơi thở vạn vật chẳng phôi phai? Chính bởi thế, thay vì luôn đau đáu kiếm tìm sợi dậy trói buộc mọi cái đẹp ở đời Nguyễn Trãi lại thả hồn với mọi khoảnh khắc cuộc sống ở hiện tại:

Một đóa đào hoa khéo tốt tươi,

Cành Xuân mơn mởn thấy Xuân cười.

Âm vang cuộc sống, ánh nhìn lẽ đời bắt đầu dần lộ từ những con chữ nhỏ bé đầu tiên cho chiếc chìa khóa khẽ vặn cách cửa của bước xuân sang nơi nhành đã hé nở. Chẳng phải từng chùm, cả rừng, hay trải dài bạt ngàn hoa mà chỉ nhỏ nhắn góc sân nhà “một đóa đào hoa” nhẹ nhàng, tinh khôi lung linh trong nắng thu hút ánh nhìn của vạn vật. Phải chăng vì giờ đây thi nhân đang quan sát bước đi thời gian của mùa xuân ngày ở chính nơi mình sống, trong căn nhà nhỏ, yên bình thế nên chỉ mới kịp thấy hương vị đất mới cựa mình từ từ, chầm chậm qua những bông đào phơn phớt đầu tiên, chứ chưa đủ rực rỡ chen nhau phủ kín cả bầu trời như giữa Xuân. Cái gì đầu tiên, chớm hơi cũng đẹp, đáng chú ý, khiến người ta say mê, thế nên viết về hoa đào cũng chẳng phải điều quá lạ lẫm trong thi ca. Có lẽ viết về cánh đào cũng nhiều, mượn hoa mà nói lòng người chẳng ít, song để phô sự mơn mởn, đầy sức sống đến mức “tốt tươi” như Nguyễn Trãi thì không phải nhà thơ nào cũng tinh tế mà khai phá ra. Và rồi nhìn một nhành hoa mà ta như cảm thấy sự trỗi dậy, chen nhau đua nở giữa đất trời nhân gia, mở cả cánh cửa mùa xuân đang thật lộng lẫy, sáng rực khiến lòng ta nao nao, mê đắm. Nhìn hoa Nguyễn Trãi còn nhờ đến người để mà gửi gắm qua biện pháp ẩn dụ bóng dáng cười e lệ của nàng thiếu nữ mới đôi mươi, đẹp như cánh đào đang độ hương sắc nhất cuộc đời, thấy Xuân về cũng ngượng ngùng, nép vào nhành hoa. Do đó, chỉ bằng vài nét chấm phá tinh tế nên nền thiên nhiên mà giờ đây thi nhân bỗng phút chốc làm sáng rực cả bầu trời không chỉ với sắc thắm của hoa mà còn là sức sống “mơn mởn” của con người, hai cái đẹp cùng gặp nhau, đối diện ánh nhìn mà hòa hợp, hoan ca. Nhắc đến mùa xuân mà quên đi những cơn gió đông nhè nhẹ, thổi luồng sinh khí mới vào đất trời, hòa điệu khúc ca ngọt ngào cùng thiên nhiên thì thật có nhiều thiếu sót. Chính vì vậy, Nguyễn Trãi đã chắp bút thổi ngay làn gió đông tình tứ ấy vào trang thơ một cách thật bất ngờ:

Đông phong ắt có tình hay nữa,

Kín tiễn mùi hương dễ động người.

Mỗi người nghệ sĩ đều sẽ mở ra thế giới tâm hồn mình bằng rất nhiều cánh cửa khác nhau, để chạm vào trái tim bạn đọc, từ đó cùng họ khám phá thế giới. Và Nguyễn Trãi cũng không nằm ngoài quy luật sáng tác thơ ca ấy, chẳng thế mà ông đưa mỗi chúng ta tới cuộc đời qua hồn thơ của mình một cách thật ý vị mà khác biệt với các thi nhân xưa. Chẳng thế mà, dù chung tâm tưởng, cảm hứng viết về cánh hoa đào phảng phất trước gió đông Thôi Hộ đau đớn, giật mình trước nỗi bàng hoàng của sự chia xa:

Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.

Câu thơ cũng tràn đầu tình tứ, ý vị sâu sa khiến ta cũng mỉm cười hạnh phúc bên vẻ mộng mơ cùng cái tinh tế, nhạy cảm nơi tâm hồn nhà thơ. Ta còn hạnh phúc hơn, khi bắt gặp sự bất ngờ say mê của gió đông kia ngay lập tức biến thành hành động khiến nó đưa mùi hương của hoa lẫn vào không gian, ban cái đẹp lan tỏa khắp đất trời mà đánh thức vạn vật, làm tỉnh cả mùa xuân, “động” lòng “người” trong bao chất ngất! Ý thơ, tình người từ đó cũng chắp cánh bay lên, khiến bạn đọc thấy rõ tận cùng trái tim và tình yêu thiên nhiên say đắm, trân quý cuộc sống một cách đáng trọng của thi nhân mà dù hôm qua, hôm nay hay mai sau cũng đều sẽ còn sống mãi cùng tâm hồn ta.

Có thể nói, chỉ bằng bút phát tả cảnh ngụ tình, kết hợp vài đường nét bay bổng nhẹ nhàng, nhà thơ Nguyễn Trãi đã đem đến cho người đọc yêu thơ một bức tranh tuyệt bích, hoàn mĩ về thiên nhiên và con người một cách đẹp đẽ. Chính vì thế, “Đào hoa thi” dù không phải là một bài thơ nổi tiếng nhất của thi nhân, nhưng chắc chắc sẽ là khúc tình ca ngọt ngào về đất trời mỗi độ xuân sang, đủ sức neo đậu nơi trái tim mỗi chúng ta hôm nay và mãi mãi mai sau.

Bài tham khảo Mẫu 8

Thưởng thức thơ Nguyễn khuyến ta thường không cảm thấy được niềm vui ở trong đó vì những bài thơ đó thường được viết khi tâm trạng ông rất buồn bã khi chứng kiến cảnh đất nước đau thương, nhiều éo le. Nỗi buồn ấy càng da diết hơn biết bao nhiêu khi ông cáo quan về quê nhà ở ẩn. Nhưng khi đọc Bạn đến chơi nhà dường như ta không còn cảm nhận được nỗi buồn ấy. Bài thơ chính là cảm xúc của Nguyễn Khuyến khi được bạn đến chơi nhà. Toàn bộ bài thơ là tâm trạng hồ hởi, vui sướng khôn xiết và ẩn chứa trong đó là tình bạn gắn kết vượt lên trên mọi hoàn cảnh.

Mở đầu bài thơ là câu nói giản dị như chính là lời chào của hai người bạn thân sau biết bao nhiêu ngày tháng mới được gặp lại:

Đã bấy lâu nay bác tới nhà

Cụm từ “đã bấy lâu” đã vẽ lên khoảng thời gian đã quá lâu rồi mà người bạn kia mới có thời gian đến chơi với nhà thơ. Chính vì lẽ đó khi có bạn đến thăm thì nhà thơ quá đỗi vui mừng. Tác giả đã lựa chọn cách xưng hô rất thân mật - gọi bạn là “bác” thể hiện sự thân tình, gắn bó đồng thời ta cũng nhận thấy thái độ tôn trọng tình cảm bạn bè giữ hai người. Hai vế câu sóng đôi như một lời reo vui, đón khách, thể hiện sự xúc động ngọt ngào. Qua đó, cho thấy mối quan hệ gần gũi, thân mật giữa chủ và khách. Theo như phép tắc thông thường thì khi bạn đến chơi, chủ nhà sẽ phải tiếp đón thật chu đáo để thể hiện tình cảm của mình thế nhưng ở đây nhà thơ lại không có bất cứ thứ gì để thiết đãi bạn.Những câu thơ tiếp theo gợi lên hoàn cảnh của nhà thơ khi bạn đến chơi:

Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa

Ao sâu nước cả, khôn chài cá

Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà

Cải chửa ra cây, cà mới nụ

Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa

Lúc này, chỉ có một mình nhà thơ ở nhà, những người trẻ tuổi trong nhà đều đã đi vắng hết, ngay cả chợ cho mọi người mua bán cũng ở rất xa nhà. Theo như bề nổi của câu chữ thì Nguyễn Khuyến đang muốn thanh bạch với bạn mình rằng: cá thì rất nhiều nhưng ao lại sâu, gà thì không thiếu nhưng vườn lại rộng. Cải, cà, bầu, mướp thì chưa ra cây, chỉ có nụ, vừa rụng rốn rồi thì đương hoa. Tất cả những gì nhà thơ liệt kê ra nhằm muốn diễn đạt rằng tất cả mọi thứ đều đang ở độ dở dang và chưa đến lúc dùng được. Như vậy, bữa cơm mời khách với đầy đủ thức ăn và cả rau dưa đều không có. Tiếp đến, Nguyễn Khuyến lại đưa ra tình huống:

Đầu trò tiếp khách trầu không có

Ông cha ta có câu “Miếng trầu là đầu câu chuyện”. Miếng trầu là sự lịch thiệp, là thứ tối thiểu cần có mỗi khi bắt đầu một câu chuyện. Vậy mà giờ đây một miếng trầu cũng không hề có. Đọc đến đây người đọc càng hình dung ra rõ hơn sự lúng túng của vị đại quan ngày xưa nay đã trở thành một người nông dân bình thường nơi quê nhà. Tình huống được tạo ra có tính bông đùa, có sẵn nhưng hóa ra lại không có gì, từ đó cho thấy hoàn cảnh éo le của tác giả. Vật chất không có, chỉ có sự chân tình tiếp đãi bạn. Bạn biết mình nghèo, lại ở một vùng quê hẻo lánh mà vẫn đến chơi với mình thì điều đó còn gì quý giá hơn. Câu thơ khép lại bài đã nói thật rõ về ý và tình của nhà thơ. Tiếp bạn không có mâm cao cỗ đầy, cao lương mĩ vị mà chỉ cần có một tấm lòng chân thành, một tình bạn thắm thiết là đủ:

Bác đến chơi đây ta với ta

Câu thơ này chính là linh hồn của cả bài thơ. “Ta với ta” nghĩa là một tấm lòng đến với một tấm lòng, hai người tri kỉ tìm đến nhau. Sử dụng quan hệ từ “với” nối liền hai chữ ta, qua đó ta thấy giữa chủ và khách dường như không còn khoảng cách, chỉ còn lại sự hòa hợp, vui vẻ, trọn vẹn. Tất cả những lễ nghi bên trên đều trở nên vô nghĩa. Giữa chủ và khách có chung tình cảm thắm thiết mà không thứ vật chất nào có thể so bì được. Ba tiếng “ta với ta” gợi cảm xúc thật vui mừng. Bạn bè xa nhau lâu ngày, nay vượt khoảng cách xa xôi đến thăm nhau thật là đáng quý. 

Bạn đến chơi nhà được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật nhưng ý thơ lại khá bất ngờ khi không tuân theo cấu trúc đề, thực, luận, kết như ở thơ Đường truyền thống. Đây là điều đặc biệt như chính cách mà hai người bạn đến chơi với nhà và trò chuyện với nhau. Giọng thơ tự nhiên, giản dị gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của người nông dân chốn quê nhà nhưng qua đấy nét tài hoa của Nguyễn Khuyến trong tả cảnh, tả tình cũng được bộc lộ rõ nét.

Bạn đến chơi nhà quả là bài thơ hay viết về tình bạn, một thứ tình cảm gắn bó keo sơn. Tâm hồn thanh bạch của hai người bạn đã hoà vào nhau làm một, một lối sống trọng nghĩa trọng tình. Ta ngưỡng mộ biết bao nhiêu tình bạn cảm động ấy. Thứ mà tác giả thiết đãi bạn của mình chính là cảnh vật bình dị là lòng người mang đầy sự ấm áp. Món quà đó còn mang nhiều giá trị hơn là những món cao sơn mĩ vị. 

Bài tham khảo Mẫu 9

Bài thơ Tự tình I của Hồ Xuân Hương là một trong những tiếng nói tiêu biểu, thể hiện sâu sắc nỗi cô đơn, bi kịch và khát vọng sống của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Qua những vần thơ giàu cảm xúc, tác giả không chỉ bộc lộ tâm trạng cá nhân mà còn phản ánh số phận chung của nhiều người phụ nữ phải chịu cảnh lận đận, éo le nhưng vẫn khao khát được yêu thương và hạnh phúc.

Mở đầu bài thơ là khung cảnh đêm khuya tĩnh lặng:
 “Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom,
 Oán hận trông ra khắp mọi chòm.”
Âm thanh “tiếng gà” vang lên giữa đêm khuya không làm phá vỡ sự yên tĩnh mà ngược lại càng làm nổi bật không gian vắng lặng. Từ láy “văng vẳng” gợi âm thanh xa xăm, mơ hồ, như vọng về từ cõi xa xôi, khiến nỗi cô đơn càng trở nên sâu sắc. Không gian “khắp mọi chòm” gợi sự rộng lớn, nhưng chính trong cái rộng lớn ấy, con người lại càng cảm thấy nhỏ bé, lạc lõng. Nỗi “oán hận” vì thế không chỉ là cảm xúc nhất thời mà đã lan tỏa, bao trùm cả không gian và tâm hồn nhân vật trữ tình. Đến hai câu thực, nhà thơ tiếp tục khắc họa tâm trạng bằng những hình ảnh giàu tính biểu tượng:
 “Mõ thảm không khua mà cũng cốc,
 Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?”
Hình ảnh “mõ thảm”, “chuông sầu” gợi đến không khí tang thương, u uất. Điều đặc biệt là dù “không khua”, “chẳng đánh” nhưng âm thanh vẫn vang lên, cho thấy nỗi buồn không đến từ ngoại cảnh mà xuất phát từ chính nội tâm. Đây là nỗi buồn âm ỉ, day dứt, không thể giải tỏa. Nghệ thuật đối lập giữa “không khua” – “cũng cốc”, “chẳng đánh” – “cớ sao om” đã làm nổi bật tính chất vô hình nhưng dai dẳng của nỗi đau. Hai câu luận đẩy cảm xúc lên cao hơn:
 “Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ,
 Sau giận vì duyên để mõm mòm.”

 Từ trạng thái buồn bã, nhân vật trữ tình chuyển sang sự bức xúc, bất mãn. “Rầu rĩ” không chỉ là nỗi buồn mà còn là sự chán chường kéo dài. Đặc biệt, cụm từ “giận vì duyên” cho thấy ý thức rõ ràng về nguyên nhân của nỗi khổ – đó là duyên phận lận đận. Từ “mõm mòm” mang sắc thái mỉa mai, chua chát, thể hiện sự bất bình với số phận. Đây không còn là lời than thân đơn thuần mà đã trở thành một sự phản kháng ngầm, thể hiện cá tính mạnh mẽ của Hồ Xuân Hương. Hai câu kết khép lại bài thơ bằng một âm điệu vừa xót xa vừa kiên quyết:
 “Tài tử văn nhân ai đó tá?
 Thân này đâu đã chịu già tom!”
Câu hỏi tu từ “ai đó tá?” thể hiện khát vọng được đồng cảm, được sẻ chia. Nhân vật trữ tình không cam chịu cô đơn mà mong muốn có người thấu hiểu. Đặc biệt, câu thơ cuối “thân này đâu đã chịu già tom” là một lời khẳng định mạnh mẽ: dù hoàn cảnh có khắc nghiệt, dù tuổi xuân có trôi qua, người phụ nữ vẫn không chấp nhận buông xuôi. Đó là ý thức về giá trị bản thân và khát vọng sống mãnh liệt.

Xét về nghệ thuật, bài thơ tuân thủ thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật nhưng lại mang một phong cách rất riêng. Ngôn ngữ vừa mang tính bác học, vừa gần gũi với đời sống dân gian; hình ảnh giàu sức gợi, mang tính biểu tượng cao. Giọng điệu thơ linh hoạt, khi thì u buồn, khi thì chua chát, lúc lại mạnh mẽ, phản kháng. 

Tóm lại, Tự tình I không chỉ là lời tự bạch của riêng Hồ Xuân Hương mà còn là tiếng nói chung của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Qua bài thơ, ta thấy được một tâm hồn vừa đau khổ, vừa mạnh mẽ; vừa cô đơn, vừa khao khát sống và yêu thương. Tác phẩm vì thế mang giá trị nhân văn sâu sắc, góp phần khẳng định vị trí đặc biệt của Hồ Xuân Hương trong nền văn học dân tộc.

Bài tham khảo Mẫu 10

Trần Tế Xương (Tú Xương) được xếp vào hàng nhũng cây bút trào phúng xuất sắc nhất của nền văn học dân tộc. Ông cũng là một nhà thơ trữ tình giàu cảm hứng nhân đạo và lòng yêu nước. Tú Xương còn là tác giả có nhiều cách tân táo bạo đối với thể loại thơ Nôm Đường luật Thương vợ là một trong những bài thơ Nôm nổi tiếng nhất của ông.

Thương Vợ được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, với niêm, luật chặt chẽ mà vẫn thể hiện được hồn thơ phóng khoáng và sáng tạo độc đáo của tác giả. Đề tài và cảm hứng sáng tác được khơi nguồn từ cuộc sống của chính nhà thơ, từ tình cảm dành cho người vợ tần tảo, một nắng hai sương:

Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Trên dòng thời gian đằng đẵng “quanh năm” suốt tháng, hình ảnh người vợ hiện lên với gánh gia đình trĩu nặng. Bà không chỉ một mình “nuôi đủ” đàn con mà còn phải “gánh” cả ông chồng! Cách miêu tả của nhà thơ khiến bên gánh “một chồng” kia còn có vẻ trìu xuống hơn. Hai hình ảnh “sóng đôi” ẩn chứa nỗi niềm thương vợ và cả thái độ tự trào. Bởi vì, trong cuộc mưu sinh vất vả, nhọc nhằn “khi quãng vắng buổi đò đông”, lúc nào cũng chỉ một thân cò lặn lội, xông pha. Cấu trúc đảo ngữ ở hai câu thực vừa tô đậm hình ảnh người vợ đảm đang, chịu thương chịu khó vừa thể hiện được sự cảm thông, nỗi xót xa, ái ngại của tác giả. Cùng với tình cảm yêu thương, nhà thơ còn bày tỏ lòng biết ơn, sự cảm phục người vợ của mình:

Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công. 

Hai câu luận không chỉ gọi liên tưởng đến hình ảnh bà Tú trong đời thục mà còn có ý nghĩa khái quát sâu sắc. Lời thơ như có sự hoà quyện của hai giọng điệu: giọng yêu thương, cảm thông, chia sẻ của người chồng và giọng tâm tình, dịu dàng, nhẫn nại của người vợ. Bà Tú nên đôi với nhà thơ hay chữ là mối duyên đẹp đẽ, tốt lành nên dẫu cuộc sống có nhiều cay đắng, gian nan vẫn “âu đành phận”. Và cho dù “năm nắng mười mưa”, một đời lam lũ, một mình lo toan, người vợ ấy vẫn không hề tiếc công sức, không cậy công lao. Mỗi câu thơ là một lời khẳng định, ngợi ca phẩm cách của người vợ thầm lặng, vị tha, giàu đức hi sinh. Đó cũng là vẻ đẹp truyền thống của những người vợ, người mẹ Việt Nam. Vì thế, tác giả Thương Vợ đã cất lên tiếng nói thể hiện niềm cảm thông sâu sắc đối với bà Tú cũng như bao nhiêu người phụ nữ khác đồng cảnh ngộ:

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc!

Có chồng hờ hững cũng như không!

Nhìn lướt qua, người đọc có thể ngạc nhiên khi thấy bài thơ thấm thìa ân tình lại kết thúc bằng một lời “chửi đổng”. Nhưng dõi theo mạch cảm xúc, thì tiếng chửi kia cũng là một biểu hiện của chủ đề “thương vợ” và thể hiện cảm hứng nhân đạo của tác phẩm. Nhà thơ không chỉ tự trách giận bản thân mà còn lên án “thói đời” bạc bẽo, bất công trong xã hội nam quyền. Bằng tấm lòng yêu thương, trân trọng, ông Tú đã “cất tiếng” thay cho bà Tú và bao nhiêu người phụ nữ thầm lặng, tảo tần, giàu đức hi sinh.

Bài thơ Thương Vợ của Tú Xương vừa kết tinh những giá trị nghệ thuật đặc sắc của thơ Nôm Đường luật vừa in đậm dấu ấn sáng tạo của tác giả. Nhà thơ đã sử dụng một cách linh hoạt và điêu luyện các yếu tố đặc trưng của thể loại: sự hoà phối thanh điệu, kết cấu chặt chẽ, tính cô đọng, hàm súc,..

Có thể nói, Thương vợ là tác phẩm tiêu biểu cho giá trị tư tưởng và nghệ thuật của thơ Tú Xương. Lựa chọn đề tài từ cuộc sống đời thường nhưng tác giả đã đặt ra nhiều vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn. Vì vậy, bài thơ vẫn khơi lên ở người đọc hôm nay sự đồng cảm, vẫn có giá trị bồi đắp nhũng tình cảm đẹp đẽ, sâu sắc.

Bài tham khảo Mẫu 11

Một tác phẩm thơ thất ngôn bát cú Đường luật mà em đặc biệt ấn tượng về nội dung mới lạ và cách trình bày độc đáo. Chính là tác phẩm Bạn đến chơi nhà của nhà thơ Nguyễn Khuyến.

Khác với những tác phẩm thơ thất ngôn bát cú Đường luật thường có bố cục đề thực luận kết. Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến lại được chia nội dung theo một bố cục hoàn toàn khác. Với câu mở đầu, phần nội dung và câu kết - giống như một bài văn tự sự.

“Đã bấy lâu nay bác tới nhà”

Câu mở đầu bài thơ là lời trần thuật của nhà văn về một điều đang diễn ra: Ngôi nhà được đón tiếp người bạn lâu ngày không gặp mặt. Đồng thời, câu thơ cũng như một lời chào mời đon đả, vui sướng của nhà thơ khi lâu lắm rồi mới được gặp lại bạn hiền. Niềm vui rạo rực ấy thể hiện rõ nét qua giọng điệu của câu thơ đầu này.

Bạn đến chơi nhà, theo lẽ thường là khách quý thì cần phải mời trà mời cơm thật thịnh soạn để bày tỏ tấm lòng. Nhưng trớ trêu thay, nhà thơ lại đang ở trong một hoàn cảnh vô cùng éo le:

Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cả, khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.

Năm câu thơ được ngắt nhịp 4/3 đều đều, tạo nên nhịp thơ mềm mại, uyển chuyển, dễ đi vào lòng người đọc. Nhà cách xa chợ, nhưng trẻ con thì đi vắng cả, nên không có ai ra chợ mua đồ về thiết đãi bạn. Ao có nuôi cá nhưng nước sâu, khó mà bắt được. Vườn nhà tuy rộng, nhưng lại rào thưa, khó mà bắt được gà để giết thịt. Cây cối trong vườn, cải thì mới gieo trồng chưa thành cây, mướp thì vừa ra hoa chưa có quả. Sự thiếu thốn ấy khiến nhà thơ chẳng có gì để tiếp đãi bạn cả. Những chi tiết ấy phản ánh cuộc sống khó khăn ở hiện tại của nhà thơ khi đã lui về ở ẩn. Đồng thời cũng khắc họa những thú điền viên như trồng trọt, chăn nuôi. Tuy có khó khăn nhưng cũng đem lại niềm vui thanh nhã.

Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây ta với ta.

Người xưa vẫn có câu “Miếng trầu là đầu câu chuyện”. Điều đó cho thấy ý nghĩa quan trọng của miếng trầu trong những buổi tâm giao. Ấy thế mà, nhà thơ cũng không có được một đĩa trầu để mời bạn khi đến chơi. Giữa gian nhà trống trải, thiếu thốn, chẳng có một món gì để thiết đãi bạn. Nhưng nhà thơ vẫn vô cùng lạc quan khi khẳng định rằng “Bác đến chơi đây, ta với ta”. Câu thơ như lời bông đùa, nhưng thật ra lại chứa đựng tình cảm vô cùng xúc động. Bởi điều mà nhà thơ nhấn mạnh và đề cao nhất ở đây chính là tình bằng hữu thiêng liêng, cao cả. Bạn bè gặp mặt nhau, được nói chuyện, được bắt tay thì đã là trân quý rồi. Dù cuộc sống có thiếu thốn khó khăn trăm bề, thì có bạn bè ở bên nghĩa là ta đã có cả một kho báu quý giá. Cụm từ “ta với” ta ở cuối bài thơ, ý chỉ nhà thơ và người bạn của mình. Cả hai quý mến nhau, thân thiết, thấu hiểu, đồng cảm cho nhau, tuy hai mà một. Chẳng phân biệt sang hèn, phân biệt lễ nghi, nên dù chẳng có gì thiết đãi bạn, nhà thơ vẫn vui vẻ và hạnh phúc khi ngồi trò chuyện với bạn của mình. Bởi tuy nghèo về vật chất nhưng họ lại rất giàu về tình cảm.

Bạn đến chơi nhà là một tác phẩm hay và ý nghĩa về tình bạn. Từ bài thơ, Nguyễn Khuyến đem đến cho chúng ta một tình bạn quý giá, không màng đến vật chất, của cải. Chỉ cần có hai trái tim luôn cùng nhịp đập và hướng về nhau, như thế là đã đủ rồi.

Bài tham khảo Mẫu 12

Phan Bội Châu (1867 – 1940) là chiến sĩ cách mạng vĩ đại của dân tộc ta trong ba thập niên đầu thế kỷ XX. Năm 1913, cụ đang hoạt động cách mạng tại Trung Quốc, một ngày cuối năm, tổng đốc Quảng Đông đã bắt giam cụ vào khám tử hình, âm mưu trao trả nhà cách mạng Việt Nam cho thực dân Pháp.

Tại nhà ngục, ngay đêm đầu tiên, cụ viết bài thơ Nôm thất ngôn bát cú Đường luật để an ủi, động viên mình. Nhan đề bài thơ là Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác:

Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu,

Chạy mồi chân thì hãy ở tù.

Đã khách không nhà trong bốn biển,

Lại người có tội giữa năm châu.

Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế,

Mở miệng cười tan cuộc oán thù.

Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp,

Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu.

Bài thơ thể hiện khí phách hiên ngang, bất khuất và tinh thần lạc quan cách mạng của người chiến sĩ trong cảnh tù đày nguy hiểm.

Câu thơ thứ nhất có hai vế tiểu đối, điệp ngữ vẫn làm cho giọng thơ rắn rỏi, mạnh mẽ, khẳng định một tâm thế hào kiệt và phong lưu:

Vẫn là hào kiệt / vẫn phong lưu.

Hào kiệt là người có tài cao, chí lớn khác thường. Phong lưu có nghĩa là dáng vẻ lịch sự, trang nhã biểu lộ một phong thái ung dung tự tại và thanh cao. Câu thơ thứ hai, tác giả xem nhà ngục quân thù như một bến đậu sau những tháng ngày chạy mỏi chân, hoạt động sôi nổi, trải qua muôn vàn gian truân thử thách:

Chạy mỏi chân thì hãy ở tù.

Sau gần 10 năm bôn ba hải ngoại, tìm đường cứu nước (1905 – 1913), Phan Bội Châu lúc hoạt động ở Nhật, lúc sang Thái Lan, lúc ở Trung Quốc. Bốn tiếng thì hãy ở tù nói lên một thái độ chủ động, bình tĩnh trước tai ương thử thách. Hai câu đề biểu thị một cốt cách kẻ sĩ anh hùng.

Hai câu thực nói lên cảnh ngộ của một chiến sĩ cách mạng trong cảnh nước mất nhà tan, phải sống lưu vong nơi xa lạ (khách không nhà), lại bị tù tội. Đó là bi kịch lịch sử mà Phan Bội Châu và hàng nghìn chiến sĩ cách mạng tiền bối đã trải qua. Hai câu 3, 4 đối nhau làm nổi bật tinh thần hy sinh xả thân vì độc lập tự do cho Tổ quốc, một chí lớn tung hoành trên một không gian địa lý mênh mông: năm châu bốn bể.

Đã khách không nhà trong bốn biển

Lại người có tội giữa năm châu.

Hai mươi bảy năm sau (1940), trước lúc qua đời, ý thơ trên đã được nhắc lại như một nỗi niềm đau đớn:

Những ước anh em đầy bốn bể,

Nào ngờ trăng gió nhốt ba gian.

(Từ giã bạn bè lần cuối cùng)

Hai câu 5, 6 trong phần luận thể hiện niềm tự hào về tài kinh bang tế thế (bồ kinh tế) giúp nước giúp dân, làm nên sự nghiệp lớn. Mối thù đối với lũ thực dân cướp nước và bọn phong kiến tay sai (cuộc oán thù) không bao giờ nguôi, quyết cười tan, rửa sạch:

Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế,

Mở miệng cười tan cuộc oán thù

Các từ ngữ hình ảnh: Bủa tay ôm chặt, mở miệng cười tan nói lên một tư thế hào hùng, một quyết tâm sắt đá không gì lay chuyển nổi, sẵn sàng xả thân vì một lý tưởng cách mạng cao cả: giúp đời, cứu nước.

Nghệ thuật đối làm cho giọng thơ thêm đĩnh đạc hào hùng. Hình ảnh kỳ vĩ, các động từ gợi tả, (ôm chặt, cười tan) đã dựng nên một trang anh hùng hào kiệt trong cảnh tù đày nguy hiểm vẫn lạc quan, bất khuất.

Hai câu trong phần kết khẳng định một niềm tin mạnh mẽ, biểu lộ một khí phách hiên ngang. Tin mình vẫn tồn tại, hãy còn; sự nghiệp cứu nước, cứu dân là chính nghĩa đang mở rộng ở phía trước. Chứ còn điệp lại hai lần, giọng thơ thêm hùng hồn, niềm tin tưởng lạc quan thêm chói sáng:

Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp,

Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu!.

Đang bị gông cùm trong nhà ngục tử tù, là nguy hiểm. Nay mai phải bước ra pháp trường, là nguy hiểm… Bao nhiêu nguy hiểm máu chảy đầu rơi, thịt nát xương tan, nhưng đối với Phan Bội Châu thì sợ gì đâu. Trước vòng nguy hiểm vẫn hiên ngang thách thức, vẫn bất khuất, kiên cường: Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu! Phan Bội Châu đã thể hiện một tâm thế uy vũ bất khuất của nhà cách mạng chân chính.

Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác đã thể hiện những phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ vĩ đại: giàu lòng yêu nước, hiên ngang, bất khuất, lạc quan trong tù đày nguy hiểm. Bài thơ có ngôn từ trang trọng, giọng điệu mạnh mẽ hùng hồn làm hiện lên bức chân dung tinh thần tự họa của bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng như Nguyễn Ái Quốc đã ca ngợi.

Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác là viên ngọc quý trong thơ văn Phan Bội Châu, một khúc tráng ca anh hùng.

Bài tham khảo Mẫu 13

Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu là một trong những bài thơ trào phúng tiêu biểu của nhà thơ Tú Xương.

Bài thơ còn có tên gọi khác là “Vịnh khoa thi Hương”. Mở đầu, tác giả đã giới thiệu đôi nét về khoa thi Đinh Dậu:

“Nhà nước ba năm mở một khoa,
Trường Nam thi lẫn với trường Hà.”

Trong xã hội phong kiến, việc thi cử được tổ chức nhằm tuyển chọn nhân tài ra giúp vua. Nhưng trong hoàn cảnh thực dân Pháp xâm lược, nắm giữ chính quyền thì việc thi cử đã có nhiều thay đổi. Dù vẫn còn thi chữ Hán theo lộ cũ “ba năm mở một khoa” nhưng kì thi lại hết sức hỗn tạp: “Trường Nam thi lẫn với trường Hà”. Ở Bắc Kì vốn có hai trường thi Hương là “trường Nam” trường thi Nam Định và “trường Hà” – trường thi ở Hà Nội. Nhưng từ lúc thực dân Pháp nắm quyền, trường thi ở Hà Nội đã bị bỏ. Các sĩ tử Hà Nội phải xuống thi chung ở trường Nam Định.

Hai câu thực đã miêu tả cảnh nhập trường và xướng danh hiện lên vô cùng khôi hài:

“Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,
Ậm ọe quan trường miệng thét loa.”

“Sĩ tử” là tư dùng để chỉ tầng lớp trí thức trong xã hội phong kiến, đi theo nghiệp bút nghiên. Họ thường có phong thái nho nhã, điềm tĩnh. Nhưng hình ảnh “sĩ tử” trong bài thơ lại được miêu hiện lên với vẻ lôi thôi, nhếch nhác. Khung cảnh trường thi vốn là nơi trang nghiêm mà giờ chẳng khác nào cảnh họp chợ, viên quan coi trường thi thì “ậm oẹ” và “thét loa”.

Hai câu luận tiếp tục tô đậm sự nhố nhăng của trường thi bằng việc khắc họa hình ảnh quan sứ và mụ đầm:

“Cờ kéo rợp trời, quan sứ đến,
Váy lê quét đất, mụ đầm ra.”

Việc tiếp đón những kẻ cướp nước chẳng biết lúc nào lại trở nên trang trọng nhưng khôi hài như vậy. Đặc biệt hơn cả là việc tác giả miêu tả hình ảnh mụ đầm. Theo quan điểm lễ giáo phong kiến thì trọng nam khinh nữ. Phụ nữ không được những nơi trang nghiêm như trường thi. Vậy mà bây giờ lại có hình ảnh “mụ đầm ra” với “váy lê quét đất” khiến ta thêm nức cười đó mà cũng thật xót xa. Xã hội phong kiến đã suy tàn, thoái hóa đến mức nào.

Hai câu thơ cuối là lời bộc tâm trạng của tác giả về cảnh ngộ đất nước lúc bấy giờ:

“Nhân tài đất Bắc nào ai đó?
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.”

Tú Xương đã sử dụng câu hỏi tu từ “nhân tài đất Bắc nào ai đó” nhưng không nhằm mục đích biết câu trả lời. Đó là một lời thức tỉnh các sĩ tử về nỗi nhục mất nước. Kẻ thù xâm lược vẫn còn đó, thì đường công danh này có ý nghĩa gì.

Bài thơ Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu đã khắc khắc họa khung cảnh trường thi nhốn nháo, để làm bật lên tiếng cười chua chát về cảnh ngộ mất nước trong buổi đầu của xã hội thực dân nửa phong kiến.

Bài tham khảo Mẫu 14

Trong dòng thơ trữ tình trung đại, Tự tình I của Hồ Xuân Hương là một tác phẩm tiêu biểu thể hiện rõ cá tính mạnh mẽ cùng nỗi niềm sâu kín của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Bài thơ không chỉ đơn thuần là lời tự sự mà còn là tiếng nói phản kháng đầy bản lĩnh trước những bất công của số phận.

Mở đầu bài thơ là không gian đêm khuya tĩnh mịch:
 “Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom,
 Oán hận trông ra khắp mọi chòm.”

 Thời gian “đêm khuya” vốn là lúc con người đối diện với chính mình, vì thế nỗi cô đơn càng trở nên sâu sắc. Âm thanh “tiếng gà văng vẳng” không làm cho không gian bớt tĩnh lặng mà ngược lại càng nhấn mạnh sự hiu quạnh. Từ “oán hận” đã trực tiếp bộc lộ cảm xúc, cho thấy đây không chỉ là nỗi buồn mà còn là sự dồn nén, bức bối kéo dài. Không gian “khắp mọi chòm” càng rộng lớn bao nhiêu thì con người càng nhỏ bé, cô độc bấy nhiêu.

Hai câu thực tiếp tục khắc họa tâm trạng ấy qua những hình ảnh đầy ám ảnh:
 “Mõ thảm không khua mà cũng cốc,
 Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?”

 Những hình ảnh “mõ thảm”, “chuông sầu” gợi không khí tang tóc, u buồn. Điều đặc biệt là âm thanh xuất hiện dù không có tác động nào, cho thấy nỗi đau không đến từ bên ngoài mà xuất phát từ nội tâm. Cách sử dụng phép đối “không khua – cũng cốc”, “chẳng đánh – cớ sao om” đã làm nổi bật tính chất vô hình nhưng dai dẳng của nỗi buồn. Đây là nỗi đau không thể giải tỏa, luôn âm ỉ trong lòng.

Đến hai câu luận, cảm xúc có sự chuyển biến rõ rệt:
 “Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ,
 Sau giận vì duyên để mõm mòm.”

 Nếu như trước đó là nỗi buồn thì giờ đây đã chuyển thành sự bức xúc, bất mãn. Từ “rầu rĩ” diễn tả trạng thái tâm lí kéo dài, còn “giận vì duyên” cho thấy nhân vật trữ tình đã ý thức rõ nguyên nhân của nỗi đau. Từ “mõm mòm” mang sắc thái mỉa mai, thể hiện thái độ không cam chịu. Đây chính là điểm đặc sắc trong thơ Hồ Xuân Hương: luôn có sự phản kháng tiềm ẩn ngay trong nỗi đau.

Hai câu kết khép lại bài thơ bằng một giọng điệu vừa tha thiết vừa mạnh mẽ:
 “Tài tử văn nhân ai đó tá?
 Thân này đâu đã chịu già tom!”

 Câu hỏi tu từ thể hiện mong muốn được sẻ chia, đồng cảm. Nhưng quan trọng hơn, câu thơ cuối là lời khẳng định đầy bản lĩnh: dù hoàn cảnh éo le, người phụ nữ vẫn không chấp nhận buông xuôi. “Chưa chịu già” không chỉ là ý thức về tuổi tác mà còn là khát vọng sống, khát vọng yêu thương.

Về nghệ thuật, bài thơ mang đậm phong cách của Hồ Xuân Hương với ngôn ngữ táo bạo, hình ảnh giàu sức gợi và giọng điệu linh hoạt. Sự kết hợp giữa yếu tố dân gian và khuôn khổ Đường luật đã tạo nên một tác phẩm vừa truyền thống vừa hiện đại.

Tóm lại, Tự tình I là tiếng nói vừa đau đớn vừa mạnh mẽ của người phụ nữ trong xã hội cũ. Qua đó, ta thấy được một tâm hồn giàu cảm xúc, không cam chịu số phận, luôn khao khát sống và yêu.

Bài tham khảo Mẫu 15

Trong kho tàng thơ ca trung đại Việt Nam, Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan là một thi phẩm tiêu biểu, thể hiện sâu sắc nỗi cô đơn và tâm trạng hoài cổ của con người trước thiên nhiên rộng lớn. Bài thơ không chỉ vẽ nên một bức tranh thiên nhiên nơi Đèo Ngang mà còn gửi gắm nỗi niềm riêng tư của tác giả trước thời cuộc.

Mở đầu bài thơ là khung cảnh thiên nhiên vào buổi chiều tà:
 “Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
 Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.”

 Thời điểm “bóng xế tà” gợi lên sự tàn phai, kết thúc của một ngày, đồng thời cũng là biểu tượng cho tâm trạng buồn bã, cô đơn. Cảnh vật hiện lên với sự chen chúc của “cỏ cây”, “lá hoa” nhưng lại không hề tạo cảm giác rộn ràng mà ngược lại, càng làm nổi bật sự hoang sơ, vắng lặng của không gian.

Hai câu thực tiếp tục khắc họa sự sống thưa thớt nơi đây:
 “Lom khom dưới núi tiều vài chú,
 Lác đác bên sông chợ mấy nhà.”

 Hình ảnh con người xuất hiện nhưng rất nhỏ bé, thưa thớt với “vài chú”, “mấy nhà”. Các từ láy “lom khom”, “lác đác” không chỉ gợi hình mà còn gợi cảm giác hiu quạnh, thưa vắng. Con người dường như bị chìm lấp trong thiên nhiên rộng lớn, càng làm tăng thêm nỗi cô đơn của nhân vật trữ tình.

Đến hai câu luận, tâm trạng của tác giả được bộc lộ rõ nét qua âm thanh:
 “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
 Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.”

 Tiếng chim “quốc quốc”, “gia gia” không chỉ là âm thanh của thiên nhiên mà còn là tiếng lòng của con người. Nghệ thuật chơi chữ đã tạo nên sự đồng điệu giữa âm thanh và cảm xúc: “quốc” gợi “nước”, “gia” gợi “nhà”. Qua đó, nỗi nhớ nước, thương nhà được bộc lộ một cách kín đáo mà sâu sắc. Đây là nỗi niềm của một người sống trong hoàn cảnh đất nước biến động, luôn hướng về quá khứ.

Hai câu kết khép lại bài thơ bằng hình ảnh đầy ám ảnh:
 “Dừng chân đứng lại trời, non, nước,
 Một mảnh tình riêng ta với ta.”

 Không gian mở rộng ra với “trời, non, nước” nhưng con người lại càng trở nên cô đơn. Cụm từ “ta với ta” thể hiện sự đối diện với chính mình, không có sự sẻ chia. Đây là nỗi cô đơn tuyệt đối, khi con người chỉ còn biết tự trò chuyện với bản thân.

Về nghệ thuật, bài thơ tuân thủ chặt chẽ thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật nhưng vẫn giàu cảm xúc. Ngôn ngữ tinh tế, hình ảnh giàu sức gợi, đặc biệt là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đã giúp tác giả thể hiện tâm trạng một cách sâu sắc.

Tóm lại, Qua Đèo Ngang không chỉ là bức tranh thiên nhiên hoang sơ mà còn là tiếng lòng cô đơn, hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan. Tác phẩm vì thế mang giá trị nhân văn sâu sắc, để lại ấn tượng lâu bền trong lòng người đọc.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu
BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...