(35+ mẫu) Viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học hay nhất - Ngữ văn 6>
Người thầy đầu tiên là một truyện ngắn xuất sắc của Ai-tơ-ma-tốp kể về thầy giáo Đuy-sen qua hồi ức bà viện sĩ An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va, vốn là học trò trước đây của thầy Đuy-sen.
Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 6 tất cả các môn - Kết nối tri thức
Toán - Văn - Anh - KHTN...
Bài mẫu 1
Người thầy đầu tiên là một truyện ngắn xuất sắc của Ai-tơ-ma-tốp kể về thầy giáo Đuy-sen qua hồi ức bà viện sĩ An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va, vốn là học trò trước đây của thầy Đuy-sen.
Hình ảnh một người thầy tuyệt đẹp và đáng kính là cảm nhận sâu sắc nhất của mỗi chúng ta khi đọc truyện ngắn này. Khi đến vùng núi quê hương của cô bé An-tư-nai. Thầy Đuy-sen còn trẻ lắm. Học vấn của thầy lúc đó chưa cao, nhưng trái tim thầy dạt dào tình nhân ái và sôi sục nhiệt tình cách mạng. Một mình thầy lao động hằng tháng trời, phạt cỏ, trát lại vách, sửa cánh cửa, quét dọn cái sân..., biến cái chuồng ngựa của phú nông hoang phế đã lâu ngày thành một cái trường khiêm tốn nằm bên hẻm núi, cạnh con đường vào cái làng nhỏ của người Kir-ghi-di, vùng Trung Á nghèo nàn lạc hậu
Khi An-tư-nai và các bạn nhỏ đến thăm trường với bao tò mò “xem thử thầy giáo đang làm gì, ở đấy cũng hay” thì thấy thầy “từ trong cửa bước ra, người bê bết đất”. Thầy Đuy-sen “mỉm cười, niềm nở” quệt mồ hôi trên mặt, rồi ôn tồn hỏi: “Đi đâu về thế, các em gái”. Trước các “vị khách” nhỏ tuổi, thầy hiền hậu nói: “Các em ghé vào đây xem là hay lắm, các em chả sẽ học tập ở đây là gì? Còn trường của các em thì có thể nói là đã xong đến nơi rồi...?”
Đuy-sen đúng là một người thầy vĩ đại, cử chỉ của thầy rất hồn nhiên. Thầy hiền hậu nói lên những lời ấm áp lay động tâm hồn tuổi thơ. Mới gặp các em nhỏ xa lạ lần đầu mà thầy đã nhìn thấy, đã thấu rõ cái khao khát muốn được học hành của các em: “các em chả sẽ học tập ở đây là gì?” Thầy “khoe” với các em về chuyện đắp lò sưởi trong mùa đông..., thầy báo tin vui trường học đã làm xong “có thể bắt đầu học được rồi”. Thầy mời chào hay khích lệ? Thầy nói với các em nhỏ người dân tộc miền núi chưa từng biết mái trường là gì bằng tất cả tình thương mênh mông: “Thế nào, các em có thích học không? Các em sẽ đi học chứ?”
Thầy Đuy-sen quả là có tài, giàu kinh nghiệm sư phạm. Chỉ sau một vài phút gặp gỡ, vài câu nói nhẹ nhàng, thầy đã chiếm lĩnh tâm hồn tuổi thơ. Thầy đã khơi dậy trong lòng các em nhỏ người miền núi niềm khao khát được đi học.
Với An-tư-nai, thầy nhìn thấu tâm can em, cảm thông cảnh ngộ mồ côi của em, thầy an ủi và khen em một cách chân tình: “An-tư-nai, cái tên hay quá, mà em thì chắc là ngoan lắm phải không?”. Câu nói ấy cùng với nụ cười hiền hậu của Đuy-sen đã khiến cho cô gái dân tộc thiểu số bé nhỏ, bất hạnh “thấy lòng ấm hẳn lại”.
Đuy-sen là người thầy đầu tiên, người thầy khai tâm khai sáng cho An-tư- nai. Thầy hiền hậu, thầy yêu thương tuổi thơ. Thầy đã đốt cháy lên trong lòng các em ngọn lửa nhiệt tình khát vọng và khát vọng đi học. Đuy-sen là hình ảnh tuyệt đẹp của một ông thầy tuổi thơ. Con đường tuổi trẻ là con đường học hành. Trên con đường đầy nắng đẹp ấy, anh chị và mỗi chúng ta sẽ được dìu dắt qua nhiều thầy, cô giáo. Cũng như An-tư-nai, trong tâm hồn mỗi chúng ta luôn luôn chói ngời những người thầy, những Đuy-sen cao đẹp.
Ai-ma-tốp đã viết nên một truyện ngắn dưới dạng hồi ức chân thực, cảm động. Hình ảnh Đuy-sen – người thầy đầu tiên và hình ảnh An-tư-nai, cô bé mồ côi khát khao được đi học, được tác giả nói đến với tất cả sự ca ngợi, với niềm thương mến bao la. Người thầy trong truyện ngắn là người thầy của tình thương đến với tuổi thơ, đem ánh sáng cách mạng làm thay đổi mọi cuộc đời. Ngọn lửa tình thương như toả sáng trang văn Ai-ma-tốp, mãi mãi làm ấm áp lòng người. Thầy Đuy-sen càng trở nên gần gũi trong niềm thương mến của tuổi thơ chúng ta.
Bài mẫu 2
Phân tích đặc điểm nhân vật Tấm
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, có rất nhiều câu chuyện cổ tích hay, để lại nhiều bài học sâu sắc và ý nghĩa. Truyện Tấm Cám là một trong số những tác phẩm như thế, nhân vật cô Tấm là điển hình cho vẻ đẹp của phụ nữ Việt Nam, vừa đẹp người lại đẹp nết, dù sống trong hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn giữ được tính cách nhân hậu, đảm đang, chính vì thế nàng đã có được hạnh phúc sau cùng.
Xây dựng lên Tấm là một cô gái mồ côi cha mẹ, phải sống với mẹ con dì ghẻ. Tấm bị bắt làm việc vất vả, nặng nhọc và bị đối xử bất công. Có thể nhận thấy được chính với hoàn cảnh Tấm tiêu biểu cho hoàn cảnh của người con riêng trong chuyện cổ tích. Thế nhưng Tấm lại có phẩm chất hiền lành, chăm chỉ chịu thương chịu khó. Tấm chính là hiện thân cho cái thiện, cái đẹp ở người lao động. Hình ảnh cô Tấm hiền lành chăm chỉ là thế nhưng phải chịu đựng, cam chịu sự đày đọa bất công của mẹ con Cám. Tấm đã phải làm việc vất vả còn Cám thì được nuông chiều. Giỏ tép do chính Tấm bắt cực nhọc lại bị Cám cướp mất, chính Cám đã cướp đi thành quả lao động của Tấm. Cho đến khi cả khi làng mở hội thì Tấm cũng ngoan ngoãn làm theo lời dì dặn mà không cãi lại cũng không dám chốn đi. Lúc này đây thì Tấm lại khóc và con người hiền lành ấy cũng được bụt giúp đỡ, khi Tấm đã trở thành hoàng hậu thì Tấm vẫn bị mẹ con Cám hãm hại hết lần này đến lần khác. Với ngôi vị hoàng hậu và cuộc sống giàu sang cũng chưa đủ để cứu Tấm khỏi âm mưu hãm hại của dì ghẻ. Thế rồi không chỉ thế Tấm đã rất nhiều lần chết đi sống lại và hóa thân vào nhiều thứ từ hóa thân thành chim vàng anh, rồi thành cây xoan đào, hay cũng là hiện hình vào khung cửi rồi vào quả thị và trở thành người. Cô Tấm luôn luôn phản kháng quyết liệt hóa thân và hồi sinh để đấu tranh giành sự sống và hạnh phúc.
Hình ảnh đẹp của Tấm mà giúp chúng ta hiểu hơn phần nào cuộc sống của người lao động trong xã hội cũ. Những con người này thấp cổ bé họng và bỗng nhiên bị trà đạp bất công và không có quyền nói lên tiếng nói của mình. Chính vì thế mà họ gửi những ước mơ của mình, niềm tin vào cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn vào trong cổ tích bình chứa ước mơ của dân gian xưa.
Bài mẫu 3
Phân tích đặc điểm nhân vật Em bé thông minh
“Em bé thông minh” là một trong những truyện cổ tích nổi tiếng trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Tác phẩm đã đề cao trí tuệ nhân dân thông qua nhân vật em bé thông minh.
Nhân vật em bé trong truyện được đặt vào rất nhiều các thử thách. Lần thứ nhất là câu đố của viên quan đưa ra câu hỏi: “Trâu một ngày cày được mấy đường – câu trả lời của cậu bé: “Ngựa của ông một ngày đi được mấy bước”. Tiếp đến, vua đưa ra câu đó với dân làng “Phải nuôi ba trâu đực để chúng thành chín con”, thì cách giải quyết của cậu bé là khóc lóc, trình bày với vua rằng cha không chịu đẻ em bé. Mục đích là để cho vua thừa nhận yêu cầu của mình là vô lí. Lần thứ ba, vua lại đặt ra thử thách phải sẻ một con chim sẻ làm thành ba mâm cỗ – câu trả lời: một chiếc kim may làm thành con dao xẻ thịt chim. Cuối cùng là câu đố của sứ giả nước láng giềng: phải xâu được một sợi chỉ qua con ốc. Cậu bé đã giải quyết bằng cách hát một bài đồng dao có câu trả lời: buộc sợi chỉ vào con kiến, một bên bịt lại, bôi mỡ một bên, kiến sẽ mang sợi chỉ sang.
Việc tạo ra thử thách để nhân vật bộc lộ được tài năng, phẩm chất và trí thông minh của mình. Đây là một yếu tố không thể thiếu với truyện cổ tích kiểu nhân vật thông minh. Đồng thời, các thử thách cũng nhằm tạo tình huống cho sự phát triển tính cách của nhân vật cũng như sự phát triển của cốt truyện.
Với mỗi thử thách, em bé đều có cách giải quyết của cậu bé đầy thú vị. Đó là dùng cách “gậy ông đập lưng ông”, để người đưa ra câu đố tự cảm thấy phi lý. Cách giải quyết thể hiện kinh nghiệm đời sống phong phú. Có thể thấy rằng cách giải quyết của cậu bé đầy thú vị: dùng cách “gậy ông đập lưng ông”, để người đưa ra câu đố tự cảm thấy phi lý. Cách giải quyết thể hiện kinh nghiệm đời sống phong phú.
Việc tạo ra thử thách để nhân vật bộc lộ được tài năng, phẩm chất và trí thông minh của mình. Đây là một yếu tố không thể thiếu với truyện cổ tích kiểu nhân vật thông minh. Đồng thời, các thử thách cũng nhằm tạo tình huống cho sự phát triển tính cách của nhân vật cũng như sự phát triển của cốt truyện.
Với mỗi thử thách, em bé đều có cách giải quyết của cậu bé đầy thú vị. Đó là dùng cách “gậy ông đập lưng ông”, để người đưa ra câu đố tự cảm thấy phi lý. Cách giải quyết thể hiện kinh nghiệm đời sống phong phú. Có thể thấy rằng cách giải quyết của cậu bé đầy thú vị: dùng cách “gậy ông đập lưng ông”, để người đưa ra câu đố tự cảm thấy phi lý. Cách giải quyết thể hiện kinh nghiệm đời sống phong phú.
Bài mẫu 4
Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ là một trong số ít những tác phẩm giàu chất nhân văn viết về tình cha con. Trong truyện này, tác giả đã khéo léo xây dựng nhiều nhân vật: người con, người cha, thằng Tí, bà Sáu… Tuy nhiên, nhân vật để lại nhiều ấn tượng sâu sắc nhất đối với tôi vẫn là người cha, bởi cách ông dạy dỗ, yêu thương con và giao hòa với thiên nhiên đã để lại nhiều bài học ý nghĩa.
Nhân vật người cha xuất hiện song hành với người con xuyên suốt câu chuyện. Trong mắt người con, cha hiện lên là một người chăm chỉ, đảm đang, gần gũi với con: “Bố trồng nhiều hoa, bố làm cho tôi cái bình tưới nhỏ bằng thùng sơn, hai bố con cùng nhau tưới hoa”. Hình ảnh này cho thấy sự đồng hành, quan tâm tinh tế của người cha, đồng thời cũng mở ra không gian ấm áp về tình cảm gia đình. Người cha không chỉ là người lao động cần cù mà còn là người thầy dẫn dắt con bằng phương pháp giáo dục đặc biệt. Thay vì dạy lý thuyết khô khan, ông luôn hướng con học hỏi qua thực hành và trải nghiệm trực tiếp. Hàng ngày, bố yêu cầu con nhắm mắt, sờ và đoán các loài hoa trong vườn. Ban đầu, người con chỉ đoán được một hoặc hai loại, nhưng dần dà đã nhận ra hết các loài hoa, đồng thời thuộc lòng khu vườn, có thể đi mà không chạm vào vật gì. Khi con đã thành thạo, người cha nâng cấp trò chơi: lần này là đoán tên các loài hoa bằng mùi hương. Cách dạy này không chỉ giúp con nhận biết hoa mà còn rèn luyện các giác quan, khả năng quan sát và tập trung. Qua đó, người đọc nhận thấy phương pháp giáo dục tỉ mỉ và sáng tạo của người cha, đồng thời cảm nhận được tình yêu thiên nhiên và sự trân trọng những điều giản dị mà ông truyền đạt cho con.
Bên cạnh đó, người cha còn là người sống tình cảm và có hiểu biết rộng. Khi con thích gọi tên thằng Tí, bố giải thích: “Mỗi cái tên là một âm thanh tuyệt diệu. Người càng thân với mình bao nhiêu thì âm thanh đó càng tuyệt diệu bấy nhiêu”. Lời giải thích này không chỉ dạy con về sự quan tâm, gắn bó mà còn giúp trẻ hiểu được giá trị sâu sắc của ngôn ngữ và tên gọi. Khi thằng Tí đem cho ổi, dù không thích nhưng bố vẫn ăn và giải thích: “Một món quà bao giờ cũng đẹp. Khi ta nhận hay cho một món quà, ta cũng đẹp lây vì món quà đó”. Câu nói này cho thấy người cha đánh giá cao tấm lòng và sự chân thành của người tặng. Chính cách ông đón nhận món quà thể hiện sự tôn trọng và giáo dục con về lòng biết ơn, tinh thần trân trọng giá trị vật chất lẫn tinh thần. Như vậy, tình cảm cha con trong truyện không chỉ được thể hiện qua những hành động hằng ngày mà còn hiện lên trong những bài học sâu sắc về nhân cách và đạo đức.
Người cha được khắc họa qua nhiều phương diện: hành động, cử chỉ, lời nói, cảm xúc, suy nghĩ, và mối quan hệ với những nhân vật khác như thằng Tí, bà Sáu hay hàng xóm. Những chi tiết đặc sắc như cha nhảy xuống cứu thằng Tí, cầm hai chân dốc ngược, hay trò chơi đoán hoa bằng giác quan đều thể hiện sự sáng tạo, tình yêu thương và sự tỉ mỉ của người cha. Ngôi kể thứ nhất, từ góc nhìn của người con, giúp câu chuyện vừa hồn nhiên, chân thực, vừa dễ bộc lộ cảm xúc, tình cảm: “Bố cười khà khà khen tiến bộ lắm, bố tôi bơi giỏi lắm…”.
Xây dựng nhân vật người cha song hành cùng người con không chỉ phản ánh tình cảm gia đình gắn bó mà còn nhấn mạnh bài học về phương pháp giáo dục hiện đại: học bằng trải nghiệm thực hành. Đồng thời, tác giả cũng gửi gắm thông điệp tới các bậc cha mẹ về việc gần gũi, tạo môi trường lành mạnh cho con, đặc biệt trong thời đại công nghệ số, trẻ em dễ bị cuốn vào điện thoại, ipad. Việc hướng con gần gũi thiên nhiên, trải nghiệm thực tế là điều vô cùng cần thiết để hình thành nhân cách và cảm xúc của trẻ.
Nhân vật người cha để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng tôi không chỉ bởi tình yêu thương chân thành mà còn bởi cách dạy con, cách chia sẻ những giá trị sống và hướng dẫn con hiểu thế giới xung quanh. Qua nhân vật này, người đọc học được cách yêu thương, quan tâm, tạo môi trường giáo dục tích cực cho trẻ, đồng thời biết trân trọng những giá trị nhỏ bé trong cuộc sống. Thầm nghĩ, sau này, tôi cũng sẽ dạy dỗ và gần gũi con cái mình như người cha trong Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ, để mỗi ngày trôi qua là một ngày con được yêu thương, học hỏi và trưởng thành.
Bài mẫu 5
Phân tích vẻ đẹp thiên nhiên trong tác phẩm văn học
Thiên nhiên luôn là nguồn cảm hứng dồi dào cho văn học Việt Nam. Trong nhiều tác phẩm, thiên nhiên không chỉ hiện lên như bối cảnh mà còn mang giá trị biểu tượng, phản ánh tâm trạng, cảm xúc của nhân vật hoặc nhấn mạnh thông điệp của tác giả. Ví dụ, trong bài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận, hình ảnh sông nước mênh mông, bến cô liêu và trời chiều nhấn mạnh nỗi cô đơn, trống trải của con người trước vũ trụ bao la.
Huy Cận đã sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ và hoán dụ để tạo nên một bức tranh thiên nhiên vừa thực vừa ẩn chứa tâm trạng. “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp” là câu thơ mở đầu, vừa miêu tả sự vật vừa gợi nỗi lòng nhân vật trữ tình. Sóng trào lên, nhấn chìm bến bờ, nhấn mạnh sự vắng lặng và cô độc. Sự lặp lại của từ “điệp điệp” tạo nhịp điệu lặp, vừa gợi âm vang của sóng, vừa nhấn mạnh nỗi buồn kéo dài, dai dẳng, thể hiện tâm trạng lạc lõng của con người trong thiên nhiên mênh mông. Thiên nhiên trong Tràng Giang không chỉ là cảnh vật mà còn là tâm hồn, đồng thời thể hiện vẻ đẹp vừa trữ tình vừa bi thương của con người trước cuộc sống.
Những hình ảnh “sóng” và “bến” còn mang ý nghĩa biểu tượng. Sóng như biểu hiện của dòng chảy thời gian, bến như nơi neo đậu, nơi con người tìm đến để nghỉ ngơi và tìm cảm giác an toàn. Nhưng trong Tràng Giang, bến lại trống vắng, hiu quạnh, tạo nên một mối tương phản sâu sắc giữa con người và thiên nhiên, khiến nỗi cô đơn trở nên nổi bật. Cách Huy Cận kết hợp yếu tố âm thanh, nhịp điệu, màu sắc và hình ảnh làm cho bức tranh thiên nhiên trở nên sống động, đồng thời gợi nhiều suy ngẫm về sự mong manh, hữu hạn của đời người trước sự rộng lớn, vô tận của vũ trụ.
Thiên nhiên trong tác phẩm không chỉ là công cụ nghệ thuật mà còn là phương tiện biểu đạt cảm xúc tinh tế. Nó cho thấy sự hòa quyện giữa con người và vũ trụ, vừa tách biệt, cô đơn nhưng cũng mang tính chiêm nghiệm và thi vị. Điều này giúp người đọc cảm nhận sâu sắc hơn nỗi niềm con người và giá trị nhân sinh mà tác giả muốn gửi gắm. Qua việc quan sát, phân tích Tràng Giang, ta nhận thấy rằng thiên nhiên trong văn học không chỉ để trang trí bối cảnh mà còn là phương tiện khám phá tâm hồn con người, giúp nhân vật trữ tình và người đọc đồng cảm với cảm xúc của họ.
Từ đó, bài học rút ra là thiên nhiên trong văn học không chỉ để ngắm mà còn để suy ngẫm, để cảm nhận và để học hỏi. Nó giúp con người nhìn thấy nỗi cô đơn, sự trống trải, nhưng đồng thời cũng hướng tới sự chiêm nghiệm, tìm kiếm ý nghĩa trong cuộc sống. Khi đọc Tràng Giang, ta thấy thiên nhiên vừa đẹp vừa buồn, vừa sống động vừa trầm lặng, phản chiếu đúng cái nhìn sâu sắc và tinh tế của Huy Cận về thế giới xung quanh và thế giới nội tâm của con người.
Bài mẫu 6
Truyện “Dế Mèn phiêu lưu ký” là tác phẩm nổi tiếng của Tô Hoài, đặc sắc ở việc khắc họa tính cách và bài học sống thông qua hành trình phiêu lưu của Dế Mèn. Chương mở đầu “Bài học đường đời đầu tiên” tập trung miêu tả Dế Mèn với cả ngoại hình và tính cách.
Dế Mèn là chú dế khỏe mạnh, tự tin, có lối sống khoa học và tràn đầy sức sống: “Bởi tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm”. Tô Hoài miêu tả thân hình cường tráng, vuốt chân nhọn, khiến Dế Mèn trở nên sinh động, thực tế và gần gũi với tuổi trẻ, thể hiện sự tự hào về bản thân. Cách đi đứng của Dế Mèn “trịnh trọng, khoan thai” làm nổi bật sự tự tin và kiêu hãnh của tuổi trẻ.
Tuy nhiên, tính cách tự tin thái quá dẫn đến sự kiêu căng, ngông cuồng, dám trêu đùa người khác mà không suy nghĩ hậu quả. Chú dùng sức mạnh để trêu hàng xóm, không biết giúp đỡ hay nhận lỗi. Sự kiêu căng này khiến Dế Choắt, chú bạn yếu ớt hơn, gánh chịu hậu quả nặng nề từ trò đùa. Qua đó, tác giả gửi gắm bài học quan trọng: sự tự tin cần đi kèm khiêm tốn, và việc nhận ra lỗi lầm, sửa sai là điều quan trọng.
Dế Mèn còn thể hiện sự trưởng thành qua trải nghiệm và nhận thức về hậu quả hành động. Trước Dế Choắt, Dế Mèn học được giá trị của sự tôn trọng, quan tâm và giúp đỡ người khác. Những bài học này không chỉ dành cho chú dế mà còn ẩn dụ cho con người, nhắc nhở trẻ em về tình bạn, trách nhiệm và sự cảm thông.
Bằng nghệ thuật nhân hóa tinh tế và bút pháp miêu tả sinh động, Tô Hoài không chỉ tạo hình ảnh một chú dế mà còn lồng ghép bài học sống sâu sắc. Dế Mèn trở thành biểu tượng của tuổi trẻ, với năng lượng, khát vọng và cả sự học hỏi từ trải nghiệm, góp phần rút ra bài học về khiêm tốn, tình bạn và trách nhiệm xã hội.
Bài mẫu 7
Người thầy đầu tiên là truyện ngắn xuất sắc của Ai-ma-tốp kể về thầy giáo Đuy-sen qua hồi ức của bà viện sĩ An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va, học trò của thầy. Nhân vật thầy Đuy-sen hiện lên là hình ảnh người thầy tận tụy, giàu lòng nhân ái và đầy tâm huyết.
Thầy Đuy-sen khi còn trẻ đã mang trong mình nhiệt huyết cách mạng và tinh thần trách nhiệm cao với sự nghiệp giáo dục. Một mình thầy lao động hằng tháng trời để biến một chuồng ngựa hoang phế thành trường học khiêm tốn cho trẻ em dân tộc Kir-ghi-di. Những chi tiết thầy phạt cỏ, quét sân, trát vách, sửa cửa đều được miêu tả tỉ mỉ, khiến người đọc cảm nhận rõ sự kiên nhẫn, cần mẫn và lòng yêu nghề của thầy. Không chỉ giỏi lao động, thầy còn thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến từng học trò, luôn quan sát để hiểu tâm lý và nhu cầu của các em.
Tác giả khéo léo miêu tả sự hồn nhiên, hiền hậu trong cử chỉ, lời nói của thầy. Khi gặp các em nhỏ lần đầu, thầy mỉm cười, quệt mồ hôi và trò chuyện nhẹ nhàng, hỏi thăm các em với sự quan tâm chân thành: “Các em ghé vào đây xem là hay lắm, các em sẽ học tập ở đây là gì?”. Qua những hành động và lời nói này, Đuy-sen không chỉ thể hiện sự gần gũi mà còn khơi dậy niềm khao khát học tập trong lòng các em.
Thầy Đuy-sen còn là tấm gương sáng về phương pháp giáo dục. Thầy không chỉ truyền kiến thức mà còn giáo dục các em về phẩm chất, lòng yêu thương và trách nhiệm. Ví dụ, thầy quan tâm đến hoàn cảnh của An-tư-nai, cô bé mồ côi, thấu hiểu nỗi khổ của em và khích lệ em phát triển. Qua đó, tác giả gửi gắm thông điệp về tầm quan trọng của người thầy trong việc khai tâm, khai sáng và truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ.
Nhân vật thầy Đuy-sen còn biểu hiện vẻ đẹp trong việc khơi dậy niềm say mê học tập và rèn luyện tinh thần vượt khó. Những hành động nhỏ như cõng học trò qua suối trong mùa đông giá lạnh hay cùng các em chuẩn bị lớp học đều mang giá trị nhân văn sâu sắc. Thầy trở thành hình ảnh biểu tượng của người thầy tận tâm, vừa dạy chữ vừa dạy đời, vừa quan tâm đến tâm hồn vừa giáo dục trí tuệ.
Qua hình ảnh Đuy-sen, Ai-ma-tốp muốn nhắn nhủ rằng người thầy không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là tấm gương về đạo đức, tình thương và niềm hy vọng. Thầy Đuy-sen để lại trong lòng học trò niềm kính trọng, tình yêu thương và cả ý thức về giá trị cuộc sống. Nhân vật này gợi nhắc mỗi chúng ta về vai trò của những người thầy trong việc hình thành nhân cách và ươm mầm tri thức cho thế hệ trẻ.
Bài mẫu 8
Truyện “Chiếc lá cuối cùng” của O. Henry là một tác phẩm ngắn nhưng giàu ý nghĩa nhân văn, xoay quanh câu chuyện về cô họa sĩ trẻ Johnsy bị bệnh nặng và mất niềm tin vào sự sống. Tác giả dùng hình ảnh chiếc lá trên tường làm biểu tượng của hy vọng, nghị lực sống và tình bạn.
Johnsy bị viêm phổi nặng, nằm liệt giường và chỉ chăm chăm nhìn chiếc lá trên tường bên ngoài cửa sổ, cho rằng khi chiếc lá cuối cùng rơi xuống, cô sẽ chết. Tâm lý bi quan của cô được miêu tả tinh tế qua lời nói và cử chỉ: “Khi chiếc lá cuối cùng rơi, tôi cũng sẽ ra đi theo nó”. Qua đó, O. Henry phơi bày sự mỏng manh của con người trước nỗi sợ hãi, bệnh tật và tuyệt vọng.
Nhân vật Behrman – họa sĩ già sống cùng khu phố – là biểu tượng của tình người, lòng vị tha và sự hy sinh. Dù cuộc sống khó khăn, ông vẫn dành trọn đam mê cho nghệ thuật và sẵn sàng hi sinh vì người khác. Khi Johnsy đang mất niềm tin, Behrman đã vẽ một chiếc lá thật trên tường vào đêm mưa gió để Johnsy nhìn thấy, tưởng là chiếc lá thật không rơi. Hành động này cứu sống cô, dù chính ông đã lâm bệnh và qua đời sau đó.
Tác phẩm nhấn mạnh sức mạnh của niềm tin, tình thương và sự hy sinh. Chiếc lá trở thành biểu tượng của hy vọng: nó nhắc nhở con người rằng đôi khi sự sống cần một điểm tựa tinh thần, một niềm tin, và có những hành động thầm lặng nhưng mang giá trị to lớn. O. Henry không chỉ kể chuyện mà còn gửi thông điệp giáo dục về lòng vị tha, sự quan tâm đến người khác và niềm tin vào cuộc sống.
Qua câu chuyện, người đọc nhận ra rằng trong những thời khắc khó khăn nhất, tinh thần và niềm tin có thể quan trọng hơn cả sức khỏe thể chất. Behrman đã dạy cho Johnsy và cả độc giả bài học về tình bạn, trách nhiệm và sự hy sinh thầm lặng. Truyện kết thúc đầy cảm động, khiến người đọc suy ngẫm về giá trị của mỗi hành động tử tế, dù nhỏ bé nhưng có thể cứu sống cả một con người về mặt tinh thần.
Bài mẫu 9
Truyện “Những tấm lòng cao cả” của A. Téc-cốp là tập hợp các câu chuyện ngắn về lòng tốt, sự tử tế và tinh thần nhân văn. Một trong những câu chuyện nổi bật kể về nhân vật Yêu-nu-đi, cậu bé nghèo nhưng giàu lòng nhân hậu.
Yêu-nu-đi sống trong hoàn cảnh thiếu thốn, thường xuyên phải đối mặt với đói khát và khó khăn vật chất. Tuy nhiên, cậu vẫn sẵn sàng giúp đỡ người khác, chia sẻ những gì mình có, và luôn quan tâm đến cảm xúc của mọi người xung quanh. Cách tác giả miêu tả suy nghĩ, hành động và cử chỉ của Yêu-nu-đi khiến người đọc cảm nhận rõ ràng sự chân thành và lòng thiện lương. Ví dụ, khi một người hàng xóm bị ốm, Yêu-nu-đi đã lén mang đồ ăn đến, không để ai biết, hành động này vừa âm thầm vừa đầy tính nhân văn.
Tác phẩm khắc họa sự tương phản giữa những người chỉ quan tâm đến bản thân và những tấm lòng cao cả như Yêu-nu-đi. Qua đó, Téc-cốp nhấn mạnh rằng phẩm chất con người không đo bằng vật chất mà bằng tình thương, sự quan tâm và hành động vì lợi ích của người khác. Những câu chuyện trong tập sách đều khéo léo lồng ghép bài học đạo đức: lòng tốt luôn được đền đáp, và hành động tử tế dù nhỏ bé cũng có thể thay đổi cuộc sống người khác.
Điểm đặc sắc của truyện là ngôn từ giản dị, gần gũi nhưng giàu cảm xúc. Tác giả không đi sâu vào bi kịch, mà tập trung vào chi tiết đời thường, giúp bài học trở nên dễ tiếp thu và có sức lan tỏa. Truyện giúp người đọc, đặc biệt là trẻ em và thanh thiếu niên, nhận ra giá trị của lòng tốt, sự sẻ chia, tinh thần nhân văn và tấm lòng biết quan tâm đến cộng đồng.
Nhân vật Yêu-nu-đi và các tấm lòng cao cả khác trong tác phẩm trở thành hình mẫu cho độc giả về lòng nhân ái và tinh thần sống đẹp. Những câu chuyện này còn nhắc nhở rằng cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn khi con người biết yêu thương, quan tâm và hành động vì người khác, ngay cả khi bản thân còn gặp khó khăn.
Bài mẫu 10
“Hai đứa trẻ” của Thạch Lam là truyện ngắn nổi tiếng miêu tả cuộc sống nghèo khó của những con người ở làng quê Bắc Bộ, qua góc nhìn của hai nhân vật chính là chị Liên và em trai. Truyện khắc họa sự giản dị, tinh tế và những tâm tư kín đáo của con người giữa cảnh đời thiếu thốn.
Chị Liên và em trai sống trong một gia đình nghèo, nhưng đầy ắp tình cảm yêu thương. Thạch Lam tập trung khắc họa tâm lý nhân vật thông qua những chi tiết nhỏ nhặt trong sinh hoạt đời thường: những con đường lầy lội, ánh đèn leo lét, tiếng ve kêu ngoài hè, hay gió lạnh thổi qua cánh đồng. Không gian này vừa hiện thực, vừa lãng mạn, tạo nên bức tranh về làng quê yên bình nhưng cũng đầy trăn trở.
Tác phẩm không chỉ là bức tranh hiện thực mà còn là tiếng nói tâm lý nhân văn. Chị Liên quan tâm em trai, luôn cố gắng giữ niềm vui và hy vọng trong cuộc sống khó khăn. Sự nhạy cảm và tinh tế của hai đứa trẻ được thể hiện qua những chi tiết tưởng chừng nhỏ nhưng giàu ý nghĩa, như niềm thích thú khi nhìn thấy ánh đèn đường, hay cảm giác xa xăm khi ngắm trăng. Thạch Lam sử dụng ngôn từ nhẹ nhàng, giàu chất thơ, khiến câu chuyện trở nên sâu lắng và giàu cảm xúc.
Thông điệp của truyện nhấn mạnh vẻ đẹp tâm hồn con người và giá trị của tình cảm gia đình, tình thương giữa con người với con người, ngay cả khi vật chất thiếu thốn. Truyện khiến người đọc nhận ra rằng hạnh phúc đôi khi không đến từ giàu sang mà từ sự quan tâm, sẻ chia và tinh thần lạc quan trong cuộc sống thường nhật.
Bài mẫu 11
Truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao là một trong những tác phẩm tiêu biểu phản ánh cuộc sống khó khăn, khổ cực của người nông dân Việt Nam trong xã hội phong kiến thập niên đầu thế kỷ XX, đồng thời khắc họa sâu sắc những mâu thuẫn đạo đức, tình cảm gia đình và sự tự trọng của con người. Nhân vật trung tâm, Lão Hạc, là hình tượng đặc trưng của người nông dân hiền lành, chất phác nhưng phải chịu nhiều áp lực từ hoàn cảnh và xã hội.
Lão Hạc sống một cuộc đời nghèo khó, đơn độc sau khi vợ mất và con trai phải rời làng đi làm ăn xa. Ông gắn bó sâu sắc với mảnh vườn nhỏ và chú chó vàng – người bạn duy nhất của ông. Tình cảm của Lão Hạc dành cho con trai và chú chó phản ánh phẩm chất nhân hậu, lòng yêu thương và sự gắn bó với những gì gần gũi, thân thuộc. Tuy nhiên, hoàn cảnh éo le đã đẩy Lão Hạc vào những quyết định đầy bi kịch. Khi phải bán mảnh đất cuối cùng để nuôi con, Lão Hạc cũng phải bán đi chú chó – niềm an ủi duy nhất của ông. Cảnh bán chó được miêu tả với ngôn từ tinh tế, vừa gợi nỗi đau, vừa bộc lộ tình cảm chân thành của Lão Hạc. Qua đó, Nam Cao không chỉ khắc họa thực tế đời sống nông dân mà còn phản ánh xung đột nội tâm sâu sắc của con người: giữa tình cảm và hoàn cảnh, giữa nhu cầu sống và phẩm giá cá nhân.
Bối cảnh xã hội trong “Lão Hạc” là một miền quê nghèo, nơi người dân phải vật lộn với đói nghèo, áp bức và những chuẩn mực đạo đức khắt khe. Nam Cao miêu tả cuộc sống của Lão Hạc với nhiều chi tiết thực tế: cảnh đồng ruộng cằn cỗi, những buổi đi làm mệt nhọc, nỗi lo toan hàng ngày để tồn tại. Những chi tiết này vừa hiện thực, vừa giàu tính biểu tượng, làm nổi bật bi kịch của con người khi phải đối mặt với số phận bất công.
Xung đột trong truyện không chỉ diễn ra trong xã hội mà còn thể hiện rõ trong nội tâm Lão Hạc. Ông vừa khao khát được sống, vừa sợ bị người khác coi thường. Lão Hạc không muốn con trai vì thương cha mà phải chịu khổ; ông cũng không muốn bán chú chó, nhưng hoàn cảnh bắt buộc. Quyết định cuối cùng, tự tử bằng thuốc phiện, vừa là sự giải thoát, vừa là biểu hiện của phẩm giá, lòng tự trọng và tình yêu thương trọn vẹn dành cho con. Nam Cao qua đó muốn nhấn mạnh bi kịch của những con người bị đẩy vào đường cùng, nơi cái chết đôi khi trở thành cách duy nhất để giữ lại nhân phẩm.
Thông điệp mà “Lão Hạc” gửi gắm là sâu sắc và đa tầng. Tác phẩm khắc họa nỗi khổ của người nông dân, đồng thời tôn vinh phẩm chất đạo đức, lòng tự trọng và tình thương giữa con người. Nam Cao mời gọi người đọc đồng cảm, suy ngẫm về sự bất công trong xã hội, về những giá trị nhân văn bị đe dọa trong đời sống khó khăn. Lão Hạc là hình tượng nhân văn điển hình, khiến người đọc vừa thương cảm vừa trân trọng tinh thần của con người trước những thử thách nghiệt ngã.
Ngoài ra, truyện còn gợi ra những suy ngẫm về trách nhiệm xã hội. Cuộc đời Lão Hạc là minh chứng cho sự thiếu thốn của cộng đồng và hệ thống xã hội, nơi người nghèo luôn bị đẩy vào bi kịch. Nam Cao không chỉ kể câu chuyện cá nhân mà còn muốn cảnh tỉnh xã hội về những bất công và tầm quan trọng của tình người, sự cảm thông và sẻ chia.
Nhìn chung, “Lão Hạc” là một tác phẩm sâu sắc, giàu cảm xúc, phản ánh chân thực cuộc sống người nông dân và những bi kịch nội tâm trong xã hội phong kiến. Qua nhân vật Lão Hạc, Nam Cao truyền tải những giá trị đạo đức, nhân văn vượt thời gian: tình thương, phẩm giá, tự trọng và lòng trung thực. Truyện không chỉ là bức tranh hiện thực mà còn là lời nhắc nhở về trách nhiệm, tình người và sự công bằng trong xã hội.
Bài mẫu 12
Truyện ngắn “Vợ Nhặt” của Kim Lân là một tác phẩm tiêu biểu phản ánh nạn đói năm 1945 ở Việt Nam, đồng thời khắc họa cuộc sống và tâm lý của người dân nghèo trước bi kịch khủng khiếp của lịch sử. Nhân vật trung tâm là Tràng – một người đàn ông nghèo, sống đơn độc, vốn chỉ lo bản thân tồn tại qua ngày. Khi gặp người phụ nữ vô danh trong cơn đói, Tràng bất ngờ “nhặt” được vợ, và từ đó cuộc đời anh bắt đầu thay đổi theo cách vừa bất ngờ vừa đầy xúc động.
Kim Lân xây dựng bối cảnh xã hội trong truyện vô cùng chân thực và sống động: nạn đói lan rộng khắp làng quê, người dân lầm than, cảnh tượng đói rét, chết chóc tràn ngập. Ngôn ngữ giản dị nhưng giàu hình ảnh khiến người đọc cảm nhận được cái đói thấu xương và bi kịch đè nặng lên con người. Trong bối cảnh ấy, hành động “nhặt vợ” của Tràng vừa hài hước vừa bi thương, thể hiện khát vọng sống, khát vọng gia đình và tình người dù trong hoàn cảnh cùng cực.
Nhân vật Tràng là hình tượng điển hình của người nông dân nghèo khổ: hiền lành, chất phác, sống bản năng nhưng vẫn có khả năng cảm nhận và chia sẻ tình thương. Vợ Tràng – nhân vật tuy ít lời, nhưng thông qua hành động, cử chỉ, cũng thể hiện sự cam chịu, nhẫn nhịn và lòng hi sinh thầm lặng. Mối quan hệ giữa hai nhân vật vừa đơn sơ, mộc mạc, vừa chứa đựng chiều sâu tâm lý: họ tìm thấy nhau giữa lúc cùng cực, bộc lộ khát vọng sống, sự sẻ chia và tình cảm con người.
Xung đột trong truyện chủ yếu xuất phát từ hoàn cảnh xã hội và nghịch cảnh cuộc sống: nạn đói, cái nghèo và sự khắc nghiệt của số phận. Tràng và vợ trải qua những lo toan về ăn uống, nơi ở, và sự chờ đợi tin tức từ con cái – tất cả đều làm nổi bật sự nhỏ bé, yếu đuối nhưng đồng thời kiên cường của con người trước bi kịch. Kim Lân thông qua chi tiết này nhấn mạnh thông điệp nhân văn: dù nghèo khó, con người vẫn tìm thấy giá trị của tình yêu, sự sẻ chia và hy vọng.
Tác phẩm còn ẩn chứa thông điệp sâu sắc về cộng đồng: nỗi cô đơn, thiếu thốn tình người trong thời kỳ đói kém được xoa dịu nhờ tình cảm gia đình và sự sẻ chia. Truyện kết thúc mở, để lại cho người đọc nhiều suy ngẫm về sức mạnh của tình người giữa nghịch cảnh, về cách con người giữ phẩm giá và hy vọng ngay cả trong bi kịch lớn nhất.
Bài mẫu 13
Truyện “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố phản ánh chân thực cuộc sống cơ cực của người nông dân Việt Nam dưới chế độ phong kiến cũ, đặc biệt là tình trạng bất công trong quan hệ giữa chủ và nông dân. Nhân vật chính, chị Dậu, là biểu tượng điển hình của người phụ nữ nông dân chịu khổ cực nhưng giàu nghị lực, đạo đức và tình thương gia đình.
Bối cảnh xã hội được Ngô Tất Tố xây dựng chi tiết: những cánh đồng bạc màu, nhà cửa tồi tàn, đời sống thiếu thốn, nông dân phải chịu thuế nặng và áp bức từ địa chủ. Ngôn ngữ giản dị, giàu chất hiện thực, phản ánh sâu sắc cảnh sống nghèo khó, đồng thời làm nổi bật tâm lý, cảm xúc và hành động của nhân vật. Khi chồng chị Dậu mắc nợ và bị bắt, chị phải đối mặt với nghịch cảnh, vừa đau khổ, vừa kiên cường để bảo vệ con cái.
Nhân vật chị Dậu là hình ảnh điển hình về sự hy sinh và nghị lực của người phụ nữ nông dân: chị vừa chăm lo cho gia đình, vừa đấu tranh chống lại áp bức, vừa giữ gìn phẩm giá cá nhân. Xung đột chủ yếu xuất phát từ bất công xã hội và hoàn cảnh cực khổ: nạn đói, áp bức địa chủ, thiếu thốn vật chất. Tác phẩm khắc họa sắc nét nội tâm chị Dậu – sự sợ hãi, lo toan, nhưng đồng thời là lòng kiên cường và quyết tâm bảo vệ con cái và danh dự.
Thông điệp của truyện là sự lên án bất công xã hội, đồng thời ca ngợi phẩm chất đạo đức, nghị lực, lòng yêu thương và ý chí sống của con người. “Tắt đèn” không chỉ là câu chuyện về khổ cực mà còn là lời nhắc nhở về giá trị nhân văn, về khả năng vượt lên số phận dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.
Bài mẫu 14
Truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao là một kiệt tác phản ánh hiện thực xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, đặc biệt là đời sống của người nông dân nghèo và những hệ lụy của xã hội phong kiến đen tối. Nhân vật trung tâm, Chí Phèo, là hình tượng điển hình của nỗi bi kịch con người bị tha hóa bởi hoàn cảnh.
Bối cảnh xã hội được xây dựng tỉ mỉ: làng Vũ Đại với các tầng lớp dân cư khác nhau – từ địa chủ, quan lại đến nông dân nghèo – phản ánh sự phân hóa giàu nghèo và bất công xã hội. Nam Cao sử dụng ngôn ngữ hiện thực sinh động, miêu tả chi tiết nỗi đói, khổ cực, và những mâu thuẫn xã hội đè nặng lên con người. Chí Phèo, trước đây là một nông dân chất phác, bị xã hội loại trừ, sa ngã vào con đường rượu chè, côn đồ và bạo lực, trở thành hình ảnh người “ngông cuồng” nhưng lại chất chứa nỗi đau cô đơn và khao khát được yêu thương.
Xung đột trong truyện vừa xuất phát từ xã hội bất công vừa từ mâu thuẫn nội tâm nhân vật. Chí Phèo khát khao được hòa nhập cộng đồng, mong muốn có một gia đình, có tình yêu – thể hiện qua mối quan hệ với Thị Nở. Thị Nở, tuy xấu xí và nghèo khó, lại là nguồn hy vọng duy nhất cho Chí Phèo, là ánh sáng nhân văn trong đời anh. Nam Cao miêu tả chi tiết nội tâm Chí Phèo: nỗi đau bị ruồng bỏ, sự giằng xé giữa bản năng bạo lực và khao khát được yêu thương, khiến nhân vật trở nên phức tạp và giàu tính nhân văn.
Thông điệp của truyện vừa là lời phê phán xã hội bất công, vừa là lời nhắc nhở về giá trị tình người. Chí Phèo không phải bản chất xấu xa, mà là sản phẩm của một xã hội không có công lý. Tác phẩm để lại nhiều suy ngẫm: con người cần tình thương và cơ hội để hòa nhập, còn xã hội cần công bằng để tránh tha hóa và bi kịch.
Bài mẫu 15
Truyện ngắn "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam là một tác phẩm phản ánh hiện thực đời sống làng quê nghèo miền Bắc Việt Nam, đồng thời khắc họa sâu sắc tâm hồn trẻ thơ và cảm xúc con người trước những biến động xã hội. Nhân vật trung tâm là hai chị em Liên và An – những đứa trẻ sống trong cảnh thiếu thốn, nghèo khó nhưng vẫn giữ được sự hồn nhiên, mơ mộng và khao khát khám phá thế giới.
Bối cảnh xã hội được miêu tả qua ngôi làng yên bình, những con đường nhỏ, những buổi chiều tà, cảnh vật mờ ảo trong sương. Ngôn ngữ Thạch Lam giàu chất thơ, tinh tế và giàu hình ảnh, tạo ra một không gian vừa thực vừa mộng, phản ánh đời sống nội tâm phong phú của nhân vật. Hai đứa trẻ bước đi trên con đường làng, chứng kiến cảnh vật, âm thanh, và ánh sáng, tất cả đều gợi lên nỗi buồn man mác, nhưng cũng phản ánh sự tò mò, khát khao khám phá của tuổi thơ.
Xung đột trong truyện chủ yếu xuất phát từ đời sống khắc nghiệt của làng quê và sự mâu thuẫn giữa thực tại và ước mơ của trẻ thơ. Hai đứa trẻ phải đối mặt với cái nghèo, nỗi thiếu thốn tình cảm, nhưng đồng thời tâm hồn các em giàu cảm xúc, biết quan sát, biết thấu hiểu những bất công và nỗi đau của người lớn. Thạch Lam chú trọng khắc họa nội tâm nhân vật, từ sự ngây thơ, tò mò đến những rung cảm đầu đời trước cái đẹp và cái buồn.
Thông điệp của truyện là sự cảm thông với cuộc sống nghèo khó, tôn vinh vẻ đẹp nội tâm và những rung cảm tinh tế của con người, đặc biệt là trẻ thơ. Tác phẩm nhấn mạnh rằng dù sống trong hoàn cảnh thiếu thốn vật chất, con người vẫn giữ được giá trị nhân văn và tinh thần, và những rung động của tuổi thơ chính là cánh cửa mở ra tri thức, cảm xúc và nhân cách.
Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 6 - Kết nối tri thức - Xem ngay
Các bài khác cùng chuyên mục
- (35+ mẫu) Viết bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc hay nhất - Ngữ văn 6
- (35+ mẫu) Trình bày ý kiến về một vấn đề đời sống (được gợi ra từ một nhân vật văn học) hay nhất - Ngữ văn 6
- (35+ mẫu) Viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học hay nhất - Ngữ văn 6
- (35+ mẫu) Trình bày suy nghĩ về một vấn đề đời sống (được gợi ra từ tác phẩm văn học đã học) hay nhất - Ngữ văn 6
- (35+ mẫu) Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc sau khi đọc một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ hay nhất - Ngữ văn 6
- (35+ mẫu) Viết bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc hay nhất - Ngữ văn 6
- (35+ mẫu) Trình bày ý kiến về một vấn đề đời sống (được gợi ra từ một nhân vật văn học) hay nhất - Ngữ văn 6
- (35+ mẫu) Viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học hay nhất - Ngữ văn 6
- (35+ mẫu) Trình bày suy nghĩ về một vấn đề đời sống (được gợi ra từ tác phẩm văn học đã học) hay nhất - Ngữ văn 6
- (35+ mẫu) Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc sau khi đọc một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ hay nhất - Ngữ văn 6




Danh sách bình luận