Tóm tắt, bố cục Văn 10 Chân trời sáng tạo hay nhất
Tóm tắt, bố cục, nội dung chính các tác phẩm SGK Văn 10.. Tóm tắt, bố cục, nội dung chính bài thơ Hương Sơn phong cảnh>
Tóm tắt, bố cục, nội dung chính bài thơ Hương Sơn phong cảnh giúp học sinh soạn bài dễ dàng, chính xác.
Tổng hợp đề thi học kì 1 lớp 10 tất cả các môn - Chân trời sáng tạo
Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh - Sử - Địa...
Tóm tắt
Mẫu 1
Chùa Hương, Là danh lam thắng cảnh số một của nước Nam. Cảnh như có hồn, nhuốm màu Phật giáo. Câu thơ giàu chất hội họa, cảm hứng thấm mĩ, gây sự ngỡ ngàng, thể hiện lòng yêu thiên nhiên và lòng tự hào về Nam thiên đệ nhất động của tác giả. Nỗi lòng của du khách xúc động thành kính. Càng xa càng lưu luyến mê say.
Mẫu 2
Bài hát nói Hương Sơn phong cảnh ca của Chu Mạnh Trinh là một bức tranh toàn bích về vẻ đẹp thiên nhiên thấm đẫm màu sắc tôn giáo tại thắng cảnh Hương Sơn. Mở đầu tác phẩm là sự bộc bạch chân thành về niềm ao ước bấy lâu của thi nhân đối với chốn bồng lai tiên cảnh này nay đã trở thành hiện thực. Tác giả đã sử dụng những từ láy gợi hình để khắc họa sự bao la hùng vĩ của mây trời non nước nơi đây như một lời khẳng định về danh xưng đệ nhất động. Cảnh vật không vô tri mà dường như cũng có linh hồn và biết tu hành khi chim chóc biết dâng trái cúng còn cá dưới khe suối biết lắng nghe kinh Phật. Trong không gian tĩnh lặng và thoát tục ấy tiếng chuông chùa vang lên như một hồi chuông cảnh tỉnh khiến những kẻ còn vướng bụi trần phải giật mình nhận ra sự vô thường của kiếp nhân sinh. Tiếp theo đó tác giả lần lượt liệt kê các địa danh nổi tiếng như suối Giải Oan hay động Tuyết Quynh để dẫn dắt người đọc đi sâu vào thế giới tâm linh huyền bí. Vẻ đẹp của hang động được ví von như gấm dệt với ánh sáng lung linh huyền ảo tạo nên một khung cảnh vừa thực vừa mơ. Trước sự kỳ diệu của tạo hóa nhà thơ không khỏi băn khoăn tự hỏi liệu đây là sự sắp đặt của thiên nhiên hay có bàn tay ai đó đã khéo léo tô vẽ nên. Đứng trước cảnh đẹp và không khí trang nghiêm ấy tâm hồn thi nhân trở nên thanh tịnh và hướng thiện với những câu niệm Nam mô Phật đầy thành kính. Bài thơ khép lại bằng sự khẳng định tình yêu thiên nhiên và lòng ngưỡng mộ sâu sắc trước công đức vô lượng của cửa từ bi. Tác phẩm là sự kết hợp hài hòa giữa cảm hứng lãng mạn và cảm hứng tôn giáo tạo nên một kiệt tác văn học độc đáo.
Mẫu 3
Văn bản Hương Sơn phong cảnh ca đã tái hiện sinh động cuộc hành hương của Chu Mạnh Trinh về miền đất Phật Hương Sơn đầy thơ mộng và linh thiêng. Ngay từ những câu thơ đầu tiên người đọc đã cảm nhận được niềm hân hoan tột độ của tác giả khi được đặt chân đến vùng đất mà mình hằng mong đợi. Bức tranh thiên nhiên hiện ra với sự trùng điệp của núi non và mây trời tạo nên một không gian kỳ vĩ xứng danh là hang động đẹp nhất trời Nam. Điểm độc đáo trong cái nhìn của thi sĩ là việc nhân hóa thiên nhiên khiến cho chim muông và cá nước cũng trở thành những tín đồ ngoan đạo đang hướng về Phật pháp. Tiếng chày kình vang vọng giữa không gian u tịch không chỉ là âm thanh thực tế mà còn là âm thanh của sự thức tỉnh tâm linh đối với khách tang hải. Tác giả tiếp tục dẫn dắt người đọc tham quan quần thể di tích với những cái tên gợi cảm giác thanh thoát như Cửa Võng hay Phật Tích. Vẻ đẹp của đá ngũ sắc trong hang động được miêu tả rực rỡ và lộng lẫy như những tấm gấm thêu hoa dưới ánh sáng mặt trời. Sự hòa quyện giữa ánh trăng và mây trời tạo nên những lối đi huyền ảo khiến con người như lạc vào chốn thần tiên thoát tục. Trước vẻ đẹp hoàn mỹ ấy tác giả đã phải thốt lên lời ngợi ca tài năng của tạo hóa đã ban tặng cho con người một giang sơn tuyệt mỹ. Cảm xúc thẩm mỹ cuối cùng đã chuyển hóa thành cảm xúc tôn giáo khi nhà thơ hòa mình vào không khí trang nghiêm của cửa Phật. Bài thơ kết thúc bằng một sự khẳng định tình yêu tha thiết đối với cảnh sắc Hương Sơn và niềm tin vào sự cứu rỗi của Phật pháp.
Xem thêm
Mẫu 4
Chu Mạnh Trinh qua bài Hương Sơn phong cảnh ca đã chứng tỏ mình là một họa sĩ tài ba khi sử dụng ngôn từ để vẽ nên bức tranh thủy mặc tuyệt đẹp về Hương Sơn. Tác phẩm mở ra với một bầu trời cảnh Bụt gợi lên không gian vừa thực vừa ảo nơi mà ranh giới giữa trần gian và cõi Phật dường như bị xóa nhòa. Những nét vẽ đầu tiên về non nước mây trời được phác họa một cách phóng khoáng và bay bổng thể hiện sự choáng ngợp của thi nhân trước thiên nhiên. Không chỉ có hình ảnh bài thơ còn tràn ngập âm thanh và sự sống với tiếng chim thỏ thẻ và hình ảnh đàn cá lững lờ trôi theo dòng suối Yến. Tiếng chuông chùa ngân vang như một điểm nhấn quan trọng đánh thức lương tri và tâm hồn của những con người đang mải mê trong vòng danh lợi. Tác giả khéo léo lồng ghép tên các địa danh vào trong câu thơ tạo nên một nhịp điệu nhịp nhàng như bước chân người hành hương đang lần lượt khám phá từng cảnh đẹp. Vẻ đẹp của hang động được miêu tả tỉ mỉ với màu sắc lấp lánh của đá ngũ sắc và ánh sáng huyền diệu của bóng trăng lồng vào cửa hang. Sự sắp đặt tài tình của tạo hóa đã khiến cho cảnh vật nơi đây trở nên sống động và có hồn như một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc vĩ đại. Đứng trước kiệt tác của thiên nhiên nhà thơ không giấu được niềm xúc động và lòng biết ơn đối với đấng tạo hóa. Sự kết hợp giữa cảnh đẹp và tình người đã tạo nên chiều sâu tư tưởng cho tác phẩm khi con người tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn. Bài ca kết lại bằng tình yêu thiên nhiên nồng nàn và lòng hướng thiện chân thành của một tâm hồn nghệ sĩ đa cảm.
Mẫu 5
Tác phẩm là một lời tự sự đầy cảm xúc của một vị khách tang hải khi đối diện với vẻ đẹp thoát tục và thanh khiết của quần thể thắng cảnh Hương Sơn. Khởi đầu bằng niềm khao khát cháy bỏng được chiêm ngưỡng cảnh Bụt tác giả đã nhanh chóng bị cuốn hút bởi sự hùng vĩ và tráng lệ của thiên nhiên nơi đây. Câu hỏi tu từ về danh xưng đệ nhất động vừa là sự kiểm chứng vừa là lời khẳng định đầy tự hào về vẻ đẹp của non sông đất nước. Thiên nhiên trong mắt thi nhân mang đậm màu sắc thiền vị khi mọi sinh vật từ chim đến cá đều như đang tu hành và thấm nhuần giáo lý nhà Phật. Tiếng chuông chùa vang lên giữa không gian tĩnh mịch có sức mạnh to lớn làm rung động tâm can và xua tan những ưu phiền của cuộc sống trần tục. Tác giả lần lượt điểm qua những địa danh nổi tiếng với thái độ trân trọng và nâng niu như đang giới thiệu những báu vật của trần gian. Vẻ đẹp của hang động được miêu tả vô cùng lộng lẫy với những sắc màu rực rỡ của đá và sự huyền ảo của ánh trăng tạo nên một không gian thần tiên. Sự thán phục trước tài năng của tạo hóa được thể hiện qua câu hỏi tu từ đầy ý vị về việc ai đã khéo léo sắp đặt nên cảnh sắc tuyệt vời này. Trong không gian linh thiêng ấy con người dường như rũ bỏ được mọi bụi trần để trở về với bản ngã trong sáng và thiện lương nhất. Những câu niệm Phật cuối bài không chỉ là nghi thức tôn giáo mà còn là sự thăng hoa của cảm xúc thẩm mỹ và đạo đức. Bài thơ là minh chứng cho sự gặp gỡ giữa một tâm hồn thi sĩ lãng mạn và một trái tim Phật tử thành kính.
Mẫu 6
Hương Sơn phong cảnh ca không chỉ là một bài thơ tả cảnh mà còn là một công trình khảo cứu bằng thơ về kiến trúc thiên tạo độc đáo của vùng đất Hương Sơn. Chu Mạnh Trinh đã mở đầu tác phẩm bằng việc xác định vị thế của Hương Sơn là một bầu trời cảnh Bụt tách biệt hẳn với thế giới trần tục ồn ào. Cách sử dụng điệp từ trong việc miêu tả non nước mây trời đã tạo nên một không gian đa chiều rộng lớn và đầy sức gợi cảm. Sự sống động của cảnh vật được thể hiện qua những chi tiết nhân hóa tinh tế như chim cúng trái và cá nghe kinh làm cho thiên nhiên trở nên gần gũi và linh thiêng. Âm thanh của tiếng chày kình như một chất xúc tác mạnh mẽ tác động vào thính giác và tâm thức của người nghe tạo nên sự chuyển biến trong nhận thức. Tác giả đã liệt kê các danh lam thắng cảnh theo trình tự không gian giúp người đọc hình dung rõ nét về quy mô và vẻ đẹp của quần thể di tích này. Đặc biệt hình ảnh đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt là một so sánh đắt giá tôn vinh vẻ đẹp kiêu sa và lộng lẫy của thiên nhiên trong lòng hang động. Câu hỏi về vai trò của tạo hóa trong việc kiến tạo giang sơn cho thấy sự ngưỡng mộ tuyệt đối của con người trước sức mạnh của tự nhiên. Bài thơ cũng ghi lại khoảnh khắc con người hòa nhập hoàn toàn vào không gian tâm linh qua hành động lần tràng hạt và niệm Phật. Kết thúc tác phẩm là một lời khẳng định về giá trị to lớn của cảnh đẹp Hương Sơn trong việc bồi đắp tâm hồn và tình yêu quê hương đất nước.
Mẫu 7
Bài hát nói là một sự thăng hoa của tâm hồn thi sĩ Chu Mạnh Trinh khi đứng trước kỳ quan thiên nhiên Hương Sơn vốn được mệnh danh là Nam thiên đệ nhất động. Mở đầu thi phẩm là sự khẳng định về vị thế của Hương Sơn như một cõi Bụt thanh tịnh tách biệt hoàn toàn với trần gian đầy bụi bặm và phiền não. Tác giả đã khéo léo sử dụng các từ láy tạo hình để miêu tả sự hùng vĩ và trùng điệp của non nước mây trời khiến người đọc như lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh. Cảnh vật nơi đây không chỉ đẹp về hình thức mà còn thấm đẫm linh hồn Phật giáo khi chim muông và cá nước cũng biết tu hành theo cách riêng của chúng. Âm thanh tiếng chày kình vang lên giữa không gian u tịch như một hồi chuông cảnh tỉnh đánh thức con người khỏi cơn mộng mị của cuộc đời bể dâu. Hành trình khám phá Hương Sơn được tái hiện qua việc liệt kê các địa danh tiêu biểu như suối Giải Oan hay động Tuyết Quynh với mỗi nơi đều mang một vẻ đẹp huyền bí. Đặc biệt ấn tượng là hình ảnh những thạch nhũ đá ngũ sắc long lanh được ví như những tấm gấm dệt tuyệt mỹ của tạo hóa ban tặng cho con người. Vẻ đẹp của hang động còn được tô điểm bởi ánh trăng lung linh và những lối đi uốn lượn tựa như những nấc thang dẫn lên trời cao. Đứng trước cảnh sắc tuyệt trần ấy nhà thơ đã tự vấn về sự sắp đặt tài tình của tạo hóa hay đây chính là sự ưu ái riêng dành cho giang sơn đất Việt. Cảm xúc thẩm mỹ cuối cùng đã hòa quyện với cảm xúc tôn giáo khi tác giả chắp tay niệm Phật để bày tỏ lòng thành kính và biết ơn.
Mẫu 8
Tác phẩm Hương Sơn phong cảnh ca đã vẽ nên một bức tranh thủy mặc sống động và đầy màu sắc về quần thể thắng cảnh Hương Sơn qua lăng kính của một nho sĩ tài hoa. Ngay từ những câu thơ đầu tiên tác giả đã bộc lộ niềm khao khát cháy bỏng được đặt chân đến vùng đất linh thiêng mà mình hằng ao ước bấy lâu nay. Không gian Hương Sơn mở ra với sự bao la của bầu trời và sự kỳ vĩ của núi non khiến con người cảm thấy nhỏ bé nhưng cũng đầy tự hào. Sự nhân hóa tài tình của nhà thơ đã biến thiên nhiên thành những sinh thể có tri giác khi chim biết cúng trái và cá biết nghe kinh trong sự tĩnh lặng của rừng già. Tiếng chuông chùa ngân nga không chỉ là âm thanh vật lý mà còn là tiếng vọng của tâm linh giúp con người rũ bỏ mọi ưu phiền của cuộc sống thế tục. Tác giả dẫn dắt người đọc đi qua từng địa danh nổi tiếng như chùa Cửa Võng hay hang Phật Tích bằng những câu thơ giàu nhạc điệu và hình ảnh. Vẻ đẹp của thiên nhiên được miêu tả cực thực nhưng cũng đầy lãng mạn với những khối đá ngũ sắc rực rỡ dưới ánh sáng mặt trời tựa như những tác phẩm nghệ thuật. Sự huyền ảo của không gian được tăng thêm nhờ ánh trăng lồng vào cửa hang và những đám mây lững lờ trôi tạo nên một khung cảnh thần tiên. Câu hỏi tu từ về sự chờ đợi của giang sơn gợi mở những suy ngẫm sâu sắc về trách nhiệm của con người đối với đất nước và di sản của cha ông. Bài thơ khép lại bằng một nốt trầm sâu lắng với tiếng niệm Nam mô Phật thể hiện sự an nhiên và tự tại của tâm hồn thi sĩ.
Mẫu 9
Văn bản là một cuộc hành trình tâm linh đầy xúc cảm của Chu Mạnh Trinh khi tìm về chốn tổ của Phật giáo Việt Nam tại vùng núi Hương Sơn. Khởi đầu bằng sự xác quyết về vẻ đẹp thánh thiện của bầu trời cảnh Bụt tác giả đã dẫn dắt người đọc bước vào một thế giới hoàn toàn khác biệt với trần gian. Những hình ảnh non nước mây trời được điệp lại liên tiếp tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về sự tr trùng điệp và bao la của không gian thiên nhiên. Sự hòa hợp giữa con người và vạn vật được thể hiện qua hình ảnh chim chóc và cá nước cùng tham gia vào đời sống tâm linh một cách tự nhiên và thành kính. Tiếng chày kình vang vọng như một lời nhắc nhở nghiêm khắc nhưng cũng đầy từ bi giúp khách tang hải nhận ra sự vô thường của kiếp người. Các địa danh như suối Giải Oan hay động Tuyết Quynh không chỉ là những cái tên vô tri mà còn chứa đựng những câu chuyện và ý nghĩa giải thoát sâu xa. Vẻ đẹp của hang động được tác giả miêu tả như một cung điện nguy nga với những cột đá ngũ sắc long lanh và những lối đi uốn lượn như rồng bay phượng múa. Sự tài tình của tạo hóa trong việc kiến tạo nên cảnh sắc Hương Sơn đã khiến nhà thơ phải thốt lên những lời ngợi ca đầy thán phục và ngưỡng mộ. Trong khoảnh khắc giao hòa giữa đất trời và lòng người ấy thi nhân đã tìm thấy sự bình yên tuyệt đối trong tâm hồn mình. Những câu thơ cuối cùng vang lên như một lời cầu nguyện chân thành cho sự an lạc và hạnh phúc của muôn loài.
Mẫu 10
Qua ngòi bút tài hoa của Chu Mạnh Trinh vẻ đẹp của Hương Sơn hiện lên vừa hùng vĩ tráng lệ vừa thơ mộng trữ tình xứng danh là hang động đẹp nhất trời Nam. Tác giả mở đầu bài ca bằng niềm hân hoan tột độ khi được thỏa mãn ước nguyện chiêm bái cảnh đẹp Hương Sơn sau bao ngày mong đợi. Bức tranh thiên nhiên được phác họa bằng những nét chấm phá tinh tế với sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc và âm thanh tạo nên một tổng thể sống động. Hình ảnh chim cúng trái và cá nghe kinh là những chi tiết nghệ thuật đắt giá thể hiện cái nhìn đầy nhân văn và triết lý của nhà thơ về thế giới tự nhiên. Tiếng chuông chùa ngân dài trong không gian tĩnh mịch có sức mạnh thanh lọc tâm hồn giúp con người thoát khỏi những toan tính đời thường. Hành trình du ngoạn của tác giả đi qua những địa danh nổi tiếng như chùa Cửa Võng và hang Phật Tích với mỗi nơi đều để lại những ấn tượng khó phai. Sự lộng lẫy của đá ngũ sắc và vẻ huyền bí của ánh trăng trong hang động đã được tác giả miêu tả bằng những ngôn từ hoa mỹ nhất. Câu hỏi về sự sắp đặt của tạo hóa không chỉ là lời khen ngợi mà còn là sự khẳng định về giá trị độc nhất vô nhị của di sản thiên nhiên này. Đứng trước vẻ đẹp hoàn mỹ ấy con người không thể kìm nén được cảm xúc yêu mến và lòng biết ơn đối với đấng tạo hóa. Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh người thi sĩ lần tràng hạt niệm Phật trong niềm xúc động dâng trào.
Mẫu 11
Hương Sơn phong cảnh ca là một tác phẩm văn học độc đáo thể hiện sự dung hợp nhuần nhuyễn giữa cảm hứng thiên nhiên và cảm hứng tôn giáo của Chu Mạnh Trinh. Mở đầu bài thơ là sự giới thiệu đầy ấn tượng về Hương Sơn như một cõi Phật thanh tịnh giữa chốn trần gian đầy biến động. Tác giả sử dụng những từ ngữ giàu sức gợi hình để miêu tả sự mênh mông bát ngát của non nước mây trời khiến người đọc choáng ngợp. Cảnh vật nơi đây dường như cũng thấm nhuần tư tưởng từ bi của nhà Phật khi mọi sinh linh đều hướng về điều thiện và sự giải thoát. Âm thanh tiếng chày kình vang lên như một hồi chuông cảnh tỉnh đánh thức lương tri của những con người đang lạc lối trong bể khổ trầm luân. Tác giả lần lượt đưa người đọc đến thăm các danh lam thắng cảnh như suối Giải Oan và động Tuyết Quynh bằng những câu thơ giàu nhịp điệu. Vẻ đẹp của hang động được ví như gấm dệt với những sắc màu lung linh huyền ảo tạo nên một không gian thần tiên thoát tục. Sự thán phục trước bàn tay kỳ diệu của tạo hóa được thể hiện qua những câu hỏi tu từ đầy ý vị và sâu sắc. Trong không gian linh thiêng ấy ranh giới giữa đạo và đời dường như bị xóa nhòa chỉ còn lại tình yêu thiên nhiên và lòng hướng thiện. Tác phẩm khép lại bằng những câu niệm Phật thành kính khẳng định niềm tin bất diệt vào những giá trị tinh thần cao đẹp.
Mẫu 12
Bài hát nói Hương Sơn phong cảnh ca là một thi phẩm đặc sắc kết tinh từ niềm say mê cái đẹp và lòng sùng kính đạo Phật của Chu Mạnh Trinh. Tác giả mở đầu bằng việc định danh không gian Hương Sơn là một bầu trời cảnh Bụt gợi lên sự thanh khiết và linh thiêng hiếm có của chốn thiền môn. Bức tranh thiên nhiên được mở ra với tầng tầng lớp lớp những non non nước nước mây mây tạo nên một không gian ba chiều hùng vĩ và choáng ngợp. Trong thế giới ấy vạn vật dường như đều mang trong mình Phật tính khi chim biết cúng trái và cá biết lắng nghe kinh kệ. Tiếng chày kình vang lên như một tín hiệu thẩm mỹ và tôn giáo đánh thức tâm thức của những lữ khách đang chìm đắm trong giấc mộng phù du của cuộc đời. Tác giả dẫn dắt người đọc chiêm ngưỡng những địa danh mang đậm màu sắc tâm linh như suối Giải Oan hay động Tuyết Quynh bằng ngòi bút miêu tả tinh tế. Vẻ đẹp của đá ngũ sắc trong hang động được so sánh với gấm dệt đã tôn vinh sự tài hoa của tạo hóa trong việc kiến tạo nên những kiệt tác thiên nhiên. Ánh trăng lung linh lồng vào cửa hang cùng những lối đi uốn lượn như thang mây đã biến nơi đây thành chốn bồng lai tiên cảnh giữa trần gian. Câu hỏi tu từ về nhân duyên giữa người và cảnh gợi mở những suy tư về trách nhiệm của con người đối với non sông gấm vóc. Kết thúc bài thơ là hình ảnh thi nhân hòa mình vào không khí trang nghiêm của cửa Phật với lòng biết ơn và niềm yêu mến vô hạn.
Mẫu 13
Tác phẩm là một bản hòa tấu ngôn từ tuyệt diệu ngợi ca vẻ đẹp của quần thể thắng cảnh Hương Sơn qua cái nhìn đầy nghệ thuật của Chu Mạnh Trinh. Ngay từ câu mở đầu nhà thơ đã bộc lộ niềm khao khát cháy bỏng được đặt chân đến chốn bầu trời cảnh Bụt để thỏa mãn thú tiêu dao. Cảnh sắc Hương Sơn hiện lên với sự trùng điệp của núi non và sự bồng bềnh của mây trời khiến con người cảm thấy như đang lạc vào cõi tiên. Sự linh thiêng của vùng đất này được thể hiện qua những hình ảnh nhân hóa độc đáo như chim thỏ thẻ cúng trái và cá lững lờ nghe kinh. Tiếng chuông chùa ngân nga có sức mạnh lay động tâm can giúp con người rũ bỏ những bụi trần để tìm về sự an nhiên trong tâm hồn. Hành trình của tác giả đi qua các địa danh nổi tiếng như chùa Cửa Võng và hang Phật Tích được miêu tả bằng những ngôn từ giàu sức gợi hình và gợi cảm. Vẻ đẹp của hang động được ví như một bức tranh gấm thêu với những sắc màu rực rỡ của đá ngũ sắc và ánh sáng huyền ảo của trăng sao. Sự sắp đặt khéo léo của tạo hóa đã khiến cho cảnh vật nơi đây trở nên sống động và có hồn như một công trình nghệ thuật hoàn mỹ. Đứng trước vẻ đẹp ấy nhà thơ không khỏi băn khoăn về mối duyên nợ giữa con người và thiên nhiên đất nước. Bài thơ khép lại bằng những câu niệm Phật thành kính thể hiện sự hòa hợp tuyệt đối giữa tình yêu thiên nhiên và lòng hướng thiện.
Mẫu 14
Chu Mạnh Trinh đã sử dụng ngòi bút tài hoa của mình để vẽ nên một bức tranh Hương Sơn phong cảnh ca đậm chất thi trung hữu họa và thấm đẫm triết lý Phật giáo. Tác giả bắt đầu bằng sự khẳng định vị thế của Hương Sơn là chốn bầu trời cảnh Bụt nơi hội tụ những vẻ đẹp tinh túy nhất của thiên nhiên và tâm linh. Không gian nghệ thuật được mở rộng theo chiều kích của non nước và mây trời tạo nên sự phóng khoáng và bay bổng cho hồn thơ. Sự sống động của cảnh vật được thể hiện qua những chi tiết nhân hóa đầy ý vị như chim cúng trái và cá nghe kinh trong sự tĩnh lặng của rừng già. Tiếng chày kình vang vọng như một lời nhắc nhở sâu sắc về sự vô thường của kiếp nhân sinh giúp con người tỉnh ngộ khỏi giấc mộng danh lợi. Tác giả lần lượt điểm qua những danh lam thắng cảnh như suối Giải Oan và động Tuyết Quynh với thái độ trân trọng và ngưỡng mộ. Vẻ đẹp của hang động được miêu tả lộng lẫy như gấm dệt với những khối thạch nhũ đá ngũ sắc long lanh dưới ánh sáng mặt trời. Sự huyền bí của không gian được tăng thêm bởi ánh trăng lồng vào cửa hang và những đám mây trôi lững lờ tạo nên một khung cảnh thần tiên. Câu hỏi về sự chờ đợi của giang sơn gợi lên những suy ngẫm về trách nhiệm của người quân tử đối với đất nước. Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh thi nhân lần tràng hạt niệm Phật trong niềm xúc động dâng trào trước công đức vô lượng của cửa từ bi.
Mẫu 15
Văn bản Hương Sơn phong cảnh ca tái hiện sinh động cuộc hành hương về miền tịnh độ của một tâm hồn thi sĩ nhạy cảm và tinh tế. Mở đầu tác phẩm là niềm vui sướng tột độ của tác giả khi được thỏa mãn ước nguyện chiêm bái cảnh đẹp Hương Sơn bấy lâu nay. Bức tranh thiên nhiên hiện ra với sự hùng vĩ của núi non và sự huyền ảo của mây trời xứng danh là đệ nhất động của trời Nam. Cảnh vật nơi đây không chỉ đẹp mà còn có linh hồn khi chim muông và cá nước cũng biết tu hành và hướng về Phật pháp. Tiếng chuông chùa ngân vang giữa không gian u tịch như một liều thuốc tinh thần giúp xua tan mọi ưu phiền và lo toan của cuộc sống đời thường. Tác giả dẫn dắt người đọc đi qua từng địa danh như chùa Cửa Võng và hang Phật Tích bằng những vần thơ giàu nhạc điệu và hình ảnh. Vẻ đẹp của đá ngũ sắc trong hang động được ví như những tấm gấm thêu hoa lộng lẫy tạo nên một không gian nghệ thuật đầy màu sắc. Sự sắp đặt tài tình của tạo hóa đã biến nơi đây thành một kiệt tác thiên nhiên khiến con người phải trầm trồ thán phục. Đứng trước cảnh sắc tuyệt trần ấy tâm hồn nhà thơ trở nên thanh tịnh và hướng thiện với những câu niệm Nam mô Phật đầy thành kính. Bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa cảm xúc thẩm mỹ và cảm xúc tôn giáo tạo nên một giá trị nhân văn sâu sắc.
Mẫu 16
Bài hát nói của Chu Mạnh Trinh là một khúc ca hùng tráng và trữ tình ngợi ca vẻ đẹp của non sông gấm vóc Việt Nam qua hình ảnh Hương Sơn. Tác giả mở đầu bằng việc xác định Hương Sơn là một cõi Bụt thanh tịnh tách biệt hẳn với thế giới trần tục ồn ào và náo nhiệt. Những hình ảnh non non nước nước mây mây được điệp lại liên tiếp tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về sự tr trùng điệp và bao la của không gian. Thiên nhiên nơi đây mang đậm màu sắc thiền vị khi chim chóc và cá nước cũng tham gia vào đời sống tâm linh một cách tự nhiên. Tiếng chày kình vang lên như một hồi chuông cảnh tỉnh đánh thức lương tri và tâm hồn của những con người đang mải mê trong vòng danh lợi. Các địa danh như suối Giải Oan hay động Tuyết Quynh được nhắc đến với niềm tự hào và tình yêu tha thiết của người con đất Việt. Vẻ đẹp của hang động được miêu tả vô cùng lộng lẫy với những sắc màu rực rỡ của đá ngũ sắc và sự huyền ảo của ánh trăng. Câu hỏi tu từ về sự chờ đợi của giang sơn gợi mở những suy ngẫm sâu sắc về vai trò của con người trong việc gìn giữ và bảo vệ di sản của cha ông. Bài thơ khép lại bằng sự khẳng định tình yêu thiên nhiên nồng nàn và lòng biết ơn đối với công đức của cửa từ bi.
Mẫu 17
Tác phẩm là sự ghi lại khoảnh khắc gặp gỡ đầy xúc động giữa tâm hồn thi nhân lãng mạn và cảnh Bụt linh thiêng của Hương Sơn. Ngay từ những dòng đầu tiên Chu Mạnh Trinh đã bộc lộ niềm khao khát được hòa mình vào không gian thanh tịnh này. Cảnh sắc thiên nhiên hiện lên với vẻ đẹp kỳ vĩ của núi non trùng điệp và mây trời lồng lộng khiến con người cảm thấy nhỏ bé. Sự nhân hóa tài tình của tác giả đã biến những sinh vật vô tri như chim và cá thành những tín đồ ngoan đạo biết cúng trái và nghe kinh. Tiếng chuông chùa vang vọng không chỉ là âm thanh của tôn giáo mà còn là âm thanh của sự thức tỉnh giúp con người nhận ra giá trị đích thực của cuộc sống. Hành trình du ngoạn qua các địa danh như chùa Cửa Võng và hang Phật Tích là một hành trình khám phá vẻ đẹp tiềm ẩn của đất nước. Hình ảnh đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt trong hang động là một so sánh đắt giá tôn vinh vẻ đẹp kiêu sa của thiên nhiên. Sự sắp đặt khéo léo của tạo hóa đã khiến cho cảnh vật nơi đây trở nên sống động và có hồn như một tác phẩm nghệ thuật. Đứng trước kiệt tác ấy nhà thơ đã tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn và niềm tin vào những giá trị cao đẹp. Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh người thi sĩ chắp tay niệm Phật trong niềm an lạc vô biên.
Mẫu 18
Hương Sơn phong cảnh ca là một tuyệt tác văn chương ca ngợi sự kết hợp hoàn hảo giữa bàn tay tạo hóa và tâm hồn con người. Mở đầu bài thơ là sự giới thiệu đầy ấn tượng về Hương Sơn như một bầu trời cảnh Bụt nơi giao hòa giữa đất và trời. Tác giả sử dụng những từ ngữ giàu sức gợi hình để miêu tả sự mênh mông bát ngát của non nước mây trời khiến người đọc choáng ngợp. Cảnh vật nơi đây dường như cũng thấm nhuần tư tưởng từ bi của nhà Phật khi mọi sinh linh đều hướng về điều thiện. Âm thanh tiếng chày kình vang lên như một hồi chuông cảnh tỉnh đánh thức những kẻ còn đang mê muội trong cõi trần ai. Tác giả lần lượt đưa người đọc đến thăm các danh lam thắng cảnh như suối Giải Oan và động Tuyết Quynh bằng những câu thơ giàu nhịp điệu. Vẻ đẹp của hang động được ví như gấm dệt với những sắc màu lung linh huyền ảo tạo nên một không gian thần tiên. Sự thán phục trước tài năng của tạo hóa được thể hiện qua những câu hỏi tu từ đầy ý vị và sâu sắc. Trong không gian linh thiêng ấy con người dường như rũ bỏ được mọi bụi trần để trở về với bản ngã trong sáng nhất. Tác phẩm khép lại bằng những câu niệm Phật thành kính khẳng định niềm tin bất diệt vào Phật pháp.
Mẫu 19
Văn bản Hương Sơn phong cảnh ca đã kiến tạo nên một không gian nghệ thuật độc đáo nơi tư tưởng thiền và vẻ đẹp thiên nhiên hòa quyện làm một. Tác giả bắt đầu bằng việc xác định vị thế của Hương Sơn là chốn bầu trời cảnh Bụt thanh tịnh và linh thiêng. Bức tranh thiên nhiên được phác họa bằng những nét chấm phá tinh tế với sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc và âm thanh. Hình ảnh chim cúng trái và cá nghe kinh là những chi tiết nghệ thuật đắt giá thể hiện cái nhìn đầy nhân văn của nhà thơ. Tiếng chuông chùa ngân dài trong không gian tĩnh mịch có sức mạnh thanh lọc tâm hồn giúp con người thoát khỏi những toan tính đời thường. Hành trình du ngoạn của tác giả đi qua những địa danh nổi tiếng như chùa Cửa Võng và hang Phật Tích để lại những ấn tượng khó phai. Sự lộng lẫy của đá ngũ sắc và vẻ huyền bí của ánh trăng trong hang động đã được tác giả miêu tả bằng những ngôn từ hoa mỹ nhất. Câu hỏi về sự sắp đặt của tạo hóa là lời khẳng định về giá trị độc nhất vô nhị của di sản thiên nhiên này. Đứng trước vẻ đẹp hoàn mỹ ấy con người không thể kìm nén được cảm xúc yêu mến và lòng biết ơn. Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh người thi sĩ lần tràng hạt niệm Phật trong niềm xúc động dâng trào.
Mẫu 20
Bài hát nói là tiếng lòng chân thành và sâu sắc của người lữ khách Chu Mạnh Trinh khi đứng trước vẻ đẹp tuyệt mỹ của Hương Sơn. Ngay từ những câu thơ đầu tiên tác giả đã bộc lộ niềm vui sướng khi được thỏa mãn ước nguyện chiêm bái cảnh Bụt. Không gian Hương Sơn mở ra với sự bao la của bầu trời và sự kỳ vĩ của núi non khiến con người cảm thấy choáng ngợp. Sự nhân hóa tài tình của nhà thơ đã biến thiên nhiên thành những sinh thể có tri giác và cảm xúc. Tiếng chuông chùa ngân nga không chỉ là âm thanh vật lý mà còn là tiếng vọng của tâm linh giúp con người tỉnh thức. Tác giả dẫn dắt người đọc đi qua từng địa danh nổi tiếng như chùa Cửa Võng hay hang Phật Tích bằng những câu thơ giàu nhạc điệu. Vẻ đẹp của thiên nhiên được miêu tả cực thực nhưng cũng đầy lãng mạn với những khối đá ngũ sắc rực rỡ. Sự huyền ảo của không gian được tăng thêm nhờ ánh trăng lồng vào cửa hang và những đám mây lững lờ trôi. Câu hỏi tu từ về sự chờ đợi của giang sơn gợi mở những suy ngẫm sâu sắc về trách nhiệm của con người. Bài thơ khép lại bằng một nốt trầm sâu lắng với tiếng niệm Nam mô Phật thể hiện sự an nhiên của tâm hồn.
Mẫu 21
Chu Mạnh Trinh đã nâng tầm thể loại hát nói lên một tầm cao mới qua tác phẩm Hương Sơn phong cảnh ca đầy chất thơ và nhạc. Mở đầu thi phẩm là sự khẳng định về vẻ đẹp thánh thiện của bầu trời cảnh Bụt nơi tách biệt hoàn toàn với trần gian. Những hình ảnh non nước mây trời được điệp lại liên tiếp tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về sự hùng vĩ của thiên nhiên. Sự hòa hợp giữa con người và vạn vật được thể hiện qua hình ảnh chim chóc và cá nước cùng tham gia vào đời sống tâm linh. Tiếng chày kình vang vọng như một lời nhắc nhở nghiêm khắc nhưng cũng đầy từ bi giúp khách tang hải nhận ra sự vô thường. Các địa danh như suối Giải Oan hay động Tuyết Quynh không chỉ là những cái tên vô tri mà còn chứa đựng những câu chuyện ý nghĩa. Vẻ đẹp của hang động được tác giả miêu tả như một cung điện nguy nga với những cột đá ngũ sắc long lanh. Sự tài tình của tạo hóa trong việc kiến tạo nên cảnh sắc Hương Sơn đã khiến nhà thơ phải thốt lên những lời ngợi ca. Trong khoảnh khắc giao hòa giữa đất trời và lòng người ấy thi nhân đã tìm thấy sự bình yên tuyệt đối. Những câu thơ cuối cùng vang lên như một lời cầu nguyện chân thành cho sự an lạc của muôn loài.
Mẫu 22
Tác phẩm là một bức tranh sơn thủy hữu tình tuyệt đẹp được vẽ bằng ngôn từ của một hồn thơ phóng khoáng và tài hoa. Tác giả mở đầu bằng niềm hân hoan tột độ khi được đặt chân đến chốn bồng lai tiên cảnh Hương Sơn. Cảnh sắc thiên nhiên hiện lên với sự trùng điệp của núi non và sự bồng bềnh của mây trời tạo nên một không gian huyền ảo. Sự linh thiêng của vùng đất này được thể hiện qua những hình ảnh nhân hóa độc đáo như chim thỏ thẻ và cá lững lờ. Tiếng chuông chùa ngân nga có sức mạnh lay động tâm can giúp con người rũ bỏ những bụi trần phiền não. Hành trình của tác giả đi qua các địa danh nổi tiếng như chùa Cửa Võng và hang Phật Tích được miêu tả đầy cảm xúc. Vẻ đẹp của hang động được ví như một bức tranh gấm thêu với những sắc màu rực rỡ của đá ngũ sắc. Sự sắp đặt khéo léo của tạo hóa đã khiến cho cảnh vật nơi đây trở nên sống động và có hồn. Đứng trước vẻ đẹp ấy nhà thơ không khỏi băn khoăn về mối duyên nợ giữa con người và thiên nhiên. Bài thơ khép lại bằng những câu niệm Phật thành kính thể hiện sự hòa hợp tuyệt đối giữa đạo và đời.
Mẫu 23
Hương Sơn phong cảnh ca là nơi cái tôi trữ tình của Chu Mạnh Trinh được bộc lộ một cách trọn vẹn và sâu sắc nhất. Tác giả bắt đầu bằng sự khẳng định vị thế của Hương Sơn là chốn bầu trời cảnh Bụt thanh tịnh. Không gian nghệ thuật được mở rộng theo chiều kích của non nước và mây trời tạo nên sự phóng khoáng cho hồn thơ. Sự sống động của cảnh vật được thể hiện qua những chi tiết nhân hóa đầy ý vị như chim cúng trái và cá nghe kinh. Tiếng chày kình vang vọng như một lời nhắc nhở sâu sắc về sự vô thường của kiếp nhân sinh. Tác giả lần lượt điểm qua những danh lam thắng cảnh như suối Giải Oan và động Tuyết Quynh với thái độ trân trọng. Vẻ đẹp của hang động được miêu tả lộng lẫy như gấm dệt với những khối thạch nhũ đá ngũ sắc long lanh. Sự huyền bí của không gian được tăng thêm bởi ánh trăng lồng vào cửa hang và những đám mây trôi. Câu hỏi về sự chờ đợi của giang sơn gợi lên những suy ngẫm về trách nhiệm của người quân tử. Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh thi nhân lần tràng hạt niệm Phật trong niềm xúc động dâng trào.
Mẫu 24
Văn bản tái hiện sinh động cuộc hành hương về miền tịnh độ với sự đan xen giữa yếu tố hiện thực và cảm hứng lãng mạn bay bổng. Mở đầu tác phẩm là niềm vui sướng của tác giả khi được thỏa mãn ước nguyện chiêm bái cảnh đẹp Hương Sơn. Bức tranh thiên nhiên hiện ra với sự hùng vĩ của núi non và sự huyền ảo của mây trời. Cảnh vật nơi đây không chỉ đẹp mà còn có linh hồn khi chim muông và cá nước cũng biết tu hành. Tiếng chuông chùa ngân vang giữa không gian u tịch như một liều thuốc tinh thần giúp xua tan mọi ưu phiền. Tác giả dẫn dắt người đọc đi qua từng địa danh như chùa Cửa Võng và hang Phật Tích bằng những vần thơ giàu nhạc điệu. Vẻ đẹp của đá ngũ sắc trong hang động được ví như những tấm gấm thêu hoa lộng lẫy. Sự sắp đặt tài tình của tạo hóa đã biến nơi đây thành một kiệt tác thiên nhiên khiến con người phải trầm trồ. Đứng trước cảnh sắc tuyệt trần ấy tâm hồn nhà thơ trở nên thanh tịnh và hướng thiện. Bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa cảm xúc thẩm mỹ và cảm xúc tôn giáo.
Mẫu 25
Bài hát nói của Chu Mạnh Trinh là một khúc ca hùng tráng ngợi ca vẻ đẹp của non sông đất nước qua hình ảnh Hương Sơn. Tác giả mở đầu bằng việc xác định Hương Sơn là một cõi Bụt thanh tịnh tách biệt hẳn với thế giới trần tục. Những hình ảnh non non nước nước mây mây được điệp lại liên tiếp tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về sự bao la của không gian. Thiên nhiên nơi đây mang đậm màu sắc thiền vị khi chim chóc và cá nước cũng tham gia vào đời sống tâm linh. Tiếng chày kình vang lên như một hồi chuông cảnh tỉnh đánh thức lương tri của những con người đang mải mê danh lợi. Các địa danh như suối Giải Oan hay động Tuyết Quynh được nhắc đến với niềm tự hào và tình yêu tha thiết. Vẻ đẹp của hang động được miêu tả vô cùng lộng lẫy với những sắc màu rực rỡ của đá ngũ sắc. Câu hỏi tu từ về sự chờ đợi của giang sơn gợi mở những suy ngẫm sâu sắc về vai trò của con người. Bài thơ khép lại bằng sự khẳng định tình yêu thiên nhiên nồng nàn và lòng biết ơn đối với công đức của cửa từ bi.
Mẫu 26
Tác phẩm là đỉnh cao của nghệ thuật tả cảnh ngụ tình khi Chu Mạnh Trinh gửi gắm tâm tư tình cảm của mình vào thiên nhiên Hương Sơn. Ngay từ những dòng đầu tiên nhà thơ đã bộc lộ niềm khao khát được hòa mình vào không gian thanh tịnh này. Cảnh sắc thiên nhiên hiện lên với vẻ đẹp kỳ vĩ của núi non trùng điệp và mây trời lồng lộng. Sự nhân hóa tài tình của tác giả đã biến những sinh vật vô tri như chim và cá thành những tín đồ ngoan đạo. Tiếng chuông chùa vang vọng không chỉ là âm thanh của tôn giáo mà còn là âm thanh của sự thức tỉnh. Hành trình du ngoạn qua các địa danh như chùa Cửa Võng và hang Phật Tích là một hành trình khám phá vẻ đẹp tiềm ẩn của đất nước. Hình ảnh đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt trong hang động là một so sánh đắt giá tôn vinh vẻ đẹp kiêu sa của thiên nhiên. Sự sắp đặt khéo léo của tạo hóa đã khiến cho cảnh vật nơi đây trở nên sống động và có hồn. Đứng trước kiệt tác ấy nhà thơ đã tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn và niềm tin vào những giá trị cao đẹp. Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh người thi sĩ chắp tay niệm Phật trong niềm an lạc vô biên.
Bố cục
Bài thơ chia thành 3 phần:
- Phần 1 (Bốn câu đầu): Giới thiệu khái quát cảnh Hương Sơn.
- Phần 2 (Mười câu giữa): Tả cảnh Hương Sơn.
- Phần 3 (Năm câu cuối): Suy niệm của tác giả.
Nội dung chính
Bài thơ là bức tranh miêu tả vẻ đẹp chùa Hương và thể hiện cảm xúc yêu mến của tác giả với phong cảnh nơi đây.
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính bài thơ Thơ duyên
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính bài thơ Lời má năm xưa
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính bài thơ Nắng đã hanh rồi
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Tranh Đông Hồ - nét tinh hoa của văn hóa dân gian Việt Nam
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Lễ khánh thành + Thêm một bản dịch Truyện Kiều
>> Xem thêm
Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Ngữ Văn 10 - Chân trời sáng tạo - Xem ngay
Các bài khác cùng chuyên mục
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Tôi có một giấc mơ
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Nam quốc sơn hà - bài thơ thần khẳng định chân lý độc lập của đất nước
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Hịch tướng sĩ - CTST
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính bài thơ Xuân về
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Đất rừng phương Nam
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Tôi có một giấc mơ
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Nam quốc sơn hà - bài thơ thần khẳng định chân lý độc lập của đất nước
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Hịch tướng sĩ - CTST
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính bài thơ Xuân về
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Đất rừng phương Nam




