(35+ mẫu) Kể lại một truyện ngụ ngôn hay nhất - Ngữ văn 7


Trong số những câu chuyện em từng đọc, “Cô bé bán diêm” của Andersen là câu chuyện khiến em xúc động nhất.

Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 6 tất cả các môn - Kết nối tri thức

Toán - Văn - Anh - KHTN...

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Bài mẫu 1

Trong số những câu chuyện em từng đọc, “Cô bé bán diêm” của Andersen là câu chuyện khiến em xúc động nhất. Đó là câu chuyện về một cô bé nghèo khổ, phải sống trong hoàn cảnh vô cùng bất hạnh.

Cô bé mồ côi mẹ từ nhỏ, sống với người cha nghiện rượu và thường xuyên đánh đập. Cuộc sống của em vô cùng khốn khó, hằng ngày phải đi bán từng bao diêm nhỏ để kiếm tiền. Vào một đêm giao thừa lạnh giá, khi mọi nhà đều sum họp, đầm ấm bên nhau thì cô bé vẫn phải lang thang ngoài đường trong bộ quần áo mỏng manh, đôi chân trần tím tái vì rét. Em không dám về nhà vì sợ bị cha mắng khi chưa bán được diêm.

Trong cơn giá lạnh tê buốt, cô bé run rẩy nép mình vào một góc tường và quyết định quẹt một que diêm để sưởi ấm. Khi que diêm cháy lên, em tưởng như đang ngồi bên một chiếc lò sưởi ấm áp. Nhưng que diêm tắt, mọi thứ lại trở về với cái lạnh khắc nghiệt. Em tiếp tục quẹt que diêm thứ hai, và lần này trước mắt em hiện ra một bàn ăn thịnh soạn với con ngỗng quay thơm phức. Rồi đến que diêm thứ ba, em nhìn thấy một cây thông Noel rực rỡ ánh đèn.

Đến que diêm thứ tư, hình ảnh người bà hiền từ – người duy nhất từng yêu thương em – hiện lên rõ ràng. Em vội vàng quẹt hết những que diêm còn lại chỉ để giữ hình ảnh ấy không biến mất. Trong ánh sáng cuối cùng, cô bé như được bà ôm vào lòng và cùng bay lên một nơi không còn đói rét, đau khổ.

Sáng hôm sau, người ta phát hiện cô bé đã chết vì giá rét trong đêm giao thừa, trên môi vẫn nở nụ cười. Câu chuyện khiến người đọc không khỏi xót xa trước số phận của em, đồng thời phê phán sự vô cảm của xã hội. Qua đó, ta càng thấm thía rằng con người cần biết yêu thương, sẻ chia nhiều hơn với những hoàn cảnh bất hạnh.

Bài mẫu 2

       Trong suốt lịch sử phát triển của nhân loại cũng như là lịch sự phát triển của văn học đến nay thì thể loại văn học để lại rất nhiều bài học triết lý nhân sinh cho con người chỉ là chuyện ngủ ngôn. Bản thân tên gọi của nó đó thể hiện đặc trưng, ý nghĩa của loại chuyện này. Đằng sau những ngôn ngữ là ngủ Ý, hàm Ý ẩn chứa những bài học sâu sắc. Trong kho tàng những câu truyện ngụ ngôn thi chuyện “Ếch ngồi đáy giếng” rất quen thuộc với lứa tuổi thiếu nhi.

       Câu chuyện Ếch ngồi đáy giếng được coi là một câu chuyện giàu ý nghĩa, gắn liền với thành ngữ “Ếch ngồi đáy giếng”. Câu chuyện kể về một chú ếch nhỏ sống trong một cái giếng nhỏ. Nó sống lâu ngày ở trong chiếc giếng đó nên không biết thế giới bên ngoài kia ra sao. Thế giới xung quanh nó chỉ có vài con cua, ốc, nhái bé nhỏ, chính vì vậy nên chú ếch tưởng mình là to, mạnh nhất. Mỗi khi nó cất tiếng kêu ồm ộp là mọi vật, con vật xung quanh đều phải cảm thấy sợ hãi. Nó cảm thấy mình rất oai và như một vị chúa tể ở nơi đây. Đặc biệt hơn khi ngẩng lên bầu trời thì nó thấy bầu trời chỉ bằng một chiếc vùng chứ không hề cao và rộng lớn như người ta vẫn thường đồn đại. Từ đây nó kiêu hãnh và cho rằng bầu trời quả thật nhỏ bé còn nó như một vị chúa tể oai phong lẫm liệt đang tự điều khiển vương quốc của mình. Trong cái suy nghĩ hạn hẹp của chú ếch thì dường như không có ai bằng nó cũng chẳng có ai có thể địch lại nó. Chuyện sẽ chẳng có gì nếu như một năm mưa to nước trong giếng dâng cao đã đưa chú ếch ra khỏi bờ giếng. Nó cứ nghĩ bản thân mình vẫn là chúa tể của muôn loài nên đi vinh quang trên đường, ngước mắt lên mà không nhìn. Bỗng nhiên có một con vật gì đó rất lớn đã che mất tầm nhìn của nó, một lúc sau chân của một con trâu đã dẫn bẹp người của chú ếch nhỏ bé. Thế là cuộc đời của một chú ếch ngông nghênh đã kết thúc.

      Thông qua câu chuyện này ta có thể nhận thấy chú ếch con quả thật là đáng chê trách. Bản thân nó sống trong một môi trường nhỏ hẹp nhưng lại không biết tự trau dồi kiến thức của bản thân mà thiếu hiểu biết đã thế còn có tính tình hung hăng, huynh hoang. Hiểu biết thì hạn hẹp tính tình thì kiêu căng cho nên mới dẫn đến cái chết đau lòng. Từ câu chuyện kể về cách nhìn nhận, đánh giá thế giới bên ngoài chỉ qua cái miệng giếng nhỏ hẹp của chú ếch, truyện ngầm phê phán những kẻ hiểu biết hạn hẹp mà lại hay huênh hoang, khoác lác. Đồng thời khuyên nhủ mọi người phải cố gắng mở rộng tầm nhìn, tầm hiểu biết của mình, không nên chủ quan, kiêu ngạo.

    Tác giả dân gian đã khéo léo tưởng tượng ra bối cảnh của truyện và tâm lí nhân vật. Tại sao con ếch lại có những suy nghĩ thiển cận như vậy? Bởi ếch sống dưới đáy một cái giếng nhỏ nên từ dưới giếng nhìn lên, nó thấy bầu trời bé xíu như cái vung nồi. Ngày nào cũng thấy như vậy nên nó khẳng định bầu trời chỉ to bằng ngần ấy mà thôi. Nó cũng giống như những con người suốt ngày chỉ biết ở nhà mà không chịu ra ngoài để nâng cao trình độ của bản thân. Thế giới đang ngày càng thay đổi, nhưng trong con mắt của những con người như vậy thì vẫn chỉ dừng lại như cũ. Đó là lí do khiến cho họ luôn tụt lùi so với phần còn lại của thế giới.

      Câu chuyện ngụ ngôn quả thật để lại nhiều bài học nhân sinh cho mỗi con người chúng ta. Thông qua truyện, người xưa khuyên chúng ta dù sống trong hoàn cảnh nào thì vẫn phải cố gắng học tập để mở rộng tầm nhìn và tầm hiểu biết. Chúng ta nên suy ngẫm kĩ về những bài học mà truyện đặt ra, chớ nên tự biến mình thành Ếch ngồi đáy giếng, coi trời bằng vung. 

Bài mẫu 3

Mỗi tối, em thường được bà kể cho nghe những câu chuyện ngụ ngôn đầy ý nghĩa. Trong số đó, câu chuyện “Ếch ngồi đáy giếng” đã để lại cho em nhiều bài học sâu sắc.

Ngày xưa, có một con ếch sống lâu năm dưới đáy một cái giếng nhỏ. Xung quanh nó chỉ có vài con cua, ốc và nhái bé nhỏ. Vì sống trong môi trường chật hẹp, ếch ta không hề biết thế giới bên ngoài rộng lớn ra sao. Mỗi khi nó cất tiếng kêu “ộp ộp”, âm thanh vang vọng khắp giếng khiến các con vật xung quanh sợ hãi. Điều đó khiến ếch ta vô cùng tự đắc, nghĩ rằng mình là kẻ mạnh nhất.

Khi ngước nhìn lên miệng giếng, nó chỉ thấy bầu trời bé xíu như chiếc vung nên càng tin rằng thế giới rất nhỏ bé. Chính suy nghĩ hạn hẹp ấy khiến ếch trở nên kiêu ngạo, coi thường mọi thứ xung quanh.

Một năm nọ, trời mưa lớn kéo dài, nước trong giếng dâng cao và đưa ếch ra ngoài. Lần đầu tiên bước ra thế giới rộng lớn, ếch vẫn giữ thói quen cũ, đi lại nghênh ngang, không để ý xung quanh. Nó vẫn cất tiếng kêu như trước và tưởng rằng ai cũng sợ mình.

Đang mải nhìn trời, ếch không để ý đến một con trâu to lớn đang đi tới. Kết quả, nó bị trâu giẫm bẹp mà không hề hay biết.

Câu chuyện đã để lại bài học sâu sắc: mỗi người không nên chủ quan, kiêu ngạo với hiểu biết hạn hẹp của mình. Cần luôn học hỏi, mở rộng tầm nhìn để tránh những sai lầm đáng tiếc.

Bài mẫu 4

Kể lại chuyện Ếch ngồi đáy giếng

“Ếch ngồi đáy giếng” là câu chuyện kể về một con ếch có thói huênh hoang, kiêu ngạo và cuối cùng vì chính sự kiêu ngạo ấy mà ếch ta nhận được một bài học đắt giá. Ngày xưa có một con ếch nọ sống trong một cái giếng bị bỏ hoang, chú ta ngày nào cũng cất tiếng kêu ộp ộp khiến cho những sinh vật nhỏ bé trong giếng sợ hãi, rè chừng.

Ếch ta lấy làm thích chí lắm và cho rằng bầu trời trên kia  cũng chỉ bằng chiếc vung. Cứ như vậy ếch ta sống đắc ý qua ngày, không những vậy con ếch còn thường xuyên dùng sức mạnh của mình để bắt nạt, chèn ép những sinh vật nhỏ bé, yếu đuối trong giếng khiến cho mọi sinh vật đều sợ hãi.

Một ngày nọ có trận mưa lớn khiến cho nước trong giếng dâng lên cao, ếch ta lần đầu ra khỏi giếng, ngước mắt lên bầu trời thì thấy bầu trời vô cùng rộng lớn,ếch ta lấy làm bực bội liền cất tiếng kêu ộp ộp như muốn thu nhỏ lại không gian bầu trời và mình vẫn là chúa tể đáng kính. Nhưng đáng thương thay vì mải nhìn lên trời mà ếch ta bị một con trâu đi ngang qua và dẫm bẹp.

Câu chuyện Ếch ngồi đáy giếng nói về thói kiêu ngạo, coi trời bằng vung, đó là nhận thức hạn hẹp của những người thường huênh hoang về sức mạnh của mình, cho mình là nhất và dùng sức mạnh ấy để gây ra những đau khổ cho người khác.

Bài mẫu 5

Kể lại truyện Thầy bói xem voi

Kính chào thầy cô và các bạn.

Tôi vốn làm nghề thầy bói đã lâu nhưng chưa có tiếng tăm gì mấy nên không đắt khách cho lắm. Cùng đồng môn với tôi là bốn anh thầy bói cũng mù như tôi. Một cái chợ nhỏ mà có tới năm ông thầy bói nên đã ế lại càng ế. Hôm ấy, nhân buổi ế hàng, chúng tôi họp lại nói chuyện gẫu với nhau. Thấy tôi phàn nàn không biết hình thù con voi nó như thế nào, các thầy cũng nhao nhao có ý kiến. Đang thảo luận rôm rả, bỗng nghe có người nói có voi đi qua. Năm ông thầy bói chúng tôi chung tiền biếu người quản tượng, xin cho voi đứng lại để cùng xem.

Sốt ruột tôi và năm ông chỉ chờ người quản tượng đồng ý là xông vào lấy tay sờ mong tưởng tượng cho được hình dáng của con voi.

Trong khi tôi đang hí hoáy sờ, nắn thì đã nghe ông thầy bói thôn Đoài lên tiếng:

– Chao ôi! Tưởng con voi thế nào! Hoá ra nó sun sun như con đỉa.

Tôi chưa kịp ý kiến, ông thầy thôn Đông vội cãi:

– Ông nhầm rồi! Nó chần chẫn như cái đòn càn chứ.

Ông thầy thôn Hạ to mồm nói át ngay:

– Ai bảo thế! Nó bè bè như cái quạt thóc. Sao sai được.

– Nhầm! Nhầm hết! Nó như cái cột đình – Thầy thôn Thượng quát to.

Nghe mấy ông phát ngôn linh tinh, tôi cáu quá, giơ gậy lên hua hua:

– Bốn ông đều sai cả. Nó tun tủn như cái chổi xể cùn mới đúng!

Thế rồi chúng tôi không ai chịu ai. Không kiềm chế được mới xông vào đánh nhau sứt đầu mẻ trán. Đến khi người đi chợ chạy lại can ngăn chúng tôi mới dừng lại. Bây giờ tôi nghĩ lại càng thêm xấu hổ. Hoá ra tất cả chúng tôi đều sai cả. Chúng tôi mỗi người chỉ sờ một bộ phận của voi nhưng đã dám khẳng định đó là voi. Vòi, chân, tai, ngà, đuôi đúng là của voi thật nhưng đó mới chỉ là một bộ phận riêng lẻ, chưa phải là cả con voi. Giá như lúc đó chúng tôi tỉnh táo, bình tĩnh lắng nghe ý kiến của nhau, hỏi người quản tượng thì đâu đến nỗi xấu hổ và đau đớn như lúc này. Thật là một bài học nhớ mãi.

Cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe câu chuyện của tôi.

Bài mẫu 6

Truyện ngụ ngôn từ lâu đã trở thành một kho tàng quý giá của dân gian, nơi gửi gắm những bài học sâu sắc về cách sống và cách đối nhân xử thế. Trong số những câu chuyện em từng được nghe, câu chuyện “Sư tử, báo và kền kền” để lại cho em nhiều suy ngẫm nhất, đặc biệt là bài học về sự ích kỷ và hậu quả của nó.

Câu chuyện kể rằng, trong một khu rừng rộng lớn, có một con sư tử và một con báo bị lạc. Chúng đi lang thang nhiều ngày liền trong cái nắng oi bức, cổ họng khô khốc vì khát nước. Trong hoàn cảnh đó, việc tìm được một nguồn nước đối với chúng không chỉ là nhu cầu mà còn là điều kiện để tồn tại. Sau một hồi tìm kiếm mệt mỏi, cuối cùng cả hai cũng phát hiện ra một hố nước nhỏ. Tuy nhiên, điều trớ trêu là miệng hố quá hẹp, không đủ chỗ để cả hai cùng uống một lúc.

Thay vì nhường nhịn hoặc tìm cách chia sẻ, sư tử và báo lại bắt đầu tranh cãi gay gắt. Mỗi con đều muốn mình được uống trước vì sợ rằng nếu chậm trễ, phần nước ít ỏi kia sẽ không còn. Cuộc tranh giành không dừng lại ở lời nói mà ngày càng trở nên căng thẳng, thể hiện rõ sự ích kỷ và thiếu hợp tác. Chính sự hơn thua vô nghĩa ấy đã khiến chúng quên mất hoàn cảnh khó khăn mà cả hai đang cùng đối mặt.

Trong lúc đó, một bầy kền kền bay ngang qua, nghe thấy tiếng cãi vã liền nảy ra ý định lợi dụng. Chúng bịa ra một câu chuyện rằng khu đất sắp bị sụt lở để khiến sư tử và báo hoảng sợ bỏ chạy. Vì quá hoang mang, cả hai lập tức rời đi mà không kịp suy nghĩ. Khi quay lại, hố nước đã bị bầy kền kền uống cạn. Lúc này, sư tử và báo mới nhận ra sai lầm của mình, nhưng tất cả đã quá muộn.

Câu chuyện khép lại với một bài học sâu sắc: trong cuộc sống, nếu con người chỉ biết nghĩ đến lợi ích cá nhân mà không biết chia sẻ, hợp tác thì rất dễ đánh mất cơ hội và rơi vào thất bại. Sự ích kỷ không chỉ gây hại cho người khác mà cuối cùng còn khiến chính bản thân mình phải gánh chịu hậu quả.

Bài mẫu 7

Trong kho tàng truyện ngụ ngôn, câu chuyện “Chó và người đầu bếp” mang đến một bài học vừa nhẹ nhàng vừa sâu sắc về thói khoe khoang và sự tự huyễn hoặc bản thân.

Câu chuyện bắt đầu khi một người giàu có tổ chức một bữa tiệc lớn, mời rất nhiều khách khứa. Không khí trong nhà trở nên nhộn nhịp, thức ăn được chuẩn bị vô cùng thịnh soạn. Con chó của chủ nhà thấy vậy liền nảy ra ý định rủ một người bạn của mình đến “ăn ké”. Nó tự tin nói rằng chắc chắn sẽ có rất nhiều thức ăn thừa, tha hồ mà thưởng thức.

Tin lời bạn, con chó kia háo hức đến dự tiệc. Khi nhìn thấy bàn ăn đầy ắp những món ngon, nó không giấu nổi sự vui mừng, tưởng tượng ra cảnh mình sẽ được ăn uống no nê. Nhưng niềm vui ấy chẳng kéo dài được bao lâu. Người đầu bếp phát hiện ra sự có mặt của nó và lập tức tóm lấy, ném thẳng ra ngoài cửa sổ. Cú ngã khiến nó đau đớn và bẽ bàng.

Khi những con chó khác hỏi thăm về bữa tiệc, thay vì nói sự thật, nó lại nói dối rằng mình đã uống rượu quá nhiều nên không nhớ gì cả. Lời nói ấy thực chất chỉ nhằm che giấu sự xấu hổ của bản thân.

Qua câu chuyện, ta thấy rõ một điều: những kẻ hay khoe khoang, thích thể hiện nhưng lại không có thực lực thì sớm muộn cũng rơi vào tình huống đáng xấu hổ. Sự trung thực với chính mình và với người khác luôn là điều cần thiết trong cuộc sống.

Bài mẫu 8

Trong những câu chuyện ngụ ngôn giàu ý nghĩa, truyện “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” đã để lại cho em nhiều suy nghĩ về tinh thần đoàn kết và vai trò của mỗi cá nhân trong một tập thể.

Câu chuyện kể rằng, từ trước đến nay, cô Mắt, cậu Tay, cậu Chân, bác Tai và lão Miệng luôn sống hòa thuận với nhau. Mỗi bộ phận đảm nhận một công việc riêng, phối hợp nhịp nhàng để cơ thể hoạt động bình thường. Tuy nhiên, một ngày nọ, cô Mắt bỗng nảy sinh suy nghĩ bất mãn. Cô cho rằng mình và các bộ phận khác đều phải làm việc vất vả, trong khi lão Miệng chỉ “ăn không ngồi rồi”.

Ý kiến này nhanh chóng nhận được sự đồng tình của cậu Tay, cậu Chân và bác Tai. Họ quyết định ngừng làm việc để “trừng phạt” lão Miệng. Tất cả cùng kéo đến thông báo rằng từ nay sẽ không cung cấp thức ăn cho lão nữa.

Ban đầu, họ nghĩ rằng quyết định này là hợp lý. Nhưng chỉ sau vài ngày, hậu quả bắt đầu xuất hiện. Cơ thể trở nên mệt mỏi, rã rời. Cậu Chân không còn sức để bước đi, cậu Tay cũng không thể làm việc, cô Mắt thì lờ đờ, còn bác Tai nghe không rõ. Tất cả đều suy yếu dần đi.

Lúc này, họ mới nhận ra rằng việc mình làm là sai lầm. Bác Tai đã lên tiếng giải thích rằng: tuy lão Miệng không trực tiếp lao động như các bộ phận khác, nhưng chính lão là nơi tiếp nhận thức ăn, cung cấp năng lượng cho toàn bộ cơ thể. Nếu không có lão Miệng, tất cả đều không thể tồn tại.

Hiểu ra vấn đề, họ vội vàng quay lại giúp lão Miệng ăn uống. Sau khi được tiếp thêm năng lượng, cơ thể dần hồi phục, các bộ phận lại hoạt động bình thường và sống hòa thuận như trước.

Câu chuyện đã cho thấy một bài học rõ ràng: trong một tập thể, mỗi cá nhân đều có vai trò riêng và đều quan trọng. Nếu thiếu sự hợp tác và đoàn kết, cả tập thể sẽ suy yếu. Vì vậy, con người cần biết tôn trọng, hỗ trợ lẫn nhau để cùng phát triển.

Bài mẫu 9

Truyện “Ếch ngồi đáy giếng” là một câu chuyện ngụ ngôn quen thuộc, phản ánh thói kiêu ngạo, chủ quan của một số người trong cuộc sống.

Câu chuyện kể về một con ếch sống lâu ngày trong một cái giếng nhỏ. Không gian xung quanh nó rất hạn hẹp, chỉ có vài con vật nhỏ bé như nhái, cua, ốc. Vì sống trong môi trường như vậy, ếch dần hình thành suy nghĩ rằng mình là kẻ mạnh nhất. Mỗi khi nó cất tiếng kêu “ồm ộp”, âm thanh vang vọng khắp giếng khiến các con vật khác sợ hãi. Điều đó càng khiến ếch thêm tự mãn, cho rằng mình là “chúa tể”.

Không chỉ vậy, khi ngước nhìn lên bầu trời qua miệng giếng, ếch thấy khoảng trời nhỏ bé như một chiếc vung. Từ đó, nó lại càng tin rằng thế giới bên ngoài cũng chẳng có gì to lớn hơn nơi nó đang sống. Chính sự hạn hẹp về môi trường đã khiến nhận thức của ếch trở nên sai lệch, nhưng nó lại không hề nhận ra điều đó.

Một năm nọ, trời mưa lớn liên tục trong nhiều ngày. Nước mưa dâng cao, tràn đầy giếng và vô tình đưa ếch ra ngoài. Lần đầu tiên bước ra thế giới rộng lớn, mọi thứ đều lạ lẫm đối với nó. Tuy nhiên, thay vì quan sát và học hỏi, ếch vẫn giữ nguyên thói quen cũ: đi lại nghênh ngang, coi thường mọi thứ xung quanh.

Trong lúc mải mê ngước nhìn bầu trời rộng lớn với sự ngạc nhiên pha lẫn tự phụ, ếch đã không chú ý đến nguy hiểm ngay trước mắt. Một con trâu đi ngang qua, không kịp tránh, đã giẫm chết nó. Cái chết của ếch là kết cục tất yếu cho sự chủ quan và kiêu ngạo.

Câu chuyện mang đến bài học sâu sắc: con người không nên tự mãn với hiểu biết hạn hẹp của mình. Cần phải không ngừng học hỏi, mở rộng tầm nhìn và biết khiêm tốn, nếu không sẽ dễ rơi vào những sai lầm đáng tiếc.

Bài mẫu 10

Trong kho tàng truyện dân gian Việt Nam, “Thầy bói xem voi” là một câu chuyện quen thuộc nhưng luôn mang đến bài học sâu sắc về cách nhìn nhận sự vật trong cuộc sống.

Câu chuyện kể rằng có năm ông thầy bói mù sống cùng một làng. Vì không nhìn thấy nên họ luôn tò mò về hình dạng của những sự vật xung quanh, đặc biệt là con voi – loài vật mà họ chỉ nghe nói đến chứ chưa từng “nhìn thấy”. Một hôm, nghe tin có người dắt voi đi qua làng, cả năm ông liền góp tiền để nhờ người quản voi cho mình được “xem” voi bằng cách sờ vào nó.

Mỗi ông thầy bói được sờ vào một bộ phận khác nhau của con voi. Người thì sờ vòi, người sờ ngà, người sờ tai, người sờ chân, người lại sờ đuôi. Sau khi “khám phá”, họ tụ tập lại để bàn luận về hình dáng con voi. Ông sờ vòi cho rằng con voi “sun sun như con đỉa”, ông sờ ngà lại quả quyết nó “chần chẫn như cái đòn càn”. Người sờ tai thì khăng khăng voi “bè bè như cái quạt”, còn người sờ chân lại nói voi “sừng sững như cái cột đình”. Cuối cùng, ông sờ đuôi kết luận voi “tun tủn như cái chổi sể cùn”.

Ai cũng tin chắc nhận định của mình là đúng, không ai chịu lắng nghe hay chấp nhận ý kiến của người khác. Cuộc tranh luận nhanh chóng trở nên gay gắt, rồi dẫn đến xô xát, đánh nhau đến mức “toác đầu chảy máu”. Điều đáng buồn là tất cả họ đều không nhận ra rằng mỗi người chỉ hiểu được một phần rất nhỏ của sự thật.

Qua câu chuyện, ông cha ta muốn nhắn nhủ rằng: khi nhìn nhận một sự vật hay vấn đề, nếu chỉ dựa vào một khía cạnh phiến diện thì rất dễ dẫn đến sai lầm. Con người cần biết lắng nghe, tổng hợp nhiều ý kiến và nhìn nhận một cách toàn diện thì mới có thể hiểu đúng bản chất sự việc.

Bài mẫu 11

Trong số những câu chuyện ngụ ngôn giàu ý nghĩa, truyện “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” đã để lại cho em ấn tượng sâu sắc bởi bài học về tinh thần đoàn kết và vai trò không thể thay thế của mỗi cá nhân trong một tập thể.

Câu chuyện kể rằng, từ trước đến nay, cô Mắt, cậu Tay, cậu Chân, bác Tai và lão Miệng luôn sống cùng nhau trong một cơ thể và phối hợp nhịp nhàng để duy trì sự sống. Mỗi bộ phận đảm nhận một nhiệm vụ riêng: Tay làm việc, Chân di chuyển, Mắt quan sát, Tai lắng nghe, còn Miệng tiếp nhận thức ăn. Nhờ sự phối hợp ấy, cơ thể luôn khỏe mạnh và hoạt động bình thường.

Thế nhưng, một ngày nọ, cô Mắt bỗng cảm thấy bất mãn. Cô cho rằng mình cùng các bộ phận khác phải làm việc vất vả, trong khi lão Miệng dường như chỉ biết ăn mà không phải lao động gì. Suy nghĩ này nhanh chóng lan sang cậu Tay, cậu Chân và bác Tai. Họ đều cảm thấy mình bị “thiệt thòi” và cho rằng lão Miệng không xứng đáng được hưởng thành quả lao động của họ.

Sau khi bàn bạc, họ quyết định đình công, không làm việc nữa để “dạy cho lão Miệng một bài học”. Họ cùng nhau đến gặp lão Miệng và tuyên bố rằng từ nay sẽ không cung cấp thức ăn cho lão nữa. Trước thái độ kiên quyết của các bộ phận khác, lão Miệng chỉ biết ngạc nhiên và cố gắng giải thích, nhưng không ai chịu lắng nghe.

Những ngày đầu tiên trôi qua, họ vẫn cảm thấy quyết định của mình là đúng. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, hậu quả bắt đầu xuất hiện. Cơ thể trở nên mệt mỏi, rã rời. Cậu Chân không còn sức để bước đi, cậu Tay cũng không thể làm việc, cô Mắt thì mờ dần, còn bác Tai nghe không rõ. Tất cả đều suy yếu nhanh chóng, đến mức không thể hoạt động bình thường.

Lúc này, họ mới bắt đầu nhận ra vấn đề. Bác Tai đã lên tiếng phân tích rằng: tuy lão Miệng không trực tiếp làm việc như các bộ phận khác, nhưng chính lão là nơi tiếp nhận thức ăn – nguồn năng lượng nuôi sống toàn bộ cơ thể. Nếu không có lão Miệng, thì dù các bộ phận khác có làm việc đến đâu cũng không thể duy trì sự sống.

Nhận ra sai lầm, họ vội vàng quay lại xin lỗi và giúp lão Miệng ăn uống trở lại. Sau khi được tiếp thêm năng lượng, cơ thể dần hồi phục, các bộ phận lại hoạt động bình thường và tiếp tục phối hợp với nhau như trước. Từ đó, họ không còn tị nạnh hay so bì nữa mà hiểu rằng mỗi người đều có vai trò riêng, không thể thay thế.

Câu chuyện đã để lại bài học sâu sắc: trong một tập thể, mỗi cá nhân đều có giá trị và đóng góp theo cách riêng của mình. Sự đoàn kết, hợp tác và tôn trọng lẫn nhau là điều kiện cần thiết để tập thể phát triển bền vững. Nếu chỉ nhìn vào bề ngoài mà đánh giá vai trò của người khác, con người rất dễ mắc sai lầm và gây ra những hậu quả đáng tiếc.

Bài mẫu 12

“Ếch ngồi đáy giếng” là một câu chuyện ngụ ngôn quen thuộc, được kể lại dưới nhiều hình thức khác nhau. Mỗi lần đọc lại, em lại nhận ra thêm những ý nghĩa sâu sắc về cách con người nhìn nhận thế giới và chính bản thân mình.

Câu chuyện kể về một con ếch sống lâu năm trong một cái giếng nhỏ. Không gian nơi đó vô cùng chật hẹp, xung quanh chỉ có vài con vật nhỏ bé như nhái, cua, ốc. Chính môi trường sống hạn chế ấy đã khiến tầm hiểu biết của ếch trở nên bó hẹp. Mỗi ngày, ếch cất tiếng kêu vang dội khắp giếng, khiến các con vật xung quanh sợ hãi. Điều đó khiến nó vô cùng tự mãn, cho rằng mình là kẻ mạnh nhất, là “chúa tể” của cả cái giếng.

Không chỉ vậy, khi ngước nhìn lên miệng giếng, ếch thấy bầu trời chỉ bé bằng một chiếc vung. Từ đó, nó tin rằng bầu trời vốn dĩ nhỏ bé như vậy, và thế giới bên ngoài chắc cũng chẳng có gì rộng lớn hơn nơi nó đang sống. Sự thiếu hiểu biết kết hợp với tính kiêu ngạo đã khiến ếch dần trở nên coi thường tất cả.

Một năm nọ, trời mưa lớn kéo dài nhiều ngày. Nước trong giếng dâng cao, tràn ra ngoài và đưa ếch ra khỏi môi trường quen thuộc. Lần đầu tiên đặt chân ra thế giới rộng lớn, ếch đứng trước những cảnh vật hoàn toàn mới lạ: bầu trời bao la, mặt đất rộng rãi, mọi thứ đều vượt xa những gì nó từng tưởng tượng.

Thế nhưng, thay vì thay đổi nhận thức, ếch vẫn giữ nguyên thói quen cũ. Nó đi lại nghênh ngang, không hề quan sát xung quanh. Ngay cả khi nhận ra bầu trời rộng lớn hơn, nó cũng không suy nghĩ sâu xa mà vẫn giữ thái độ tự mãn. Trong lúc mải mê ngẩng đầu lên trời, ếch đã không để ý đến một con trâu đang đi tới.

Kết cục, ếch bị trâu giẫm chết một cách đáng tiếc. Cái chết ấy không chỉ là một tai nạn mà còn là hậu quả tất yếu của sự chủ quan, kiêu ngạo và thiếu hiểu biết.

Qua câu chuyện, ta nhận ra rằng: nếu con người không chịu học hỏi, không mở rộng tầm nhìn mà chỉ sống trong “cái giếng” của mình, thì rất dễ mắc sai lầm. Sự khiêm tốn và tinh thần cầu tiến chính là điều cần thiết để mỗi người phát triển và tránh những hậu quả đáng tiếc.

Bài mẫu 13

Trong cuộc sống, tình bạn là một điều vô cùng quý giá. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu đúng và giữ gìn được tình bạn ấy. Câu chuyện “Hai người bạn và con gấu” là một bài học sâu sắc về sự trung thực và lòng nghĩa khí trong tình bạn.

Câu chuyện kể rằng có hai người bạn cùng nhau đi qua một khu rừng vắng. Họ vừa đi vừa trò chuyện rất vui vẻ, thể hiện sự thân thiết và tin tưởng lẫn nhau. Tuy nhiên, khi bước vào khu rừng rậm, nguy hiểm luôn có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Bất ngờ, một con gấu lớn xuất hiện ngay trước mặt. Tình huống diễn ra quá nhanh khiến cả hai không kịp chuẩn bị. Người đi phía trước nhanh chóng trèo lên một cái cây gần đó để trốn, bỏ mặc người bạn còn lại ở dưới đất. Hành động ấy cho thấy, trong lúc nguy cấp, anh ta chỉ nghĩ đến sự an toàn của bản thân mà quên mất người bạn đồng hành.

Người còn lại không biết trèo cây, trong tình thế nguy hiểm, anh ta buộc phải nhanh trí nghĩ cách tự cứu mình. Nhớ lại rằng gấu thường không ăn xác chết, anh liền nằm bẹp xuống đất, nín thở và giả vờ chết. Con gấu tiến lại gần, dùng mũi ngửi khắp người anh, thậm chí ghé sát vào tai như muốn kiểm tra. Nhưng vì không phát hiện dấu hiệu của sự sống, nó bỏ đi.

Khi con gấu đã đi xa, người bạn trên cây mới trèo xuống và tiến lại gần. Anh ta tò mò hỏi rằng con gấu đã “thì thầm” điều gì vào tai bạn mình. Câu hỏi ấy tưởng như vô tình nhưng lại thể hiện sự thiếu chân thành, bởi chính anh ta đã bỏ rơi bạn trong lúc nguy hiểm nhất.

Người nằm dưới đất đã bình tĩnh trả lời rằng: con gấu bảo anh không nên chơi với những kẻ sẵn sàng bỏ mặc bạn bè khi gặp hoạn nạn. Câu trả lời ấy vừa nhẹ nhàng nhưng cũng đầy ý nghĩa, như một lời nhắc nhở sâu sắc.

Qua câu chuyện, ta nhận ra rằng: tình bạn chân chính không chỉ thể hiện qua lời nói mà quan trọng hơn là hành động, đặc biệt trong những lúc khó khăn. Những người chỉ biết nghĩ đến bản thân, sẵn sàng bỏ rơi bạn bè khi gặp nguy hiểm thì không xứng đáng với hai chữ “bạn bè”.

Bài mẫu 14

Trong cuộc sống, lòng ích kỷ và sự hơn thua cá nhân có thể khiến con người đánh mất những cơ hội quý giá. Câu chuyện “Sư tử, báo và kền kền” là một minh chứng rõ ràng cho điều đó.

Câu chuyện kể về một con sư tử và một con báo bị lạc trong khu rừng rộng lớn. Sau nhiều ngày lang thang dưới cái nắng gay gắt, cả hai đều rơi vào trạng thái kiệt sức vì khát nước. Trong hoàn cảnh ấy, việc tìm được nguồn nước trở thành điều quan trọng nhất để duy trì sự sống.

Sau một thời gian tìm kiếm đầy khó khăn, chúng phát hiện ra một hố nước nhỏ. Tuy nhiên, miệng hố lại quá hẹp, không đủ chỗ cho cả hai cùng uống một lúc. Đây lẽ ra là lúc chúng cần hợp tác, chia sẻ để cùng vượt qua khó khăn.

Thế nhưng, sự ích kỷ đã khiến cả hai bắt đầu tranh cãi. Mỗi con đều muốn mình được uống trước vì sợ rằng nếu nhường, phần nước ít ỏi kia sẽ không còn. Cuộc tranh giành ngày càng gay gắt, không ai chịu nhường ai. Họ quên mất rằng nếu cứ tiếp tục như vậy, cả hai đều có thể mất cơ hội sống sót.

Đúng lúc đó, một bầy kền kền bay qua. Nghe thấy tiếng cãi vã, chúng nhanh chóng nhận ra cơ hội. Chúng bịa ra một câu chuyện rằng khu đất sắp bị sụt lở để khiến sư tử và báo hoảng sợ. Tin lời, cả hai vội vàng bỏ chạy mà không kịp suy nghĩ.

Khi nhận ra mình bị lừa và quay lại, hố nước đã bị bầy kền kền uống cạn. Lúc này, sư tử và báo mới hiểu ra sai lầm của mình. Nếu ngay từ đầu biết nhường nhịn và hợp tác, họ đã không rơi vào tình cảnh đáng tiếc như vậy.

Câu chuyện mang đến một bài học sâu sắc: trong cuộc sống, nếu con người chỉ biết nghĩ đến lợi ích cá nhân mà không biết hợp tác, chia sẻ thì rất dễ đánh mất cơ hội. Đôi khi, sự nhường nhịn và đoàn kết lại chính là chìa khóa để cùng tồn tại và phát triển.

Bài mẫu 15

Trong kho tàng truyện ngụ ngôn, câu chuyện “Chó sói và chiên con” là một câu chuyện tiêu biểu, phản ánh rõ bản chất của kẻ gian ác và bài học về lẽ phải trong cuộc sống. Dù câu chuyện khá ngắn gọn, nhưng ý nghĩa mà nó mang lại lại vô cùng sâu sắc và đáng suy ngẫm.

Câu chuyện kể rằng, vào một buổi sáng yên bình bên bờ suối, một chú chiên con đang cúi mình uống nước. Dòng suối trong vắt chảy nhẹ nhàng, tạo nên một khung cảnh tưởng chừng rất an toàn và thanh bình. Thế nhưng, sự yên bình ấy nhanh chóng bị phá vỡ khi một con chó sói hung ác xuất hiện. Nhìn thấy chiên con yếu ớt, sói lập tức nảy sinh ý định ăn thịt, nhưng nó không tấn công ngay mà tìm cách kiếm cớ để hợp thức hóa hành động của mình.

Sói tiến lại gần và quát lớn, vu cho chiên con tội làm đục nước mà nó đang uống. Trước lời buộc tội vô lý ấy, chiên con vô cùng hoảng sợ nhưng vẫn cố gắng giữ bình tĩnh để giải thích. Nó nói rằng mình đang đứng ở hạ lưu, còn sói ở thượng nguồn, nên không thể nào làm đục nước của sói được. Lập luận của chiên con hoàn toàn hợp lý, nhưng sói không hề quan tâm đến sự thật.

Không tìm được lý do hợp lý, sói tiếp tục vu khống rằng năm ngoái chiên con đã nói xấu nó. Chiên con lại một lần nữa nhẹ nhàng giải thích rằng năm ngoái mình còn chưa được sinh ra. Thế nhưng, mọi lời biện minh đều trở nên vô nghĩa trước một kẻ đã sẵn có ý định làm điều xấu. Sói tiếp tục viện ra những lý do vô căn cứ khác, thậm chí đổ lỗi cho cả anh em của chiên con.

Cuối cùng, không cần thêm bất kỳ lý do nào nữa, sói lao vào ăn thịt chiên con. Cái chết của chiên con là minh chứng rõ ràng cho việc: khi kẻ mạnh đã muốn hại kẻ yếu, thì mọi lý lẽ đúng sai đều trở nên vô nghĩa.

Qua câu chuyện, ta thấy rõ bản chất của kẻ xấu: chúng thường tìm cách ngụy biện, bịa đặt lý do để che đậy hành vi sai trái của mình. Đồng thời, câu chuyện cũng cho thấy một thực tế phũ phàng trong cuộc sống: không phải lúc nào lẽ phải cũng được bảo vệ nếu thiếu sức mạnh. Vì vậy, con người không chỉ cần sống đúng mà còn phải biết tự bảo vệ mình trước những điều bất công.

Câu chuyện khép lại với một bài học sâu sắc: chúng ta cần nhận thức rõ về bản chất của cái xấu, không nên ngây thơ trước những kẻ gian ác. Đồng thời, mỗi người cũng cần sống trung thực, công bằng và biết lên án những hành vi sai trái để xã hội trở nên tốt đẹp hơn.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 6 - Kết nối tri thức - Xem ngay

Tham Gia Group Dành Cho Lớp 6 Chia Sẻ, Trao Đổi Tài Liệu Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...