(35+ mẫu) Viết bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến một nhân vật lịch sử hay nhất - Ngữ văn 7>
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Bác Tôn Đức Thắng là một tấm gương tiêu biểu về lòng yêu nước, đức hy sinh và sự tận tụy với cách mạng.
Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 6 tất cả các môn - Kết nối tri thức
Toán - Văn - Anh - KHTN...
Bài mẫu 1
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Bác Tôn Đức Thắng là một tấm gương tiêu biểu về lòng yêu nước, đức hy sinh và sự tận tụy với cách mạng. Một sự kiện khiến em đặc biệt ấn tượng là việc Bác được trao tặng Huân chương Sao vàng – phần thưởng cao quý nhất của Nhà nước ta.
Bác Tôn Đức Thắng sinh ngày 20 tháng 8 năm 1888 tại Cù lao Ông Hổ, thuộc tỉnh An Giang ngày nay. Suốt cuộc đời mình, Bác đã gắn bó với sự nghiệp cách mạng, trải qua nhiều gian khổ, thử thách. Bác không chỉ là người đồng chí thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn là người chiến sĩ kiên trung, luôn đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết. Dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, Bác cũng luôn giữ vững phẩm chất giản dị, khiêm tốn và hết lòng vì nhân dân.
Vào ngày 19 tháng 8 năm 1958, nhân dịp Bác tròn 70 tuổi, Đảng và Nhà nước đã quyết định trao tặng Bác Huân chương Sao vàng. Trong buổi lễ trang trọng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt toàn thể nhân dân ghi nhận những cống hiến to lớn của Bác Tôn. Người ca ngợi Bác là một người con ưu tú của dân tộc, đã cống hiến hơn nửa thế kỷ cho cách mạng, từng chịu nhiều năm tù đày nhưng vẫn một lòng kiên định. Những lời phát biểu chân thành và đầy trân trọng của Bác Hồ đã khiến buổi lễ trở nên xúc động hơn bao giờ hết.
Khi nhận Huân chương, Bác Tôn bày tỏ niềm xúc động sâu sắc. Bác khẳng định sẽ tiếp tục cống hiến đến cuối đời cho sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập và hạnh phúc của nhân dân. Lời nói giản dị nhưng đầy ý chí ấy đã thể hiện rõ nhân cách cao đẹp của một người chiến sĩ cách mạng chân chính.
Qua câu chuyện này, em càng thêm kính trọng Bác Tôn Đức Thắng. Bác không chỉ là một nhà lãnh đạo tài năng mà còn là biểu tượng sáng ngời của đạo đức cách mạng. Tấm gương của Bác sẽ mãi là nguồn động lực để thế hệ trẻ noi theo.
Bài mẫu 2
Bác Hồ luôn là vị lãnh tụ kính yêu trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Đối với em, chuyến đi thăm Lăng Bác là một kỷ niệm vô cùng đáng nhớ, giúp em hiểu rõ hơn về cuộc đời và con người của Bác.
Ngay từ khi bước vào khuôn viên Lăng, em đã cảm nhận được không khí trang nghiêm và yên tĩnh. Dòng người vào viếng rất đông nhưng ai cũng giữ trật tự, thể hiện sự kính trọng sâu sắc. Xung quanh lăng là những hàng cây xanh mát và thảm cỏ được chăm sóc cẩn thận, tạo nên một khung cảnh vừa đẹp vừa thiêng liêng.
Khi vào bên trong, em không khỏi xúc động khi được tận mắt nhìn thấy Bác. Dù Bác đã đi xa, nhưng hình ảnh của Người vẫn như còn sống mãi. Gương mặt hiền từ, thanh thản của Bác khiến em cảm thấy gần gũi và ấm áp. Sau đó, em còn được nghe hướng dẫn viên kể về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác – từ những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước cho đến khi lãnh đạo nhân dân giành độc lập.
Những câu chuyện giản dị về cuộc sống của Bác như ăn uống đạm bạc, làm việc không ngừng nghỉ vì dân vì nước đã khiến em vô cùng cảm phục. Em nhận ra rằng, sự vĩ đại của Bác không chỉ nằm ở những đóng góp to lớn mà còn ở chính lối sống giản dị, gần gũi.
Chuyến đi đã để lại trong em nhiều cảm xúc sâu sắc. Em càng thêm tự hào khi là người Việt Nam và tự nhủ sẽ cố gắng học tập, rèn luyện để xứng đáng với công lao của Bác.
Bài mẫu 3
Newton được đánh giá là một trong những nhà khoa học vĩ đại, có nhiều cống hiến trong lịch sử. Trong tất cả những quy luật và ông đã tìm ra thì người ta không thể không nhắc đến thuyết vạn vật hấp dẫn. Xung quanh những hiện tượng này có một câu chuyện rất thú vị về việc quả táo rơi trúng đầu của ông.
Câu chuyện thú vị và ý nghĩa về nhà khoa học vĩ đại người Anh Isaac Newton vẫn được lưu truyền lại cho hậu thế. Vào một ngày mùa thu, khi đang ngồi trên ghế trong vườn đọc sách, bỗng một quả táo chín bất ngờ rơi xuống đầu Newton. Có lẽ chính nhờ quả táo rụng đã nảy ra trong đầu của nhà khoa học những suy nghĩ mới. Trong đầu ông có rất nhiều những vấn đề băn khoăn về vạn vật đều chịu một lực hút. Những suy nghĩ đó của ông đều hướng về việc cái lực hút đó chính là lực hút của trái đất. Nhờ vậy mà ông đã tìm ra được một định luật quan trọng với tên gọi là vạn vật hấp dẫn. Dường như đối với hậu thế thì câu chuyện quả táo rơi được xem như là một giai thoại nổi tiếng nhất trong giới khoa học. Người ta vẫn luôn cho rằng chính nhờ một quả táo nhỏ bé đấy mà một nhà khoa học vĩ đại đã được phát hiện cũng giống như là thế giới có thêm một thuyết quan trọng trong việc tìm ra lực hút của vạn vật. Sau này Newton nêu ra: Mọi vật trên trái đất đều chịu sức hút của trái đất, mặt trăng cũng chịu sức hút của trái đất, đồng thời trái đất cũng chịu sức hút của mặt trăng; Trái đất chịu sức hút của mặt trời, mặt trời đồng thời cũng chịu sức hút của trái đất. Nói một cách khác là vạn vật trong vũ trụ đều có lực hấp dẫn lẫn nhau, vì có loại lực hấp dẫn này mà mặt trăng mới quay quanh trái đất, trái đất mới quay quanh mặt trời.
Câu chuyện quả táo rơi vào đầu Newton trở thành một trong những giai thoại phổ biến và lâu dài trong lịch sử khoa học, thậm chí còn được đưa vào nội dung sách giáo khoa. Nhưng trên thực tế, Newton không bị quả táo nào rơi vào đầu khi khám phá ra lực hấp dẫn. Newton chỉ vào một quả táo trên cành cây làm ví dụ mà thôi. Bản thân Newton rất thích giai thoại về quả táo rơi trúng đầu mình vào những năm sau đó.
Cống hiến lớn khiến tên tuổi ông trở thành bất tử là Ba định luật về chuyển động đặt cơ sở lý luận cho lực học kinh điển, quan trọng nhất là “Nguyên lý vạn vật hấp dẫn”. Đây là nguyên lý cơ sở cho những phát minh vật lý học, cơ học, thiên văn học trong nhiều thế kỷ. Ông mãi là một nhà khoa học vĩ đại, góp phần mở ra những nền khoa học mới.
Bài mẫu 4
Đất nước có được nền hòa bình ngày hôm nay, không biết bao cha anh đã ngã xuống, không tiếc máu xương để bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc. Anh Kim Đồng là một tấm gương sáng trong số những người anh hùng như vậy.
Anh Kim Đồng là người dân tộc Tày. Cha mất sớm, anh sống cùng mẹ - một người phụ nữ đảm đang nhưng ốm yếu. Sống trong cảnh đất nước bị xâm lược nên từ nhỏ, Kim Đồng đã dũng cảm, quyết đoán, mạnh mẽ, có tinh thần yêu nước, căm thù giặc. Tuy tuổi còn nhỏ nhưng anh rất hăng hái làm nhiệm vụ giao liên, đưa đón Việt Minh và chuyển thư từ. Anh được bầu làm đại đội trưởng đầu tiên của Đội Nhi đồng cứu quốc. Anh không ngại khó khăn, thử thách, nguy hiểm luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong một lần làm nhiệm vụ, anh bị giặc Pháp bắn và hi sinh. Khi ấy, anh mới chỉ 14 tuổi. Đã có rất nhiều bài thơ, bài hát được sáng tác để ghi nhớ công ơn của anh.
Hình ảnh anh Kim Đồng sẽ luôn sáng mãi, là tấm gương cho thanh thiếu niên Việt Nam về tinh thần yêu nước sâu sắc, sự thông minh, gan dạ, lòng dũng cảm, trung kiên với Tổ quốc.
Bài mẫu 5
Tháng tư vừa rồi, trường em có tổ chức một buổi tham quan nằm trong chuỗi hoạt động ngoại khóa của trường. Điểm đến lần này là Đền Hùng tại Việt Trì-Phú Thọ. Đây là nơi thờ phụng các đời Vua Hùng và tôn thất của nhà vua. Nơi đây gắn với Giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch. Đây là một dịp để thế hệ con cháu đến viếng đền, tưởng nhớ đến những người đã có công dựng nước.
Em đã được nghe nhiều câu chuyện về các Vua Hùng qua các sự tích nổi tiếng như Sự tích bánh chưng bánh dày, Sơn Tinh Thủy Tinh… và thấy được sự uy nghiêm và trí tuệ của các vị vua. Điều đó khiến tôi càng mong đợi chuyến đi này hơn.
Dưới chân núi là khung cảnh uy nghiêm, hùng vĩ của núi Nghĩa Lĩnh với rừng cây và sương mù bao phủ. Nơi thờ các vị vua được đặt trên núi với ba đền chính là đền Hạ, đền Trung và đền Thượng. Đền Hạ tương truyền là nơi mẹ Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng. Trăm trứng ấy đẻ ra trăm người con, năm mươi người theo cha xuống biển, bốn chín người theo mẹ lên núi. Người con ở lại làm vua, lấy tên là Hùng Vương (thứ nhất). Đền Trung là nơi các vị vua họp bàn chính sự. Đền Thượng là lăng thờ Hùng Vương thứ sáu. Lễ hội đền Hùng được tổ chức hàng năm bao gồm những hoạt động văn hóa, văn nghệ mang tính chất nghi thức truyền thống và những hoạt động văn hóa dân gian khác… Các hoạt động văn hóa mang tính chất nghi thức còn lại đến ngày nay là lễ rước kiệu vua và lễ dâng hương. Dưới tán lá mát rượi của những cây trò, cây mỡ cổ thụ và âm vang trầm bổng của trống đồng, đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá huyền thoại để tới đỉnh núi Thiêng.
Trước khi đi tham quan các đền, chúng tôi được làm lễ dâng hương và nghe diễn thuyết về các vị Vua Hùng. Không khí trang nghiêm, hào hùng ấy khiến tôi không khỏi tự hào về lịch sử dân tộc mình. Họ đã dựng nước, giữ nước để đời sau con cháu được hưởng thụ nền độc lập, hòa bình ấy. Và nay chúng em đến đây để thể hiện lòng biết ơn, sự tôn trọng của mình đối họ, thể hiện đúng truyền thống đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Họ đã gây dựng nền móng cho nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa hiện tại và chúng em đều biết ơn điều đấy.
Sau đó, chúng em được đi thăm các đền thờ vua trên núi. Cách trang trí, sắp xếp các di vật đều được bố trí một cách ngay ngắn, trang nghiêm. Em ấn tượng với tấm bia ở đền Hạ khắc dòng chữ của Bác Hồ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta cùng nhau giữ lấy nước.” Nó như một lời hứa hẹn Bác thay thế hệ trẻ nói lên trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước.
Đó thực sự là một chuyến đi đầy bổ ích và ý nghĩa. Mặc dù nó chỉ kéo dài trong một buổi sáng ngắn ngủi nhưng nó đã giúp em hiểu ra trách nhiệm của mình đối với đất nước. Phải biết kính trọng, biết ơn thế hệ đi trước đặc biệt là các vị Vua Hùng và phải ghi nhớ:
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba.”
Bài mẫu 6
Trong lịch sử đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam, có biết bao tấm gương anh hùng đã hy sinh quên mình vì độc lập, tự do. Trong số đó, câu chuyện về anh Phan Đình Giót – người chiến sĩ đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai trong chiến dịch Điện Biên Phủ – luôn để lại trong em niềm xúc động và khâm phục sâu sắc.
Anh Phan Đình Giót sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo tại Hà Tĩnh. Tuổi thơ của anh gắn liền với những tháng ngày cơ cực, thiếu thốn, nhưng chính hoàn cảnh đó đã rèn luyện cho anh ý chí kiên cường và lòng yêu nước mãnh liệt. Khi đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, anh đã tình nguyện gia nhập quân đội, mang theo quyết tâm chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, anh được giao nhiệm vụ tham gia tấn công cứ điểm Him Lam – một vị trí phòng thủ kiên cố của quân địch. Trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt, địch liên tục bắn phá dữ dội khiến nhiều chiến sĩ bị thương, thậm chí hy sinh. Dù bản thân cũng bị thương ở chân, nhưng anh vẫn không lùi bước mà tiếp tục tiến lên phía trước, chiến đấu với tinh thần quả cảm.
Khi phát hiện hỏa lực mạnh từ lô cốt của địch đang cản trở bước tiến của đồng đội, anh đã quyết định bò đến gần để tiêu diệt điểm hỏa lực này. Trong tình thế cấp bách, không còn cách nào khác, anh đã dũng cảm dùng chính thân mình lấp kín lỗ châu mai. Hành động ấy khiến hỏa lực của địch bị vô hiệu hóa, tạo điều kiện cho đồng đội xông lên tiêu diệt cứ điểm.
Sự hy sinh của anh Phan Đình Giót không chỉ góp phần quan trọng vào chiến thắng của trận đánh mà còn trở thành biểu tượng sáng ngời cho tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Tấm gương của anh mãi mãi là nguồn động lực để thế hệ trẻ noi theo, sống có trách nhiệm và biết cống hiến cho đất nước.
Bài mẫu 7
Bác Hồ không chỉ là vị lãnh tụ vĩ đại mà còn là người luôn dành tình yêu thương đặc biệt cho thiếu nhi. Một câu chuyện nhỏ về việc Bác chia kẹo cho các em đã để lại trong em nhiều bài học sâu sắc.
Trong một lần đến thăm trại nhi đồng, Bác đã ân cần hỏi han từng em về việc học tập, ăn uống và sinh hoạt. Những câu hỏi giản dị nhưng đầy sự quan tâm của Bác khiến các em nhỏ cảm thấy vô cùng gần gũi và ấm áp. Ai cũng vui mừng khi được gặp Bác.
Khi Bác chuẩn bị chia kẹo, một em nhỏ đã mạnh dạn đề nghị rằng chỉ những bạn ngoan mới được nhận. Bác không vội trả lời mà hỏi ý kiến của tất cả các em. Sau đó, các em đều đồng ý với ý kiến đó và xếp hàng nhận kẹo.
Tuy nhiên, khi đến lượt một bạn nhỏ, bạn ấy đã tự giác nhận lỗi vì hôm đó chưa ngoan nên không dám nhận kẹo. Trước hành động trung thực ấy, Bác đã mỉm cười hiền hậu và nói rằng biết nhận lỗi và sửa lỗi chính là điều đáng quý. Vì vậy, Bác vẫn trao kẹo cho bạn như các bạn khác.
Câu chuyện tuy đơn giản nhưng chứa đựng bài học sâu sắc về lòng trung thực, sự bao dung và cách giáo dục nhẹ nhàng mà thấm thía của Bác Hồ.
Bài mẫu 8
Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 là một trong những sự kiện lịch sử vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đây không chỉ là một chiến thắng quân sự mà còn là biểu tượng cho ý chí kiên cường và sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc.
Chiến dịch diễn ra trong suốt 56 ngày đêm, từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1954, với nhiều trận đánh ác liệt. Quân ta đã phải đối mặt với một tập đoàn cứ điểm được xây dựng kiên cố, được trang bị vũ khí hiện đại. Tuy nhiên, với chiến lược đúng đắn và tinh thần chiến đấu dũng cảm, quân ta đã từng bước phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch.
Ở giai đoạn đầu, quân ta tấn công các cứ điểm quan trọng như Him Lam và Độc Lập, mở đường tiến vào trung tâm. Tiếp đó, ta tiếp tục kiểm soát các điểm cao, siết chặt vòng vây khiến địch rơi vào thế bị động. Đến giai đoạn cuối, quân ta tổng tấn công, đánh thẳng vào trung tâm chỉ huy của địch.
Đỉnh điểm là ngày 7 tháng 5 năm 1954, khi quân ta hoàn toàn làm chủ chiến trường, buộc tướng De Castries cùng toàn bộ quân địch phải đầu hàng. Chiến thắng này đã chấm dứt hoàn toàn sự thống trị của thực dân Pháp tại Đông Dương.
Chiến dịch Điện Biên Phủ đã đi vào lịch sử như một mốc son chói lọi, khẳng định sức mạnh và ý chí của dân tộc Việt Nam. Đây là niềm tự hào lớn lao và cũng là bài học quý giá cho các thế hệ sau.
Bài mẫu 9
Trong những tấm gương thiếu niên anh hùng của dân tộc Việt Nam, Kim Đồng là một hình ảnh đẹp đẽ và đầy cảm hứng. Dù tuổi đời còn rất nhỏ, nhưng anh đã sớm thể hiện lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm đáng khâm phục.
Kim Đồng tên thật là Nông Văn Dền, sinh ra trong một gia đình nghèo ở vùng núi Cao Bằng. Từ nhỏ, anh đã phải phụ giúp gia đình và sớm tiếp xúc với cuộc sống khó khăn. Tuy vậy, anh lại rất nhanh nhẹn, thông minh và có tinh thần trách nhiệm cao. Khi cách mạng phát triển, anh đã được giao nhiệm vụ làm liên lạc cho tổ chức Việt Minh.
Công việc của anh vô cùng nguy hiểm, bởi anh phải thường xuyên di chuyển qua những khu vực có sự kiểm soát của kẻ thù để đưa đón cán bộ và chuyển thư từ quan trọng. Tuy còn nhỏ tuổi, nhưng anh luôn hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc, không hề nao núng trước hiểm nguy.
Trong một lần làm nhiệm vụ, để bảo vệ cán bộ cách mạng, anh đã dũng cảm đánh lạc hướng kẻ địch. Chính hành động đó đã khiến anh bị địch phát hiện và bắn trúng. Anh đã hy sinh khi mới 14 tuổi, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho mọi người.
Sự hy sinh của Kim Đồng là minh chứng cho tinh thần yêu nước của thiếu niên Việt Nam. Tấm gương của anh mãi mãi là nguồn động lực để thế hệ trẻ học tập và noi theo, sống có lý tưởng và trách nhiệm hơn với quê hương, đất nước.
Bài mẫu 10
Trong dòng chảy lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, Lý Thường Kiệt là một trong những vị tướng kiệt xuất mà tên tuổi luôn được nhắc đến với niềm tự hào. Ông không chỉ là một nhà quân sự tài ba mà còn là người có tầm nhìn chiến lược sâu sắc, góp phần bảo vệ vững chắc nền độc lập của đất nước.
Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn, sinh năm 1019 tại kinh thành Thăng Long. Ngay từ nhỏ, ông đã nổi tiếng là người thông minh, ham học hỏi và có chí hướng lớn. Ông không chỉ chăm chỉ học tập mà còn rèn luyện võ nghệ, nghiên cứu binh pháp để chuẩn bị cho việc phục vụ đất nước sau này. Nhờ tài năng và phẩm chất của mình, ông nhanh chóng được triều đình nhà Lý tin tưởng và giao phó nhiều trọng trách quan trọng.
Một trong những chiến công vang dội nhất của ông là cuộc kháng chiến chống quân Tống vào những năm 1075–1077. Trước âm mưu xâm lược của kẻ thù, Lý Thường Kiệt đã đưa ra một quyết định táo bạo: chủ động tấn công trước để làm suy yếu lực lượng địch. Ông cùng quân đội tiến đánh các căn cứ quan trọng của quân Tống, khiến chúng rơi vào thế bị động.
Sau đó, ông cho xây dựng phòng tuyến vững chắc bên bờ sông Như Nguyệt. Tại đây, quân dân ta đã kiên cường chiến đấu, ngăn chặn nhiều đợt tấn công của địch. Đặc biệt, bài thơ “Nam quốc sơn hà” được ông cho ngâm vang giữa chiến trận đã trở thành lời khẳng định đanh thép về chủ quyền dân tộc, đồng thời khích lệ tinh thần chiến đấu của quân sĩ.
Cuối cùng, quân Tống buộc phải rút lui trong thất bại. Chiến thắng này không chỉ bảo vệ nền độc lập của Đại Việt mà còn thể hiện tài năng quân sự xuất sắc của Lý Thường Kiệt. Ông đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước, trí tuệ và bản lĩnh dân tộc Việt Nam.
Bài mẫu 11
Trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam, có rất nhiều người phụ nữ đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng đất nước. Một trong những tấm gương tiêu biểu mà em vô cùng kính phục chính là bà Nguyễn Thị Định – nữ tướng tài ba của quân đội Việt Nam.
Bà Nguyễn Thị Định sinh năm 1920 tại tỉnh Bến Tre, trong một gia đình nông dân giàu truyền thống yêu nước. Ngay từ khi còn trẻ, bà đã sớm tham gia hoạt động cách mạng và nhanh chóng thể hiện được bản lĩnh, sự thông minh và tinh thần kiên cường của mình. Dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách, bà vẫn luôn giữ vững niềm tin vào con đường cách mạng.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, bà là một trong những người lãnh đạo phong trào Đồng khởi ở Bến Tre. Dưới sự chỉ huy của bà, phong trào đã phát triển mạnh mẽ, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam. Đặc biệt, bà còn xây dựng và lãnh đạo “đội quân tóc dài” – lực lượng phụ nữ tham gia đấu tranh chính trị và binh vận vô cùng hiệu quả.
Không chỉ dũng cảm trong chiến đấu, bà còn là người có tài tổ chức và lãnh đạo. Bà biết cách vận động quần chúng, kết hợp nhiều hình thức đấu tranh để đạt hiệu quả cao nhất. Chính vì vậy, bà đã được phong quân hàm Thiếu tướng – một vinh dự lớn lao, khẳng định vai trò và đóng góp to lớn của phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh.
Sau khi đất nước thống nhất, bà tiếp tục giữ nhiều trọng trách quan trọng trong bộ máy lãnh đạo, góp phần xây dựng và phát triển đất nước. Dù ở cương vị nào, bà cũng luôn tận tụy, hết lòng vì nhân dân.
Câu chuyện về bà Nguyễn Thị Định giúp em hiểu rằng phụ nữ Việt Nam không chỉ đảm đang trong cuộc sống mà còn rất kiên cường, mạnh mẽ trong chiến đấu. Tấm gương của bà là nguồn cảm hứng để thế hệ trẻ noi theo, sống có lý tưởng và trách nhiệm hơn với quê hương, đất nước.
Bài mẫu 12
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, ngày 30 tháng 4 năm 1975 là một mốc son chói lọi mà mỗi người dân đều ghi nhớ với niềm tự hào sâu sắc. Đây là ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, Bắc – Nam sum họp một nhà sau nhiều năm chiến tranh gian khổ.
Những ngày cuối tháng 4 năm 1975, không khí chiến đấu trở nên vô cùng khẩn trương. Quân ta từ nhiều hướng tiến vào Sài Gòn, vượt qua các tuyến phòng thủ dày đặc của địch. Với tinh thần quyết chiến quyết thắng, các chiến sĩ đã không quản ngại khó khăn, gian khổ, tiến lên phía trước với mục tiêu giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Sáng ngày 30 tháng 4, các cánh quân đồng loạt tiến công vào trung tâm Sài Gòn. Những chiếc xe tăng của quân giải phóng tiến nhanh về phía Dinh Độc Lập – cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ. Đến khoảng 10 giờ 45 phút, xe tăng của ta đã húc đổ cổng chính, tiến vào bên trong dinh.
Không lâu sau đó, toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn bị bắt giữ. Tổng thống Dương Văn Minh buộc phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Đến 11 giờ 30 phút, tin chiến thắng vang lên khắp nơi, báo hiệu Sài Gòn đã hoàn toàn được giải phóng.
Chiến thắng ngày 30/4/1975 không chỉ kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà còn mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc – kỷ nguyên độc lập, thống nhất và phát triển. Đây là thành quả của biết bao sự hy sinh, mất mát của các thế hệ cha anh đi trước.
Là thế hệ trẻ hôm nay, em cảm thấy vô cùng biết ơn và tự hào. Em hiểu rằng mình cần phải nỗ lực học tập, rèn luyện để góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, xứng đáng với những gì mà thế hệ trước đã hy sinh.
Bài mẫu 13
Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam, có rất nhiều tấm gương anh hùng đã hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Trong số đó, chị Võ Thị Sáu là một hình tượng đẹp, để lại trong em niềm xúc động sâu sắc và sự kính phục lớn lao.
Chị Võ Thị Sáu sinh năm 1933 tại vùng đất Đất Đỏ, thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Ngay từ khi còn nhỏ, chị đã sống trong cảnh đất nước bị thực dân xâm lược, nhân dân lầm than. Chính hoàn cảnh ấy đã sớm hun đúc trong chị lòng yêu nước và tinh thần căm thù giặc sâu sắc. Dù tuổi còn nhỏ, chị đã tham gia hoạt động cách mạng với vai trò liên lạc và trinh sát, góp phần giúp đỡ lực lượng kháng chiến.
Một trong những sự kiện tiêu biểu gắn liền với tên tuổi của chị là việc chị dũng cảm ném lựu đạn vào toán lính địch đang đàn áp nhân dân. Hành động ấy không chỉ thể hiện lòng gan dạ mà còn cho thấy ý chí kiên cường của một người con gái trẻ tuổi nhưng đầy bản lĩnh. Sau sự kiện đó, chị tiếp tục tham gia nhiều hoạt động khác cho đến khi bị địch bắt giữ.
Trong thời gian bị giam cầm, chị đã phải chịu đựng vô vàn cực hình tra tấn dã man. Kẻ thù tìm mọi cách ép chị khai ra tổ chức và đồng đội, nhưng chị vẫn kiên quyết không khuất phục. Dù bị đánh đập, tra tấn, chị vẫn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng. Tinh thần bất khuất ấy khiến kẻ thù vừa tức giận vừa khiếp sợ.
Đến năm 1952, khi mới tròn 19 tuổi, chị bị đưa ra xử bắn tại Côn Đảo. Trước họng súng của kẻ thù, chị vẫn hiên ngang, không hề run sợ. Hình ảnh người con gái trẻ bước ra pháp trường với tinh thần bình thản đã trở thành biểu tượng bất tử của lòng dũng cảm và niềm tin vào cách mạng.
Câu chuyện về chị Võ Thị Sáu khiến em vô cùng cảm phục. Chị đã hy sinh tuổi xuân của mình cho độc lập dân tộc, để thế hệ hôm nay được sống trong hòa bình. Tấm gương của chị sẽ mãi là nguồn động lực để chúng em cố gắng học tập, rèn luyện và sống xứng đáng hơn.
Bài mẫu 14
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một vị tướng tài ba, người đã góp phần quan trọng vào những chiến thắng vang dội của quân và dân ta. Một sự kiện khiến em ấn tượng sâu sắc chính là vai trò của Đại tướng trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh năm 1911 tại Quảng Bình. Ngay từ khi còn trẻ, ông đã sớm tham gia cách mạng và thể hiện tư duy sắc bén cùng lòng yêu nước mãnh liệt. Dù không được đào tạo chính quy trong quân đội, nhưng bằng sự tự học và trải nghiệm thực tiễn, ông đã trở thành một trong những nhà quân sự xuất sắc nhất của Việt Nam.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng được giao nhiệm vụ chỉ huy toàn bộ quân đội. Ban đầu, kế hoạch là “đánh nhanh thắng nhanh”, nhưng sau khi cân nhắc kỹ lưỡng tình hình thực tế, ông đã đưa ra một quyết định vô cùng quan trọng: chuyển sang phương châm “đánh chắc tiến chắc”. Quyết định này tuy khiến chiến dịch kéo dài hơn dự kiến, nhưng lại đảm bảo an toàn cho lực lượng và tăng khả năng chiến thắng.
Dưới sự chỉ huy của Đại tướng, quân ta đã từng bước bao vây, chia cắt và tiêu diệt các cứ điểm của địch. Những trận đánh diễn ra ác liệt, nhưng nhờ chiến lược hợp lý và tinh thần chiến đấu kiên cường, quân ta đã dần làm chủ tình thế. Đến ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch kết thúc thắng lợi, đánh bại hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Chiến thắng này không chỉ là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam mà còn làm chấn động thế giới. Nó khẳng định tài năng quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng như sức mạnh của một dân tộc đoàn kết, kiên cường.
Qua câu chuyện này, em càng thêm kính phục Đại tướng. Ông không chỉ là một vị tướng tài mà còn là người luôn suy nghĩ thấu đáo, đặt lợi ích của dân tộc và sinh mạng chiến sĩ lên hàng đầu. Tấm gương của ông sẽ mãi là nguồn cảm hứng cho các thế hệ sau.
Bài mẫu 15
Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có rất nhiều tấm gương anh hùng đã hy sinh vì độc lập dân tộc. Trong số đó, anh Nguyễn Văn Trỗi là một người mà em vô cùng khâm phục bởi tinh thần dũng cảm và ý chí kiên cường của anh.
Nguyễn Văn Trỗi sinh năm 1940 tại Quảng Nam, trong một gia đình lao động nghèo. Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, anh sớm nhận thức được trách nhiệm của mình đối với Tổ quốc. Anh tham gia cách mạng và trở thành một chiến sĩ biệt động Sài Gòn.
Năm 1964, anh được giao nhiệm vụ đặt mìn tại cầu Công Lý nhằm ám sát Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara khi ông này sang thăm Việt Nam. Đây là một nhiệm vụ vô cùng nguy hiểm, đòi hỏi sự dũng cảm và quyết tâm cao độ. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, anh đã bị địch phát hiện và bắt giữ.
Dù bị tra tấn dã man, anh vẫn kiên quyết không khai báo. Trước tòa án của chính quyền Sài Gòn, anh hiên ngang khẳng định lý tưởng cách mạng của mình. Những lời nói mạnh mẽ, đanh thép của anh đã khiến kẻ thù phải e sợ.
Ngày 15 tháng 10 năm 1964, anh bị đưa ra xử bắn. Trước khi hy sinh, anh vẫn giữ vững tinh thần bất khuất, không hề run sợ. Hình ảnh anh hô vang khẩu hiệu yêu nước trước lúc ra đi đã trở thành biểu tượng cho lòng dũng cảm của thanh niên Việt Nam.
Sự hy sinh của Nguyễn Văn Trỗi đã để lại trong lòng nhân dân niềm xúc động sâu sắc. Anh là tấm gương sáng về lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc.
Qua câu chuyện này, em nhận ra rằng thế hệ trẻ hôm nay cần phải biết trân trọng hòa bình, cố gắng học tập và rèn luyện để góp phần xây dựng đất nước ngày càng phát triển hơn.
Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 6 - Kết nối tri thức - Xem ngay
Các bài khác cùng chuyên mục
- (35+ mẫu) Viết bài văn thuyết minh về quy tắc hoặc luật lệ trong trò chơi hay hoạt động hay nhất - Ngữ văn 7
- (35+ mẫu) Trình bày ý kiến về một vấn đề đời sống hay nhất - Ngữ văn 7
- (35+ mẫu) Viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống (trình bày ý kiến phản đối) hay nhất - Ngữ văn 7
- (35+ mẫu) Thảo luận về vai trò của công nghệ với đời sống con người hay nhất - Ngữ văn 7
- (35+ mẫu) Viết bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến một nhân vật lịch sử hay nhất - Ngữ văn 7
- (35+ mẫu) Viết bài văn thuyết minh về quy tắc hoặc luật lệ trong trò chơi hay hoạt động hay nhất - Ngữ văn 7
- (35+ mẫu) Trình bày ý kiến về một vấn đề đời sống hay nhất - Ngữ văn 7
- (35+ mẫu) Viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống (trình bày ý kiến phản đối) hay nhất - Ngữ văn 7
- (35+ mẫu) Thảo luận về vai trò của công nghệ với đời sống con người hay nhất - Ngữ văn 7
- (35+ mẫu) Viết bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến một nhân vật lịch sử hay nhất - Ngữ văn 7




Danh sách bình luận