Soạn bài Những đứa trẻ (trích Thời thơ ấu) siêu ngắn


Soạn bài Những đứa trẻ (trích Thời thơ ấu) siêu ngắn nhất trang 229 SGK ngữ văn 9 tập 1 giúp tiết kiệm thời gian soạn bài


Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

ND chính

Video hướng dẫn giải

Đoạn trích Những đứa trẻ đã thuật lại hết sức sinh động tình bạn thân thiết nảy sinh giữa ông hồi còn nhỏ với mấy đứa trẻ sống thiếu tình thương bên hàng xóm, bất chấp những cản trở trong quan hệ xã hội lúc bấy giờ.

Tóm tắt

Một tuần vắng bóng sau sự kiện đứa em nhỏ ngã xuống giếng, ba anh em con nhà Ốp-xi-an-ni-cốp lại ra chơi với A-li-ô-sa. Chúng nói với nhau nhiều thứ chuyện. Bỗng nhiên lão đại tá bắt gặp và đuổi khỏi nhà, cấm các con ông chơi với cậu. Nhưng không vì thế mà lũ trẻ chịu xa nhau, chúng vẫn tìm cách chơi với nhau một cách vụng trộm.

Câu 1

Video hướng dẫn giải

Trả lời câu 1 (trang 233 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

Đoạn trích có thể chia làm ba phần:

- Phần một (Từ đầu đến “em nó cúi xuống”): Tình bạn tuổi thơ trong sáng.

- Phần hai (tiếp theo đến cấm không được đến nhà tao”): Tình bạn bị cấm đoán.

- Phần ba (đoạn còn lại): Tình bạn vẫn được duy trì.

Những chi tiết: những đứa trẻ, những con chim, truyện cổ tích, người dì ghẻ, người bà hiền hậu đã xuất hiện ở phần đầu lại xuất hiện ở phần thứ ba => tạo nên mối quan hệ kết nối thống nhất và chặt chẽ, gây được ấn tượng sâu sắc trong người đọc.

Câu 2

Video hướng dẫn giải

Trả lời câu 2 (trang 233 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

- Ông bà ngoại của A-li-ô-sa là hàng xóm với đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp, nhưng hai gia đình thuộc những thành phần xã hội khác nhau, một bên là dân thường, một bên là quan chức giàu sang, nên Ốp-xi-an-ni-cốp không cho những đứa con của mình chơi với A-li-ô-sa (“Đứa nào gọi nó sang?”, “Cấm không được đến nhà tao!”).

- Do sự tình cờ, A-li-ô-sa góp sức cứu đứa nhỏ bị rơi xuống giếng, nên ba đứa trẻ nhà Ốp-xi-an-ni-cốp biết được tấm lòng của A-li-ô-sa và rủ A-li-ô-sa sang chơi.

- A-li-ô-sa mất bố, mẹ lại đi lấy chồng khác, có mẹ mà như không, lại thường bị ông ngoại đánh đòn, chỉ có bà ngoại là người hiền hậu. Qua trò chuyện, A-li-ô-sa biết mấy đứa bạn mới quen kia tuy sống trong cảnh giàu sang, nhưng cũng chẳng sung sướng gì, mẹ chết, sống với dì ghẻ, lại cũng bị bố cấm đoán, đánh đòn…

- Hoàn cảnh sống thiếu tình thương giống nhau khiến A-li-ô-sa thân thiết với mấy đứa trẻ kia và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng Go-rơ-ki khiến mấy chục năm sau ông vẫn còn nhớ như in và kể lại hết sức xúc động.

Câu 3

Video hướng dẫn giải

Trả lời câu 3 (trang 233 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

- Trước khi quen thân, nhìn sang hàng xóm, A-li-ô-sa chỉ biết: “Ba đứa cùng mặc áo cánh và quần dài màu xám, cùng đội mũ như nhau. Chúng có khuôn mặt tròn, mắt xám và giống nhau đến nỗi tôi chỉ có thể phân biệt được chúng theo tầm vóc”.

- Khi mấy đứa trẻ kể chuyện mẹ chết, chỉ còn dì ghẻ mà chúng gọi là “mẹ khác” rồi lặng đi, Go-rơ-ki kể: “Chúng ngồi sát vào nhau giống như những chú gà con”. So sánh chính xác khiến ta liên tưởng cảnh lũ gà con sợ hãi co cụm vào nhau khi nhìn thấy diều hâu, đồng thời toát lên sự thông cảm của A-li-ô-sa với nỗi bất hạnh của các bạn nhỏ.

- Khi đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp bất chợt xuất hiện, mắng: “Đứa nào gọi nó sang?”, Go-rơ-ki viết: “Tức thì cả mấy đứa trẻ lặng lẽ bước ra khỏi chiếc xe và đi vào nhà, khiến tôi lại nghĩ đến những con ngỗng ngoan ngoãn”. Đây là lần thứ hai nhà văn dùng hình tượng so sánh này. So sánh chính xác vừa thể hiện dáng dấp bên ngoài của ba đứa trẻ, vừa thể hiện thế giới nội tâm của chúng. Chúng bị bố áp chế, lẳng lặng vào nhà, chẳng dám hé răng. Tác giả còn kể ở đoạn dưới: “… tôi nhớ lại thì không bao giờ chúng tôi nói một lời nào về bố và về dì ghẻ”. Một lần nữa A-li-ô-sa thông cảm với cuộc sống thiếu tình thương của các bạn nhỏ.

Câu 4

Video hướng dẫn giải

Trả lời câu 4 (trang 233 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

Chuyện đời thường và truyện cổ tích:

- Chuyện đời thường và truyện cổ tích lồng vào nhau qua chi tiết dì ghẻ. Mấy đứa trẻ hàng xóm vừa nhắc đến chuyện dì ghẻ mà chúng gọi là "mẹ khác”, A-li-ô-sa liên tưởng ngay đến nhân vật mụ dì ghẻ độc ác trong các truyện cổ tích.

- Chuyện đời thường và chuyện cố tích lồng vào nhau qua chi tiết người “mẹ thật”: “Mẹ thật của các cậu thế nào rồi cũng sẽ về, rồi các cậu..."

- “Chết rồi cơ mày về làm sao được...”. A-li-ô-sa như lạc ngay vào ông khí truyện cổ tích, nói với chính bản thân mình: “Không được ư? Trời ơi, biết bao nhiêu lần những người chết, thậm chí đã bị xả ra từng mảnh mà chỉ cần vẩy cho ít nước phép là sống lại; có biết bao nhiêu người chết mà không phải là chết thật, vì phép của bọn phù thủy”.

- Chuyện đời thường và chuyện cổ tích lồng vào nhau qua hình ảnh người bà nhân hậu. Ta biết bà ngoại của A-li-ô-sa là người rất nhân hậu.

Trong bài văn này, mỗi lần A-li-ô-sa nhắc đến bà ngoại là để nói bà thường kể chuyện cổ tích cho chú nghe và bây giờ chú kể lại cho các bạn, chỗ nào quên lại chạy về hỏi bà. Khi đứa lớn con đại tá Ôp-xi-an-ni-cốp khái quát: “Có lẽ tất cả các bà đều tốt, bà mình trước cũng rất tốt...” thì nước mắt chúng ta như hiện lên hình ảnh các nhân vật bà nội, bà ngoại trong truyện cổ tích rồi. Nhất là thằng bé “thường nói một cách buồn bã: ngày trước, trước kia, đã có thời... dường như nó đã sống trên trái đất: này một trăm năm chứ không phải mười một năm”

- Không thấy A-li-ô-sa nhắc đến tên mấy đứa bạn. Chắc khi chơi thân với nhau, thế nào chúng cũng hỏi tên nhau; A-li-ô-sa còn biết thằng lớn mười một tuổi cơ mà! Hay chuyện xảy ra mấy chục năm rồi, Go-rơ-ki: không còn nhớ tên chúng nữa? Song, có lẽ nhà văn chủ tâm không nhắc tên những đứa trẻ kia, như thế câu chuyện tình bạn của bọn trẻ sông thiếu tình thương mang ý nghĩa khái quát hơn và đậm màu sắc cổ tích nhiều hơn.

Bài đọc >> Xem chi tiết: Văn bản Những đứa trẻ
+
Văn bản Những đứa trẻ

NHỮNG ĐỨA TRẺ

(Trích Thời thơ ấu)

Có đến gần một tuần không thấy ba anh em nhà ấy ra sân chơi, nhưng sau đó chúng lại xuất hiện, ồn ào hơn trước. Thằng anh lớn nhìn thấy tôi trên cây, nó gọi, giọng thân mật :

– Xuống đây chơi với chúng tớ !

Chúng tôi trèo lên cái xe trượt tuyết cũ để ở dưới mái hiện nhà kho rồi vừa ngắm nghía nhau, vừa nói chuyện rất lâu.

- Các cậu có bị ăn đòn không ?

- Có – Thằng anh lớn trả lời.

Tôi thấy khó mà tin được rằng những đứa trẻ này cũng bị đánh đòn như tôi, tôi thấy tức thay cho chúng.

– Sao anh lại bắt chim ? – Thằng bé nhất hỏi.

- Vì chúng nó hót hay lắm.

– Không nên bắt, cứ để cho chúng muốn bay đi đâu thì bay.

– Được, mình sẽ không bắt nữa !

– Nhưng anh hãy bắt cho em một con đã.

– Em muốn chim gì ?

– Chim gì hót vui vui ấy. Để nhốt vào lồng.

- Thế thì chim bạch yến nhé ?

– Mèo nó bắt mất – Thằng thứ hai nói – Mà bố cũng chẳng cho nuôi.

Thằng anh lớn tán thành :

- Đúng đấy, bố chẳng cho nuôi đâu...

– Thế các cậu có mẹ không ?

- Không – Thằng anh lớn đáp.

Nhưng thằng thứ hai chữa lại :

– Có, nhưng là mẹ khác, không phải là mẹ chúng tớ, chúng tớ không còn, mẹ chúng tớ chết rồi.

- Mẹ khác thì gọi là dì ghẻ – Tôi nói.

Thằng anh lớn gật đầu :

- Ừ

Và cả ba đứa có vẻ nghĩ ngợi, gương mặt sầm lại.

Qua những truyện cổ tích của bà tôi, tôi đã biết thế nào là dì ghẻ, nên tôi rất thông cảm với sự im lặng, nghĩ ngợi của bọn nó. Chúng ngồi sát vào nhau, giống như những chú gà con. Tôi nhớ lại truyện mụ dì ghẻ phù thuỷ đã dùng mưu đánh lừa để giả làm mẹ thật, tôi liền bảo chúng :

- Mẹ thật của các cậu thế nào cũng sẽ về, rồi các cậu xem !

Thằng anh lớn nhún vai :

- Chết rồi cơ mà, về làm sao được...

Không được ư ? Trời ơi, biết bao nhiêu lần những người chết, thậm chí đã bị ra từng mảnh, mà chỉ cần vẩy cho ít nước phép là sống lại ; có biết bao nhiêu người chết mà không phải là chết thật, vì phép của bọn phù thuỷ.

Tôi bèn kể lại một cách sôi nổi cho chúng nghe những câu chuyện của bà tôi. Lúc đầu thằng anh lớn chỉ mỉm cười, sau nó nhẹ nhàng bảo :

– Những chuyện ấy chúng tớ biết cả rồi, đấy là những truyện cổ tích...

Hai em nó im lặng nghe, thằng bé nhất mím chặt môi và phồng má lên, còn thằng kia thì chống khuỷu tay lên đầu gối, cúi về phía tôi, tay kia quàng lên vai em nó, ấn em nó cúi xuống.

Trời đã bắt đầu tối, những đám mây đỏ treo lơ lửng trên các mái nhà, bỗng trước mắt chúng tôi hiện ra một ông già với bộ ria trắng, mình vận chiếc áo dài lùng thùng màu nâu nhạt như của thầy tu, đầu đội chiếc mũ xù lông.

– Đứa nào đây ? – Ông ta hỏi và chỉ vào tôi.

Thằng anh lớn đứng dậy, hất đầu về phía nhà ông tôi :

– Nó ở... bên kia sang...

- Đứa nào gọi nó sang?

Tức thì cả mấy đứa trẻ lặng lẽ bước ra khỏi chiếc xe và đi vào nhà, khiến tôi lại nghĩ đến những con ngông ngoan ngoãn

Ông già nắm chặt lấy vai tôi và dẫn tôi qua sân ra cổng ; ông ta làm tôi sợ đến phát khóc, nhưng ông bước dài và nhanh đến nỗi tôi chưa kịp khóc oà lên thì đã ở ngoài đường rồi, còn ông ta đứng trước cổng, giơ ngón tay doạ tôi và nói :

_ Cẩm không được đến nhà tạo !

[...] Tôi vẫn tiếp tục chơi với mấy đứa trẻ ấy và cảm thấy rất vui thích. Trong một ngách hẹp giữa bức tường nhà tôi và hàng rào nhà Ốp-xi-an-ni-cốp có một cây du, một cây bồ đề và một bụi hương mộc rậm rạp. Nấp sau bụi cây đó, tôi khoét một lỗ hổng hình bán nguyệt ở hàng rào, mấy thằng bé, lần lượt từng đứa hay hai đứa một, lại gần, và chúng tôi ngồi xổm hoặc quỳ xuống nói chuyện khe khẽ với nhau. Một đứa trong số ba anh em chúng phải luôn đứng canh để đề phòng ông đại tá bất chợt bắt gặp chúng tôi.

Chúng kể cho tôi nghe cuộc sống buồn tẻ của chúng, và những chuyện đó làm tôi buồn lắm ; chúng kể cho tôi nghe về những con chim tôi bẫy được đang sống ra sao và nhiều chuyện trẻ con khác, nhưng tôi nhớ lại thì chưa bao giờ chúng nói một lời nào về bố và về dì ghẻ. Thường thì chúng chỉ đề nghị tôi kể truyện cổ tích ; tôi kể lại những truyện bà tôi đã kể, và nếu quên chỗ nào, tôi bảo chúng đợi, rồi chạy về nhà hỏi lại bà tôi. Thấy thế bà tôi thường rất hài lòng.

Tôi cũng kể cho chúng nghe nhiều về bà tôi ; một hôm thằng lớn thở dài nói :

– Có lẽ tất cả các bà đều rất tốt, bà tớ ngày trước cũng rất tốt...

Nó thường nói một cách buồn bã : ngày trước, trước kia, đã có thời... dường như nó đã sống trên trái đất này một trăm năm, chứ không phải mười một năm. Tôi còn nhớ nó có đôi bàn tay nhỏ nhắn, những ngón tay thon thon và người mảnh dẻ, yếu ớt, cặp mắt rất sáng, nhưng dịu dàng như ánh sáng của những ngọn đèn trong nhà thờ. Hai em nó cũng rất dễ thương, tôi tin yêu lắm, tôi luôn muốn làm cho chúng vui thích, nhưng tôi ưa thằng lớn hơn cả...

- Thu gọn

Bình chọn:
3.9 trên 8 phiếu

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 9 - Xem ngay

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...