Đề thi học kì 1 Ngữ văn 8 PGD&ĐT Ninh Bình (2024-2025)
FlashcardsHọc Flashcards
Ghi nhớ nhanh các công thức và kiến thức trọng tâm.
Tốc độĐấu trường tốc độ
Làm từng câu hỏi dưới áp lực thời gian.
Phần I. Đọc hiểu
Đọc văn bản sau:
ĐẾN CHẾT VẪN HÀ TIỆN
Ngày xưa có anh nhà giàu, tính hà tiện ăn chẳng dám ăn, mặc chẳng dám mặc, chỉ khư khư tích của làm giàu. Có người bạn rủ ra tỉnh[1] chơi, anh nấn ná không đi vì sợ, đi với bạn phải đãi bạn. Bị người ta chê cười mãi, một hôm, anh vào buồng giắt một quan tiền[2] vào lưng, rồi sai một người ở cùng đi lên tỉnh.
Đến tỉnh, anh trông thấy cái gì cũng muốn mua, nhưng sợ mất tiền rồi lại thôi. Trời nắng như thiêu, anh muốn vào quán uống nước, nhưng sợ phải trả tiền cho người nhà, đành đi qua.
Đến chiều trở về, khi qua đò, đến giữa dòng, anh khát quá không chịu được mới cúi xuống uống nước chẳng may lộn cổ xuống sông.
Anh người nhà vội kêu to lên:
- Ai cứu chủ tôi, xin thưởng một quan tiền!
Anh keo kiệt đương loay hoay giữa dòng, nghe tiếng, cố ngoi lên nói:
- Một quan đắt lắm!
Anh người nhà vội chữa lại:
- Thôi thì năm tiền vậy!
Anh keo kiệt lại cố ngoi lên một lần nữa và chỉ kịp nói: “Năm tiền còn đắt quá…!” [3] rồi chìm nghỉm.
(Trích Văn học dân gian những tác phẩm chọn lọc, Bùi Mạnh Nhị - Chủ biên, NXB Giáo dục, 2004, tr. 88,89)
Chú thích
1. Ra tỉnh: tức là ra tỉnh lị, lên tỉnh lị, nay gọi là thị xã.
2. Quan tiền: thời xưa tiều xâu lại thành chuỗi, cứ mười đồng là một tiền, trăm đồng là một quan (một quan có mười tiền).
3. Truyện có nhiều dị bản. Truyện trên đây soạn dựa theo tài liệu của Đỗ Thận và Nguyễn Hồng Phong.
Văn bản trên được kể theo ngôi thứ mấy?
Dựa vào người kể chuyện và cách người kể gọi tên các nhân vật để xác định ngôi kể.
Văn bản “Đến chết vẫn hà tiện” kể theo ngôi thứ ba.
Em hãy chỉ ra một câu mang nghĩa hàm ẩn trong văn bản trên.
Tìm câu nói có nội dung không được diễn đạt trực tiếp mà người đọc phải suy ra ý nghĩa từ hoàn cảnh và lời nói của nhân vật.
Gợi ý:
- Một quan đắt lắm!
- Năm tiền còn đắt quá…!
Nêu hiệu quả yếu tố gây cười trong văn bản “Đến chết vẫn hà tiện”.
Xác định chi tiết, tình huống hoặc lời nói tạo ra sự bất ngờ, trái với lẽ thường và gây cười.
- Các sự việc gây cười: khi được bạn rủ đi nấn ná không đi vì sợ phải đãi bạn; trông thấy cái gì cũng muốn mua nhưng sợ phải mất tiền; khát nước cũng không dám mua uống vì sợ trả tiền cho người nhà; khi bị ngã xuống sông vẫn tiếc tiền hơn mạng sống.
- Ý nghĩa tiếng cười: Truyện bật tiếng cười phê phán thói keo kiệt, hà tiện của con người.
Từ câu chuyện “Đến chết vẫn hà tiện”, em hãy rút ra một bài học có ý nghĩa nhất với bản thân và lí giải vì sao?
Từ tính cách và kết cục của nhân vật, xác định bài học; sau đó liên hệ với bản thân và lí giải.
Gợi ý:
+ Trong cuộc sống ta không nên quá keo kiệt, bủn xỉn dẫn đến những điều tệ hại cho bản thân mình.
+ Thói keo kiệt, bủn xỉn là thói xấu, không đáng để chúng ta học hỏi.
+ Chúng ta phải trân trọng sự sống của mình không nên vì quá hà tiện mà đánh đổi cả mạng sống của chính mình.
Phần II. Viết
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ) phân tích nét đặc sắc về thủ pháp gây cười được thể hiện trong câu chuyện trên.
Phân tích cách tác giả dân gian tạo tiếng cười, không sa vào kể lại toàn bộ câu chuyện.
- Truyện ngắn gọn, cốt truyện tập trung vào sự việc có yếu tố gây cười.
- Bối cảnh của câu chuyện được cường điệu so với thực tế.
- Tạo tình huống trớ trêu. Mâu thuẫn, nghịch lí gây cười ở đây là mâu thuẫn, nghịch lí giữa những nhu cầu cần thiết (mua đồ, uống nước, được cứu mạng) và thói keo kiệt. Các hành động keo kiệt được phóng đại, tăng cấp lớn dần lên đỉnh điểm để tạo ra sự oái ăm, tréo ngoe nhằm bật ra tiếng cười.
- Sắp đặt lời thoại hợp lí, ngôn ngữ của nhân vật dân dã dễ hiểu, để tạo sự bất ngờ, từ đó lật tẩy bản chất hà tiện của nhân vật.
- Ý nghĩa của truyện: thông qua câu chuyện một người keo kiệt đến nỗi sắp chết rồi vẫn mặc cả, tác giả dân gian phê phán thói hà tiện của con người.
Hiện nay, có một bộ phận học sinh đang hút thuốc lá điện tử gây ra những tác hại nghiêm trọng.
Em hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về vấn đề trên.
Thể hiện rõ quan điểm, phân tích tác hại và đề xuất giải pháp.
* Giới thiệu vấn đề nghị luận: Việc hút thuốc lá điện tử của một bộ phận học sinh hiện nay.
* Triển khai vấn đề cần nghị luận
Học sinh có thể triển khai vấn đề theo nhiều cách khác nhau, có thể đưa ra nhiều góc nhìn không giống như đáp án tuy nhiên cần có sức thuyết phục, không vi phạm các chuẩn mực đạo đức và pháp luật, đảm bảo được các ý cơ bản sau:
- Giải thích: Thuốc lá điện tử là thiết bị mô phỏng hình dạng và chức năng của thuốc lá truyền thống. Nhưng khác với thuốc lá thường, thuốc lá điện tử không tạo khói mà tạo ra luồng hơi có mùi vị và cảm giác giống thuốc lá thật.
- Thực trạng của hiện tượng hút thuốc lá điện tử của một bộ phận học sinh: hút thuộc lá điện tử trong các quán hàng, trong nhà vệ sinh ở trường,…
- Bày tỏ quan điểm của cá nhân đồng tình với ý kiến: Việc hút thuốc lá điện tử của một bộ phận học sinh gây tác hại nghiêm trọng. Bởi vì:
+ Hút thuốc lá điện tử ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe vì trong khói thuốc có nhiều chất độc hại như chất nicotin, hương liệu tạo mùi,..
+ Ảnh hưởng đến kết quả học tập: ngại học, lười học, chểnh mảng, sa sút trong học tập
+ Ảnh hưởng đến nhân cách, đạo đức: thiếu trung thực, dẫn đến nhiều sai lầm khác.
+ Đe dọa hạnh phúc gia đình: bố mẹ phiền lòng, lo lắng, bất an...
+ Ảnh hưởng xấu đến môi trường học đường.
- Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện
* Kết thúc vấn đề NL: Khẳng định ý kiến của bản thân, rút ra bài học.





