(35+ mẫu) Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm truyện hay nhất - Ngữ văn 11


Trong dòng chảy của văn học hiện thực 1930 - 1945, nếu như Nam Cao khiến người ta đau đớn trước cái chết của một con người giữ gìn thiên tính như Chí Phèo

Tổng hợp đề thi học kì 2 lớp 11 tất cả các môn - Kết nối tri thức

Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Bài mẫu 1

Trong dòng chảy của văn học hiện thực 1930 - 1945, nếu như Nam Cao khiến người ta đau đớn trước cái chết của một con người giữ gìn thiên tính như Chí Phèo, thì Kim Lân lại mở ra một hướng đi khác đầy nhân văn và hy vọng ngay trong cảnh khốn cùng nhất của lịch sử. Truyện ngắn "Vợ nhặt" không chỉ là bức tranh chân thực về thảm cảnh nạn đói năm 1945 mà còn là bài ca về sức sống mãnh liệt, khát vọng hạnh phúc và tình người ấm áp của những người nông dân nghèo giữa bờ vực cái chết.

Trước hết, giá trị của tác phẩm nằm ở việc tái hiện một không gian nghệ thuật ám ảnh: một Việt Nam trong những ngày đói quay đói quắt. Kim Lân không ngần ngại phơi bày sự tàn khốc của nạn đói qua những hình ảnh rợn người: người chết như ngả rạ, người sống thì "xanh xám như những bóng ma", không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người. Giữa bối cảnh mà giá trị con người trở nên rẻ rúng đến mức một người đàn bà có thể được "nhặt" về chỉ bằng bốn bát bánh đúc và vài câu nói đùa tầm phơ tầm phào, tác giả đã đặt nhân vật vào một tình huống truyện vô cùng độc đáo. Việc Tràng – một anh cu sỹ ngụ cư nghèo khổ, thô kệch – lấy vợ giữa lúc đói kém không chỉ là chuyện lạ lùng mà còn là một sự liều lĩnh đầy bi kịch. Tình huống này chính là nhịp cầu để bộc lộ toàn bộ vẻ đẹp tâm hồn của các nhân vật.

Nhân vật Tràng hiện lên với vẻ ngoài có phần vụng về, dở hơi nhưng ẩn sâu bên trong là một trái tim nhân hậu và khát vọng sống chân thành. Quyết định đưa người đàn bà lạ mặt về làm vợ không phải là sự bốc đồng, mà là sự trỗi dậy của bản năng yêu thương và khao khát có một gia đình. Tràng sẵn sàng chia sẻ miếng ăn ít ỏi, sẵn sàng đèo bòng thêm một miệng ăn trong khi chính mình cũng đang mấp mé bên vực thẳm. Sự biến đổi của Tràng sau đêm tân hôn – từ một anh chàng vụng về trở thành một người đàn ông có trách nhiệm, cảm thấy mình "nên người" và có bổn phận với gia đình – là minh chứng hùng hồn nhất cho sức mạnh của hạnh phúc. Chính tình yêu gia đình đã thắp sáng tâm hồn tối tăm của anh, biến sự liều lĩnh thành một nguồn động lực sống mãnh liệt.

Bên cạnh Tràng, nhân vật bà cụ Tứ là hiện thân của vẻ đẹp người mẹ Việt Nam nghèo khổ nhưng giàu lòng vị tha. Tâm trạng của bà cụ Tứ khi thấy "vợ nhặt" của con là một chuỗi biến chuyển đầy tinh tế: từ ngạc nhiên, đến hiểu ra, rồi xót xa và cuối cùng là chấp nhận trong lòng tràn đầy tình thương. Câu nói "Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng" chứa đựng bao nhiêu nỗi đắng cay lẫn niềm an ủi. Trong bữa cơm ngày đói với nồi cháo cám "đắng chát" và "nghẹn bứ", chính người mẹ ấy lại là người nói về tương lai, về việc nuôi gà, về những dự định tốt đẹp. Bà là người giữ lửa cho gia đình, dùng tình thương để xoa dịu cái đói và thắp lên niềm hy vọng cho con trẻ.

Người vợ nhặt, dù xuất hiện trong dáng vẻ "vân vi", "cong cớn" vì cái đói hành hạ, nhưng khi được sống trong hơi ấm gia đình, chị lại trở về đúng thiên chức của một người đàn bà hiền hậu, đảm đang. Hình ảnh chị quét dọn nhà cửa, cùng mẹ chồng vun vén gia đình đã hoàn thiện bức tranh về mái ấm. Ba con người khốn khổ ấy nương tựa vào nhau, dùng tình thương để đẩy lùi bóng tối của tử thần.

Cuối cùng, tác phẩm khép lại với hình ảnh "lá cờ đỏ đại kỳ" thấp thoáng trong tâm trí Tràng. Đây là một chi tiết mang tính dự báo, khẳng định bước chuyển mình của văn học hiện thực sau cách mạng: con người không còn bế tắc mà đã tìm thấy con đường cứu thoát. Kết thúc này nâng tầm tác phẩm từ một câu chuyện về tình người trở thành một bản tuyên ngôn về sức sống của dân tộc.

Tóm lại, với ngòi bút nhân đạo sâu sắc và khả năng miêu tả tâm lý tinh tế, Kim Lân đã biến "Vợ nhặt" thành một tượng đài về lòng nhân ái. Tác phẩm khẳng định một chân lý vĩnh hằng: dù trong bất kỳ hoàn cảnh nghiệt ngã nào, con người vẫn luôn khao khát hạnh phúc, vẫn luôn sẵn sàng yêu thương và hy vọng vào ngày mai. Đó chính là sức mạnh kỳ diệu giúp con người vượt qua mọi nghịch cảnh để bảo vệ phẩm giá và sự sống của chính mình.

Bài mẫu 2

Nam Cao là một trong những cây bút hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945. Các sáng tác của ông thường tập trung phản ánh số phận bi thảm của người nông dân và người trí thức nghèo trong xã hội cũ, đồng thời thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc. Trong số đó, “Chí Phèo” là một kiệt tác tiêu biểu, không chỉ phơi bày bộ mặt tàn bạo của xã hội phong kiến nửa thực dân mà còn thể hiện niềm tin của nhà văn vào bản chất lương thiện của con người.

Trước hết, tác phẩm đã khắc họa thành công hình tượng nhân vật Chí Phèo – một người nông dân bị tha hóa đến tận cùng. Chí vốn là một đứa trẻ mồ côi, lớn lên trong sự cưu mang của dân làng Vũ Đại. Khi trưởng thành, hắn là một anh canh điền hiền lành, chăm chỉ, có ước mơ rất giản dị: “chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải”. Tuy nhiên, chỉ vì cơn ghen tuông vô cớ của Bá Kiến, Chí bị đẩy vào tù. Nhà tù thực dân không chỉ giam giữ mà còn biến đổi con người, khiến Chí từ một người lương thiện trở thành một kẻ lưu manh, mất hết nhân tính. Khi trở về làng, hắn không còn là anh Chí ngày xưa mà trở thành một “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”, suốt ngày rạch mặt, chửi bới, say rượu và làm tay sai cho Bá Kiến.

Bi kịch lớn nhất của Chí Phèo không chỉ là bị tha hóa, mà còn là bi kịch bị xã hội cự tuyệt quyền làm người. Hắn chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, nhưng không ai đáp lại. Điều đó cho thấy Chí đã bị đẩy ra ngoài lề xã hội, không còn được coi là một con người đúng nghĩa. Tiếng chửi của Chí thực chất là tiếng kêu đau đớn, tuyệt vọng của một con người khao khát được công nhận, được giao tiếp với đồng loại nhưng không được đáp lại. Đây chính là điểm đặc sắc trong ngòi bút của Nam Cao: ông không chỉ miêu tả hành động mà còn đi sâu vào nội tâm nhân vật, làm nổi bật nỗi đau tinh thần của người nông dân bị áp bức.

Tuy nhiên, giá trị nhân đạo của tác phẩm không dừng lại ở việc tố cáo hiện thực, mà còn thể hiện ở sự khám phá bản chất lương thiện vẫn còn tiềm ẩn trong Chí Phèo. Sự xuất hiện của Thị Nở – một người phụ nữ xấu xí, dở hơi – đã tạo nên bước ngoặt trong cuộc đời Chí. Bát cháo hành của Thị không chỉ giúp Chí giải rượu mà còn đánh thức phần “người” đã bị vùi lấp bấy lâu. Lần đầu tiên sau nhiều năm, Chí cảm nhận được sự quan tâm, chăm sóc và khao khát được sống như một con người bình thường. Hắn nhớ lại quá khứ, nhận ra hiện tại và mong muốn được làm hòa với mọi người. Đây chính là chi tiết thể hiện sâu sắc tư tưởng nhân đạo của Nam Cao: dù bị tha hóa đến đâu, con người vẫn có khả năng hướng thiện.

Thế nhưng, xã hội tàn nhẫn đã không cho Chí cơ hội quay trở lại. Khi Thị Nở nghe lời bà cô từ chối Chí, cánh cửa trở về làm người của hắn hoàn toàn bị đóng lại. Chí rơi vào tuyệt vọng, nhận ra rằng mình không còn đường quay lại cuộc sống lương thiện. Trong cơn đau đớn và uất ức, hắn đã giết Bá Kiến – kẻ đã đẩy hắn vào con đường tha hóa – rồi tự kết liễu đời mình. Hành động này không chỉ là sự phản kháng cuối cùng mà còn là tiếng kêu bi thảm của một con người bị dồn đến bước đường cùng. Cái chết của Chí Phèo là một kết thúc đau đớn nhưng tất yếu, phản ánh sự bế tắc của người nông dân trong xã hội cũ.

Thông qua nhân vật Chí Phèo, Nam Cao đã tố cáo mạnh mẽ xã hội phong kiến thối nát – nơi những con người lương thiện bị đẩy vào con đường tha hóa, bị tước đoạt cả nhân hình lẫn nhân tính. Đồng thời, tác phẩm cũng thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc, khi nhà văn phát hiện và trân trọng khát vọng làm người, khát vọng lương thiện của những con người tưởng chừng đã mất hết nhân tính.

Về nghệ thuật, “Chí Phèo” gây ấn tượng bởi cách xây dựng nhân vật điển hình, nghệ thuật miêu tả tâm lý sắc sảo và ngôn ngữ giàu tính hiện thực. Cách mở đầu bằng tiếng chửi độc đáo, kết cấu truyện chặt chẽ và cách dẫn dắt tình huống tự nhiên đã góp phần làm nên sức hấp dẫn cho tác phẩm.

“Chí Phèo” không chỉ là một truyện ngắn xuất sắc mà còn là một tác phẩm mang giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Qua đó, Nam Cao đã thể hiện tấm lòng nhân ái và cái nhìn thấu hiểu đối với số phận con người. Đến hôm nay, tác phẩm vẫn còn nguyên giá trị, nhắc nhở chúng ta về quyền được sống, được làm người và được yêu thương của mỗi con người trong xã hội.

Bài mẫu 3

Để một tác phẩm văn học trở nên thành công thì cần có rất nhiều yếu tố tác động vào như nội dung, nghệ thuật, cùng các giá trị nhân văn mà nó mang lại. Một trong những yếu tố quan trọng đó chính là cách xây dựng tình huống truyện. Một truyện ngắn muốn hay, cuốn hút người đọc thì phải có được một cốt truyện hấp dẫn. Một trong số ít nhà văn được mệnh danh là bậc thầy trong xây dựng cốt truyện đó chính là Kim Lân. Các tác phẩm của ông đều có những nét riêng biệt, đặc sắc, nội bật trong số đó chính là tác phẩm “Vợ nhặt”. Truyện ngắn phản ánh sự thật về nạn đói những năm 1945 và cuộc sống nghèo khổ của nhân dân thời bấy giờ.

Truyện ngắn nói về nhân vật Tràng, một người dân ngụ cư nghèo khổ sống cùng mẹ. Nhà văn Kim Lân đã miêu tả Tràng như một sản phẩm vội vàng của tạo hóa “hai con mắt nhỏ tí gà gà đắm vào bóng chiều, hai quai hàm bạnh ra, cái mặt bặm lại lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lý thú vừa dữ tợn. Cái đầu trọc nhẵn chúi về đằng trước, cái lưng dài rộng như là lưng gấu lại thêm tật vừa đi vừa ngẩng mặt lên trời cười hềnh hệch”. Quả thực Tràng là một thanh niên rất xấu xí, chả ai thèm ngó ngàng. Chẳng những vậy, cái nghèo, cái đói luôn đeo bám, quẩn quanh hai mẹ con Tràng. Kim Lân đã dùng những từ ngữ chân thật để miêu tả cuộc sống và ngôi nhà mà Tràng đang ở “những búi cỏ dại lổn nhổn”, “đống quần áo rách vắt khươm mươi niên trong một góc nhà”, “hai cái ang nước để khô cong trơ trọi dưới gốc cây ổi”…. Cuộc sống túng thiếu của hai mẹ con hiện lên thật giản dị, tội nghiệp, khiến người khác không khỏi cảm thấy xót thương cho hai số phận. Nhưng điều làm cho Tràng cảm thấy tủi nhục nhất đó chính là mang trong mình cái danh dân ngụ cư, bị dân làng khinh miệt, coi thường.

Tuy nghèo đói nhưng chàng vẫn có một công việc để làm, để trông mong, đó chính là phu xe, hàng ngày bốc vác, chở gạo ra các chợ. Công việc thì vất vả, đói khát nhưng quả thật anh ta lúc nào cũng có thể vui vẻ, lạc quan. Giữa trời trưa nắng gắt, phải kéo cả một xe gạo đầy nặng trĩu, nhưng chàng ta vẫn có sức cất lên những câu hò:

“Muốn ăn cơm trắng mấy giò này

Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì”

Những câu hò này không hẳn là có ý trêu ghẹo những cô gái ngồi bên đường, mà chủ yếu để giúp chàng ta quên đi những mệt mỏi, đói khát mà mình đang phải chịu. Ấy vậy mà chỉ bằng vài ba lời hát vu vơ mà khiến Tràng được một người con gái để ý và đi theo đẩy giúp. Tràng là ngưởi hiểu rõ hơn ai hết những gì mà mình hát ở trên không phải là sự thật, làm gì mà có gạo trắng mà ăn chứ nói gì đến giò chả. Để rồi đến khi gặp người con gái ấy lần thứ hai, Tràng đã rất đỗi ngạc nhiên trước sự thay đổi ngoại hình của Thị “Thị hôm nay rách quá, trên khuôn mặt lưỡi cày chỉ trơ lại hai con mắt”.

Quả thực Thị đã gầy đi rất nhiều, có lẽ vì đói, vì khát mà cơ thể con người Thị đã bị tàn phá nhanh đến như vậy. Thị chạy đến sưng sỉa trước mặt Tràng “Điêu! người thế mà điêu”, mới đầu hắn ta chẳng hiểu gì nhưng rồi một lúc cũng ngộ ra rồi mời Thị đi ăn “thích ăn gì thì ăn”. Thị ta chẳng ngại ngùng gì mà cắm đầu ăn liền một chặp bốn bát bánh đúc, quả thực lúc này thị ta nhìn rất trơ trẽn. Người ngoài nhìn vào có người sẽ khinh bỉ, cho rằng thị ta đang vứt hết cả lòng tự trọng đi để ăn, nhưng cũng sẽ có những người xót thương, đồng cảm cho một con người đang phải chịu cơn đói hành hạ. Khi ấy, con người ta chẳng còn bận tâm đến danh dự, hay nhân phẩm gì nữa, ăn no mới là điều quan trọng trước hết. Đợi đến khi Thị ăn xong, Tràng có nói câu nửa vui nửa đùa rằng “về với tớ thì khuôn hàng lên xe rồi cùng về”. Tưởng Thị sẽ cười chê mình, nào ngờ Thị về thật, về làm dâu nhà Tràng. Một đám cưới diễn ra.

Việc một con trai lớn lên, xây nhà, cưới vợ là việc quá đỗi bình thường, nhưng nhân vật Tràng lại là một thanh niên xấu xí, nghèo đói, gia cảnh khó khăn, đặc biệt là dân ngụ cư nữa nên việc Tràng có được vợ làm rất nhiều người ngạc nhiên. Qua đây, ta đã thấy được nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo của Kim Lân: vợ đáng lẽ ra là người ta yêu, qua tìm hiểu, đính ước mà đến với nhau, nhưng ở đây, Tràng ta lại “nhặt” được vợ theo đúng nghĩa đen và của hồi môn chắc có lẽ chỉ là vài bát bánh đúc mà thị ta vừa ăn lúc trước.

Việc Tràng có vợ khiến rất nhiều người ngạc nhiên, cụ Tứ – mẹ Tràng cùng tất cả những người thôn ngụ cư, người trong xóm lạ lắm: Họ đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán. Đến khi hiểu ra là Tràng có vợ theo về, thì họ lại càng ngạc nhiên hơn nữa. Người thì “cười lên rung rúc”, người lại lo dùm cho anh ta “Ôi chao! Giời đất này còn rước cái của nợ dài về”. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?”. Người đời cười chê, chế nhạo thế nhưng chẳng làm hai vợ chồng Tràng cảm thấy tủi nhục, xấu hổ. Cho đến khi dẫn Thị về nhà, cả cụ Tứ lẫn Tràng đều không tin nhà mình có con dâu.

Cụ Tứ vừa vui vừa buồn, vừa cảm thấy thương xót cho con trai mình. Bà vui vì con trai mình đến tuổi trưởng thành đã cưới được vợ, bà mừng cho hai đứa chúng nó, nhưng bà cũng buồn, buồn vì gia đình nhà mình quá nghèo. Đám cưới gì mà chẳng có cờ có hoa, không một mâm cỗ, không kèn trống, không người đưa đón, chỉ đơn giản là đưa dẫn nhau về ở chung, cùng nhau vun vén, xây dựng gia đình. Bước vào căn nhà lụp xụp mà hai mẹ con Tràng đang ở mà Thị chỉ biết thở dài, bắt tay vào công việc dọn dẹp. Đến bữa ăn về nhà chồng cũng chỉ là nồi cháo loãng với chút muối trắng, cuộc sống của ba con người quả thực rất nghèo khổ.

Qua câu chuyện, nhà văn đã dành những tình cảm tốt đẹp nhất đối với con người nghèo khổ bằng cả tấm lòng nhân hậu của mình. Ông xót thương cho dân tộc trước thảm họa đói chết. Ông cũng ái ngại cho người con gái bị nạn đói cướp đi gần hết (gia đình, nhan sắc, tính cách, tên tuổi…).

Không những vậy, nhà văn còn rất tinh tế khi phát hiện ra khát vọng hạnh phúc và niềm vui khi nhặt vợ của Tràng; cái duyên thầm của thị qua cái liếc mắt với Tràng…Có thể nói, nhà văn rất trân trọng và tự hào về vẻ đẹp nhân tính của con người lao động nghèo trước thảm họa đau thương, chết chóc.

Đồng thời nhà văn còn tập trung ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân lao động qua hình ảnh của bà cụ Tứ: một người mẹ giàu tình thương con, giàu lòng nhân hậu và niềm tin vào cuộc sống và đây cũng chính là niềm tin của nhà văn vào phẩm chất tốt đẹp của con người.

Thông qua tình huống truyện, nhà văn lên án và tố cáo tội ác của Nhật – Pháp đã đẩy nhân dân ta vào thảm họa đói nghèo, chết chóc. Chính chúng đã làm cho giá trị con người trở thành rẻ rúng như rơm như rác: vợ mà nhặt được.

Đúng là một tình huống truyện rất lạ mà Kim Lân đã dựng nên. Nhà văn đã đặt nhân vật của mình vào một tình huống éo le để làm nổi bật lên những giá trị nhân văn sâu sắc. Ông không chỉ muốn nói lên nét đẹp trong tính cách con người Việt Nam là dù có ở trong hoàn cảnh khó khăn như thế nào, lúc nào cũng có thể đối mặt với cái chết nhưng họ vẫn yêu thương, quan tâm nhau mà ông còn muốn lên án chế độ thực dân độc ác đã khiến nhân dân ta trở nên nghèo đói, lầm than.

Bài mẫu 4

Giữa lòng văn học hiện thực Việt Nam, nơi những trang viết thường nhuốm màu bi kịch và bế tắc, "Chữ người tử tù" của Nguyễn Tuân hiện lên như một bức phù điêu cổ kính, uy nghiêm, tôn vinh vẻ đẹp của thiên lương và khí phách con người ngay giữa chốn ngục tù tăm tối. Tác phẩm không chỉ đơn thuần là cuộc kỳ ngộ giữa một tử tù và một quản ngục, mà còn là bản tuyên ngôn bất tử về sức mạnh của cái đẹp – thứ ánh sáng có khả năng cảm hóa và khuất phục cả cái ác, cái xấu.

Điểm tựa vững chắc nhất tạo nên sức hấp dẫn của truyện chính là tình huống truyện độc đáo: cuộc gặp gỡ đầy kịch tính giữa Huấn Cao và viên quản ngục. Xét về phương diện xã hội, họ là kẻ thù, đứng ở hai đầu chiến tuyến của luật pháp và trật tự triều đình. Một người là thủ xướng loạn quân đang đếm ngược ngày ra pháp trường, người kia là kẻ đại diện cho bộ máy trấn áp nơi ngục thất. Thế nhưng, trên bình diện nghệ thuật, họ lại là những tri kỷ cùng chung niềm say mê cái đẹp. Nguyễn Tuân đã khéo léo đặt các nhân vật vào không gian buồng giam ẩm thấp, tối tăm để làm bật lên sự rực rỡ của những tâm hồn thanh khiết.

Huấn Cao hiện lên không chỉ là một người nghệ sĩ tài hoa với khả năng viết chữ "nhanh và đẹp" vốn là niềm mơ ước của bao người, mà quan trọng hơn, ông là biểu tượng của khí phách hiên ngang, bất khuất. Dù thân xác bị xiềng xích, dù cái chết đã cận kề, Huấn Cao vẫn giữ được cái phong thái tự tại của một bậc tài tử không màng danh lợi. Ông không dùng chữ mình để đổi lấy quyền thế hay vàng ngọc, mà chỉ dành tặng cho những tâm hồn biết trân trọng cái đẹp. Sự kiêu bạc của ông trước những mưu đồ quyền lực và sự dịu dàng, hối lỗi khi nhận ra tấm lòng biệt nhỡn liên tài của quản ngục chính là sự khẳng định cho nhân cách cao thượng. Huấn Cao không chỉ viết chữ bằng tay, ông viết chữ bằng cả một lẽ sống thanh cao.

Trong khi đó, nhân vật viên quản ngục lại là một nét vẽ đầy nhân văn của Nguyễn Tuân. Sống trong môi trường của bùn nhơ, ác độc và những mưu mô thấp hèn, quản ngục vẫn giữ cho mình một "thiên lương" trong sáng. Sở nguyện cao quý của ông – được sở hữu một đôi câu đối do chính tay Huấn Cao viết – đã biến ông từ một kẻ thực thi pháp luật trở thành một người nghệ sĩ trong tâm hồn. Sự khúm núm, cung kính của ông trước Huấn Cao không phải là sự hèn nhát trước tử tù, mà là sự phủ phục của cái phàm trần trước cái cao thượng, của bóng tối trước ánh sáng đại nghĩa.

Đỉnh cao nghệ thuật của tác phẩm kết tinh trong "cảnh tượng xưa nay chưa từng có": cảnh cho chữ trong đêm cuối cùng tại nhà giam. Giữa bóng tối mịt mùng của buồng giam chật hẹp, khói tỏa từ bó đuốc tẩm dầu và mùi thơm ngào ngạt từ phiến lụa trắng còn nguyên vẹn lần hồ đã tạo nên một không gian thiêng liêng như một buổi hành lễ. Tại đây, trật tự xã hội bị đảo lộn hoàn toàn: kẻ tử tù cổ đeo gọng lại là người ban phát cái đẹp và dạy bảo lẽ sống, còn kẻ đại diện cho quyền lực lại khép nép lắng nghe trong niềm cảm động sâu sắc. Hình ảnh "người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vái người tù một vái" là khoảnh khắc cái đẹp chiến thắng sự bạo tàn, cái thiện làm chủ hoàn cảnh.

Lời khuyên của Huấn Cao dành cho quản ngục về việc thay đổi chỗ ở trước khi chơi chữ không chỉ là lời dặn dò về thẩm mỹ mà còn là một triết lý nhân sinh sâu sắc. Cái đẹp không thể chung sống với cái xấu ác; nó cần một môi trường trong sạch để tồn tại và tỏa sáng. Qua ngòi bút tài hoa, lãng mạn của Nguyễn Tuân, "Chữ người tử tù" đã vượt ra khỏi khuôn khổ của một câu chuyện lịch sử để trở thành bài ca tôn vinh những giá trị tinh thần bất diệt. Tác phẩm khẳng định một chân lý sắt đá rằng: cái đẹp chính là cứu cánh của nhân loại, nó có khả năng gột rửa tâm hồn và định hướng con người hướng tới sự chân thực và thiện lương, ngay cả trong những hoàn cảnh nghiệt ngã nhất.

Bài mẫu 5

Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao là một trong những tác phẩm chân thực nhất, ấn tượng nhất mà em từng đọc. Truyện không chỉ thu hút người đọc bởi tính phản ánh chân thực hiện thực của xã hội mà nó còn hấp dẫn ở lối tự sự đầy sáng tạo, hấp dẫn của tác giả khi miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật Chí Phèo. 

Cách kể chuyện ở đây không chỉ đơn thuần là cách kể về diễn biến của câu chuyện về những sự kiện, sự việc diễn ra trong đó. Ở đây, Nam Cao đã vận dụng cách kể chuyện độc đáo không chỉ trong các sự kiện mà còn trong cả diễn biến tâm lí của nhân vật, đặc biệt là diễn biến tâm lí của nhân vật Chí Phèo - từ sự biến đổi sau khi đi tù về cho đến quá trình hoàn lương trở thành người lương thiện. 

Mở đầu tác phẩm, Nam Cao đã sử dụng cách kể chuyện độc đáo của mình để miêu tả một Chí Phèo say rượu, vừa đi vừa chửi. Điểm độc đáo ở đây là trong lời chửi, không chỉ là lời miêu tả của tác giả mà trong đó, có cả lời của chính nhân vật - những lời độc thoại nội tâm. Cách sử dụng những lời độc thoại nội tâm như vậy giúp người đọc có thể dễ dàng lắm bắt được diễn biến tâm lý nhân vật và thể hiện sự khai thác sự kiện trên cái nhìn đa chiều của tác giả. Tiếp đến, ông kể về Chí Phèo, là một đứa trẻ mồ côi lương thiện, bị bá kiến cho đi tù và ra tù, hắn trở thành con quỷ của làng Vũ Đại. Hắn trở thành một kẻ chuyên làm nghề rạch mặt, ăn vạ, ngày ngày say khướt và trở thành tay sai của bá kiến. 

Đỉnh cao của nghệ thuật kể chuyện độc đáo của Nam Cao phải kể đến ở chỗ khi ông phân tích quá trình hoàn lương của Chí Phèo. Hắn gặp Thị Nở - người đàn bà xấu xí cho hắn biết cảm giác thế nào là tình yêu, là niềm hạnh phúc. Tỉnh dậy sau đến gặp thị Nở, nhận thức của Chí Phèo dần thay đổi. Hắn đã hết say và lắng nghe thấy những thanh âm trong trẻo của cuộc sống mà trước đây hắn chưa từng nghe thấy. Hắn thấy vui rồi lại buồn, rồi lại nghĩ về tương lai, mơ ước về cuộc sống hạnh phúc, giản dị và bình yên. Chí Phèo đang cảm thấy hạnh phúc, chìm đắm trong tình yêu và sự quan tâm của thị Nở. Sau khi nghe lời khuyên của bà cô, thị quay ra đòi chia tay hắn, Chí Phèo muốn níu kéo niềm hạnh phúc nhỏ nhoi này nhưng hắn nhận ra, hắn chẳng có gì để níu kéo. Hắn muốn tìm lại kẻ đầu sỏ, kẻ khiến hắn trở lên như vậy - bá kiến. Đến đây, Nam Cao đã lột tả hết tài năng miêu tả diễn biến tâm lý của mình, ông khoan dung với số phận của hắn, tin tưởng vào sự lương thiện của con người khi miêu tả niềm vui, sự hạnh phúc nhen nhóm của Chí Phèo. 

Bởi vậy, sức hấp dẫn của Chí Phèo không chỉ nằm ở cốt truyện giản dị, thật tâm về người nông dân, nông thôn Việt Nam trong những năm chiến tranh, mà nó còn nằm ở sự độc đáo trong cách kể chuyện, miêu tả diễn biến tâm lý của nhân vật một cách chỉn chu, đa dạng trên nhiều phương diện khác nhau để soi chiếu được rõ nhất tâm lí của mỗi nhân vật. 

Vì vậy, truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao xứng đáng là một trong những tác phẩm hay nhất, kinh điển nhất về nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật của một nhà văn luôn phản ánh cuộc sống đời thực của những người bất hạnh trong xã hội. Nhưng qua đó, ông cũng khẳng định sự lương thiện luôn ẩn chứa trong họ dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. 

Bài mẫu 6

Trong kho tàng văn học thế giới, An-đéc-xen là nhà văn nổi tiếng với những truyện cổ tích giàu giá trị nhân văn sâu sắc. Những câu chuyện của ông không chỉ dành cho trẻ em mà còn khiến người lớn phải suy ngẫm. Truyện ngắn “Cô bé bán diêm” là một tác phẩm tiêu biểu, để lại nhiều xúc động bởi số phận bất hạnh của nhân vật chính, đồng thời thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của tác giả.

Câu chuyện diễn ra vào đêm giao thừa lạnh giá, khi mọi gia đình đang sum họp, quây quần bên nhau thì cô bé bán diêm lại phải lang thang ngoài đường để kiếm sống. Hình ảnh cô bé hiện lên thật đáng thương: đầu trần, chân đất, quần áo mỏng manh, phải đối mặt với cái lạnh cắt da cắt thịt. Không chỉ thiếu thốn về vật chất, em còn thiếu cả tình yêu thương khi không dám về nhà vì sợ bị cha đánh. Những chi tiết ấy đã khắc họa rõ nét cuộc sống khốn khổ của cô bé, đồng thời phản ánh sự thờ ơ của xã hội đối với những con người nghèo khổ.

Trong hoàn cảnh ấy, những que diêm trở thành nguồn an ủi duy nhất của cô bé. Mỗi lần quẹt diêm là một lần em được sống trong những giấc mơ đẹp: hình ảnh lò sưởi ấm áp, bàn ăn thịnh soạn, cây thông Noel rực rỡ và đặc biệt là hình ảnh người bà hiền hậu. Những giấc mơ ấy không chỉ thể hiện khát khao được no ấm mà còn cho thấy mong muốn được yêu thương, được che chở. Thế nhưng, mỗi lần que diêm tắt, tất cả lại trở về với thực tại lạnh lẽo, tàn nhẫn. Sự đối lập giữa mộng và thực càng làm nổi bật bi kịch của cô bé.

Đỉnh điểm của câu chuyện là khi cô bé nhìn thấy bà và quyết định đốt hết những que diêm còn lại để giữ lấy hình ảnh ấy. Trong giây phút đó, em không còn cảm thấy lạnh lẽo hay đau khổ, mà chìm trong niềm hạnh phúc khi được ở bên người thân. Kết thúc truyện, cô bé chết trong đêm giao thừa, trên môi vẫn nở nụ cười. Đây là một kết thúc đầy ám ảnh: cái chết vừa là bi kịch, vừa là sự giải thoát cho một cuộc đời đau khổ.

Qua hình ảnh cô bé bán diêm, An-đéc-xen đã tố cáo xã hội vô cảm, nơi những con người nghèo khổ bị bỏ rơi, không được quan tâm. Đồng thời, tác giả cũng thể hiện niềm xót thương sâu sắc đối với những số phận bất hạnh, đặc biệt là trẻ em. Những giấc mơ của cô bé không chỉ là ảo ảnh mà còn là biểu tượng cho khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Về nghệ thuật, truyện sử dụng bút pháp tương phản giữa thực và mộng, giữa ánh sáng và bóng tối, giữa ấm áp và lạnh lẽo, tạo nên hiệu quả cảm xúc mạnh mẽ. Ngôn ngữ giản dị nhưng giàu hình ảnh, dễ đi vào lòng người, khiến câu chuyện trở nên sâu sắc và giàu ý nghĩa.

“Cô bé bán diêm” không chỉ là một câu chuyện buồn mà còn là lời nhắc nhở về lòng nhân ái trong cuộc sống. Qua đó, người đọc nhận ra rằng sự quan tâm, sẻ chia giữa con người với con người là điều vô cùng cần thiết, để không còn những số phận bất hạnh như cô bé trong câu chuyện

Bài mẫu 7

Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Ông nổi tiếng với những tác phẩm viết về người nông dân nghèo và người trí thức tiểu tư sản, trong đó truyện ngắn “Lão Hạc” là một tác phẩm tiêu biểu, để lại nhiều ám ảnh trong lòng người đọc. Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết của lão Hạc, Nam Cao không chỉ phản ánh chân thực cuộc sống khốn khổ của người nông dân mà còn thể hiện sâu sắc vẻ đẹp nhân cách và tấm lòng của họ.

Trước hết, nhân vật lão Hạc hiện lên là một người nông dân nghèo khổ, cô đơn nhưng giàu lòng tự trọng. Vợ mất sớm, con trai vì nghèo túng mà phải bỏ đi làm đồn điền cao su, lão Hạc sống một mình trong cảnh túng quẫn, chỉ có con chó Vàng làm bạn. Đối với lão, con chó không chỉ là vật nuôi mà còn như một người thân, một kỷ niệm gắn bó với đứa con trai. Chính vì vậy, khi buộc phải bán chó để có tiền sinh sống, lão Hạc đã vô cùng đau đớn và dằn vặt. Chi tiết lão kể chuyện bán chó với ông giáo, vừa kể vừa khóc, đã cho thấy rõ sự day dứt và tình cảm chân thành của lão. Điều đó chứng tỏ lão không hề vô cảm mà ngược lại, là một con người giàu tình yêu thương.

Không chỉ vậy, lão Hạc còn là người có lòng tự trọng cao. Dù cuộc sống vô cùng khó khăn, lão vẫn không muốn làm phiền hay dựa dẫm vào người khác. Lão từ chối sự giúp đỡ của ông giáo, quyết định giữ lại mảnh vườn cho con trai và sống tằn tiện bằng số tiền ít ỏi còn lại. Khi nhận thấy mình không thể sống tiếp mà vẫn giữ được lòng tự trọng, lão đã lựa chọn một cái chết đau đớn bằng bả chó. Cái chết ấy không chỉ là sự giải thoát mà còn là cách để lão giữ gìn phẩm giá của mình, không trở thành gánh nặng cho người khác.

Qua nhân vật lão Hạc, Nam Cao đã thể hiện một cách sâu sắc số phận bi thảm của người nông dân trong xã hội cũ. Họ nghèo khổ, bế tắc, không có lối thoát và phải đối mặt với những lựa chọn đau đớn. Đồng thời, nhà văn cũng khẳng định rằng dù trong hoàn cảnh khó khăn đến đâu, con người vẫn có thể giữ được phẩm chất tốt đẹp của mình. Lão Hạc tuy nghèo nhưng không hèn, tuy khổ nhưng vẫn giữ được lòng tự trọng và tình thương.

Bên cạnh đó, nhân vật ông giáo trong truyện cũng góp phần làm nổi bật chủ đề của tác phẩm. Ông giáo là người có học, có lòng cảm thông và luôn nhìn nhận con người bằng sự thấu hiểu. Qua suy nghĩ của ông giáo, Nam Cao gửi gắm một quan niệm nhân đạo sâu sắc: không nên vội vàng đánh giá người khác khi chưa hiểu rõ hoàn cảnh của họ.

Về nghệ thuật, truyện ngắn “Lão Hạc” gây ấn tượng bởi cách kể chuyện tự nhiên, chân thực, ngôn ngữ giản dị nhưng giàu cảm xúc. Đặc biệt, nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật rất tinh tế, giúp người đọc cảm nhận rõ nỗi đau, sự giằng xé trong nội tâm lão Hạc.

“Lão Hạc” không chỉ là câu chuyện về một người nông dân nghèo mà còn là tiếng nói đầy xót xa về số phận con người trong xã hội cũ. Qua đó, Nam Cao thể hiện sự trân trọng đối với những phẩm chất tốt đẹp của con người, dù họ sống trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.

Bài mẫu 8

Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam thời kì đổi mới, với những sáng tác giàu tính triết lí và chiều sâu nhân sinh. Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” là một tác phẩm đặc sắc, thể hiện rõ phong cách nghệ thuật của ông. Qua câu chuyện về chuyến đi thực tế của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, tác phẩm không chỉ phản ánh hiện thực cuộc sống mà còn đặt ra những vấn đề sâu sắc về cách nhìn nhận con người và cuộc đời.

Trước hết, truyện gây ấn tượng bởi tình huống truyện độc đáo, khi Phùng phát hiện ra một cảnh đẹp “trời cho” trên biển. Đó là hình ảnh chiếc thuyền lưới vó xuất hiện trong làn sương sớm, với bố cục hài hòa, đường nét mềm mại, tạo nên một bức tranh hoàn hảo như một tác phẩm nghệ thuật. Trước cảnh tượng ấy, Phùng cảm thấy rung động mãnh liệt, tưởng như vừa khám phá được chân lí của cái đẹp. Khoảnh khắc đó khiến anh nhận ra rằng nghệ thuật có thể mang đến những cảm xúc tinh khiết và giúp con người trở nên tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, ngay sau đó, một sự thật phũ phàng đã diễn ra: từ chính chiếc thuyền đẹp đẽ ấy bước ra một người đàn ông thô bạo, đánh đập vợ mình một cách tàn nhẫn. Sự đối lập giữa vẻ đẹp bên ngoài và hiện thực bên trong đã tạo nên một cú sốc mạnh, khiến Phùng nhận ra rằng cuộc sống không đơn giản như những gì ta nhìn thấy.

Qua tình huống đó, tác phẩm đã làm nổi bật vấn đề nhận thức về cuộc sống và con người. Ban đầu, Phùng nhìn cuộc đời qua lăng kính nghệ thuật, thấy mọi thứ đều đẹp đẽ, hoàn mỹ. Nhưng khi chứng kiến cảnh bạo lực gia đình, anh nhận ra rằng phía sau vẻ đẹp ấy là những nỗi đau, những số phận bất hạnh. Điều này cho thấy, nếu chỉ nhìn nhận cuộc sống một cách đơn giản, phiến diện, ta sẽ không thể hiểu hết bản chất của nó. Con người cần có cái nhìn đa chiều, sâu sắc hơn để thấu hiểu những góc khuất của cuộc đời.

Nhân vật người đàn bà hàng chài là hình tượng để lại nhiều ám ảnh. Bà hiện lên với vẻ ngoài lam lũ, xấu xí, cuộc sống nghèo khổ và thường xuyên bị chồng đánh đập. Thế nhưng, ẩn sau vẻ ngoài ấy lại là một con người giàu đức hi sinh và tình thương. Bà chấp nhận chịu đựng bạo lực không phải vì yếu đuối, mà vì thương con, vì muốn các con có một mái ấm, dù đó là mái ấm đầy đau khổ. Khi được Đẩu và Phùng khuyên bỏ chồng, bà đã từ chối, bởi bà hiểu rằng cuộc sống của mình không đơn giản như những người ngoài cuộc nghĩ. Lời nói của bà khiến Phùng nhận ra rằng không thể dùng những tiêu chuẩn đạo đức đơn giản để đánh giá một con người hay một hoàn cảnh.

Bên cạnh đó, nhân vật Phùng cũng có sự thay đổi trong nhận thức. Từ một người nghệ sĩ chỉ biết say mê cái đẹp, anh dần nhận ra trách nhiệm của mình trong việc nhìn nhận và phản ánh cuộc sống. Anh hiểu rằng nghệ thuật không chỉ dừng lại ở cái đẹp bề ngoài, mà còn phải gắn liền với cuộc sống, với con người và những vấn đề thực tế. Đây chính là thông điệp mà Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm: người nghệ sĩ cần có cái nhìn sâu sắc, nhân văn, không được đơn giản hóa hiện thực.

Tác phẩm không chỉ thành công về nội dung mà còn nổi bật ở nghệ thuật xây dựng tình huống, cách kể chuyện tự nhiên và ngôn ngữ giàu sức gợi. Đặc biệt, sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và triết lí đã tạo nên chiều sâu cho câu chuyện, khiến người đọc không chỉ cảm nhận mà còn suy ngẫm.

“Chiếc thuyền ngoài xa” là một tác phẩm mang ý nghĩa sâu sắc, giúp người đọc nhận ra rằng cuộc sống luôn tồn tại nhiều mặt khác nhau, không thể nhìn nhận một cách đơn giản. Qua đó, nhà văn khẳng định giá trị của cái nhìn đa chiều, nhân văn trong việc hiểu con người và cuộc đời.

 

Bài mẫu 9

Trong không gian của văn xuôi hiện thực Việt Nam hiện đại, nếu có một tác phẩm nào đủ sức lay động lòng người bởi sự hòa quyện giữa nỗi đau nhân thế và vẻ đẹp của tình phụ tử thiêng liêng, thì đó chính là truyện ngắn "Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng. Tác phẩm không chỉ đơn thuần là một câu chuyện về chiến tranh, mà còn là một bản anh hùng ca thầm lặng về sợi dây huyết thống bền chặt, một minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của tình yêu thương có thể xuyên qua làn tên mũi đạn, xóa nhòa khoảng cách của không gian và thời gian.

Câu chuyện được đặt trong một bối cảnh vô cùng đặc biệt và giàu tính bi kịch: cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang ở giai đoạn khốc liệt. Nhân vật chính là ông Sáu – một người lính đi kháng chiến từ khi con gái đầu lòng mới tròn một tuổi. Sau tám năm đằng đẵng cách biệt, ông mới có cơ hội trở về thăm nhà trong ba ngày nghỉ phép ngắn ngủi. Thế nhưng, bi kịch trớ trêu đã xảy ra ngay trong giây phút gặp gỡ mà ông hằng mong đợi. Bé Thu – con gái ông – đã nhất quyết không nhận cha vì vết sẹo dài trên má đã làm ông không còn giống với người cha trong tấm ảnh cũ.

Nguyễn Quang Sáng đã vô cùng tinh tế khi khắc họa tâm lý của bé Thu. Sự bướng bỉnh, quyết liệt của em khi từ chối sự quan tâm của ông Sáu không phải là biểu hiện của sự ngỗ ngược, mà ngược lại, đó là minh chứng cho một tình yêu cha sâu sắc và thuần khiết. Trong thế giới tâm hồn của một đứa trẻ, người cha phải là người hoàn hảo như tấm ảnh chụp chung với mẹ năm nào. Vết sẹo – dấu tích của chiến tranh tàn khốc – đã vô tình trở thành bức tường ngăn cách hai cha con. Sự phản kháng của bé Thu, từ việc nói trống không đến việc hất tung cái trứng cá mà ông Sáu gắp cho, đã đẩy nỗi đau của người cha lên đến đỉnh điểm. Ông Sáu càng khao khát tình thâm bao nhiêu thì lại càng bất lực bấy nhiêu trước sự chối bỏ của chính đứa con mình hằng đêm thương nhớ.

Tuy nhiên, giá trị nhân văn cao cả của tác phẩm thực sự bùng nổ ở khoảnh khắc chia tay. Khi bé Thu được bà ngoại giải thích về nguồn gốc vết sẹo, mọi nghi ngờ tan biến, nhường chỗ cho một tình yêu mãnh liệt được kìm nén suốt bấy lâu. Tiếng kêu "Ba..." xé lòng của Thu tại bến xuồng không chỉ là tiếng gọi cha đơn thuần, mà là tiếng lòng thổn thức của một đứa con đã tìm lại được cội nguồn tình cảm. Hình ảnh bé Thu ôm chặt lấy cổ cha, hôn lên khắp người và hôn cả lên vết sẹo dài trên má đã xóa tan mọi khoảng cách. Đó là khoảnh khắc mà chiến tranh dù có tàn khốc đến đâu cũng phải chịu thua trước sức mạnh của tình mẫu tử, tình phụ tử.

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt tác phẩm và cũng là biểu tượng nghệ thuật đắt giá nhất chính là chiếc lược ngà. Khi trở lại khu căn cứ, nỗi ân hận vì đã lỡ đánh con trong lúc nóng giận đã thôi thúc ông Sáu làm một món quà cho con gái. Ông đã dồn tất cả tình yêu thương, nỗi nhớ nhung và cả sự hối lỗi vào việc mài giũa từng chiếc răng lược từ một khúc ngà voi nhặt được. Mỗi khi nhớ con, ông lại mang chiếc lược ra chải lên tóc mình cho thêm bóng, thêm mượt. Chiếc lược ấy không chỉ là một vật dụng, nó là hiện thân của linh hồn, là nhịp cầu kết nối giữa người cha nơi chiến trường và người con nơi hậu phương.

Cái chết của ông Sáu nơi chiến trường mang một âm hưởng bi tráng. Ngay cả khi hơi thở cuối cùng sắp lịm đi, điều duy nhất ông quan tâm không phải là sự sống của mình, mà là việc trao lại chiếc lược cho người bạn để nhờ gửi về cho con gái. Cái cử chỉ "đưa tay vào túi, móc cây lược" và ánh mắt nhìn người bạn như một lời khẩn cầu cuối cùng đã chạm đến trái tim của mọi độc giả. Ông Sáu ra đi, nhưng tình phụ tử của ông đã kịp kết tinh vào chiếc lược ngà để tiếp tục sống mãi.

Tác phẩm khép lại khi chiếc lược cuối cùng cũng đến được tay bé Thu – lúc này đã trở thành một cô giao liên dũng cảm. Chiến tranh có thể cướp đi sinh mạng của người cha, nhưng không bao giờ có thể hủy diệt được tình yêu mà người cha ấy để lại. Nguyễn Quang Sáng đã sử dụng một lối kể chuyện giản dị, tự nhiên nhưng lại chứa đựng sức công phá mạnh mẽ vào cảm xúc. "Chiếc lược ngà" không chỉ ca ngợi tình cha con, mà còn là lời tố cáo đanh thép sự tàn bạo của chiến tranh đã gây ra bao chia lìa, mất mát cho những gia đình Việt Nam. Tình cảm thiêng liêng ấy chính là ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn con người giữa mùa đông lạnh lẽo của đạn bom, là sức mạnh niềm tin để họ tiếp tục chiến đấu và hy vọng vào một ngày mai hòa bình, nơi những chiếc lược sẽ không còn phải trao đi trong nước mắt và sự hy sinh.

Bài mẫu 10

Tô Hoài là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt thành công khi viết về cuộc sống và con người vùng núi Tây Bắc. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” là một tác phẩm tiêu biểu, được trích trong tập “Truyện Tây Bắc”, không chỉ phản ánh chân thực số phận đau khổ của người dân miền núi dưới ách áp bức của chế độ phong kiến mà còn làm nổi bật sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của con người.

Trước hết, tác phẩm đã xây dựng thành công nhân vật Mị – một cô gái xinh đẹp, tài năng nhưng có số phận đầy bi kịch. Trước khi trở thành con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra, Mị là một cô gái yêu đời, yêu tự do, có tài thổi sáo và được nhiều người theo đuổi. Mị từng có khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc như bao người con gái khác. Thế nhưng, chỉ vì món nợ truyền kiếp của cha mẹ, Mị bị bắt về làm con dâu gạt nợ, thực chất là thân phận của một kẻ nô lệ. Từ đó, cuộc đời Mị rơi vào chuỗi ngày tăm tối, bị bóc lột sức lao động và bị tước đoạt quyền sống. Mị phải làm việc quần quật, không khác gì con trâu, con ngựa, “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Hình ảnh ấy cho thấy sự tàn nhẫn của chế độ phong kiến miền núi, đã biến con người thành công cụ lao động, làm mất đi cả ý thức về bản thân.

Không chỉ bị áp bức về thể xác, Mị còn bị tê liệt về tinh thần. Cô sống mà như không sống, không còn cảm xúc, không còn ý thức về thời gian hay không gian. Những ngày tháng trôi qua với Mị đều giống nhau, buồn tẻ và vô nghĩa. Điều này cho thấy sự hủy hoại ghê gớm của chế độ phong kiến đối với đời sống tinh thần của con người. Tuy nhiên, điều đáng nói là dù bị đè nén đến đâu, trong Mị vẫn âm ỉ một sức sống mãnh liệt, chỉ chờ cơ hội để bùng lên.

Sức sống ấy được đánh thức trong đêm tình mùa xuân. Khi nghe tiếng sáo gọi bạn tình vang lên, lòng Mị bắt đầu xao động. Những kỉ niệm đẹp của tuổi trẻ, những khát khao yêu đương, tự do dần trở lại. Mị uống rượu, muốn đi chơi xuân, muốn sống lại những ngày tháng tự do trước kia. Dù sau đó bị A Sử trói đứng vào cột, nhưng trong tâm hồn Mị vẫn không hoàn toàn bị khuất phục. Điều này cho thấy khát vọng sống không bao giờ mất đi, chỉ bị che lấp trong một thời gian dài.

Đỉnh cao của sự thức tỉnh trong Mị chính là hành động cắt dây cứu A Phủ. Khi nhìn thấy A Phủ bị trói đứng giữa trời lạnh, sắp chết vì đói rét, Mị ban đầu vẫn thờ ơ. Nhưng khi thấy dòng nước mắt lặng lẽ chảy xuống trên khuôn mặt A Phủ, Mị chợt nhận ra hình ảnh của chính mình trong đó. Sự đồng cảm đã đánh thức lòng thương người và cả ý thức về quyền sống. Mị quyết định cắt dây trói, giải thoát cho A Phủ, đồng thời cũng tự giải thoát cho chính mình. Đây là hành động mang tính bước ngoặt, thể hiện sự vùng lên mạnh mẽ của con người trước áp bức.

Nhân vật A Phủ cũng là một hình tượng tiêu biểu cho số phận người lao động miền núi. A Phủ mồ côi từ nhỏ, sống tự do, mạnh mẽ, nhưng vì dám đánh con quan mà bị bắt làm nô lệ. Cuộc đời A Phủ là chuỗi ngày bị bóc lột và hành hạ. Tuy nhiên, ở anh vẫn toát lên sức sống, sự gan góc và tinh thần phản kháng. Sự gặp gỡ giữa Mị và A Phủ không chỉ là sự đồng cảm giữa hai số phận mà còn mở ra con đường giải thoát cho cả hai.

Thông qua câu chuyện của Mị và A Phủ, Tô Hoài đã tố cáo mạnh mẽ chế độ phong kiến miền núi tàn bạo, đồng thời khẳng định sức sống bền bỉ, khát vọng tự do của con người. Dù bị đè nén trong hoàn cảnh khắc nghiệt, con người vẫn không ngừng hướng tới ánh sáng, hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Tác phẩm còn gây ấn tượng bởi nghệ thuật kể chuyện sinh động, cách miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế và ngôn ngữ giàu màu sắc vùng miền. Đặc biệt, việc xây dựng những tình huống giàu kịch tính đã góp phần làm nổi bật sự chuyển biến trong tâm lí nhân vật.

“Vợ chồng A Phủ” không chỉ là câu chuyện về số phận con người mà còn là bản ca về sức sống và khát vọng tự do. Qua đó, người đọc cảm nhận được giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm, cũng như tài năng của Tô Hoài trong việc khám phá vẻ đẹp con người trong hoàn cảnh khó khăn nhất.

Bài mẫu 11

Nguyễn Dữ là một trong những tác giả tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam, nổi tiếng với tập truyện “Truyền kì mạn lục” – nơi ông gửi gắm những suy tư về con người và xã hội thông qua các yếu tố kì ảo. Trong đó, “Chuyện người con gái Nam Xương” là một tác phẩm đặc sắc, không chỉ phản ánh số phận oan nghiệt của người phụ nữ trong xã hội phong kiến mà còn thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của nhà văn. Qua câu chuyện về Vũ Nương, tác phẩm để lại nhiều ám ảnh và suy ngẫm về công lí, hạnh phúc và giá trị con người.

Nhân vật trung tâm của truyện là Vũ Nương, một người phụ nữ hội tụ nhiều phẩm chất tốt đẹp. Ngay từ đầu, nàng đã được giới thiệu là người “tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp”. Khi lấy Trương Sinh – một người chồng có tính đa nghi – Vũ Nương luôn giữ gìn khuôn phép, cư xử đúng mực để gia đình êm ấm. Khi chồng đi lính, nàng một mình nuôi con, chăm sóc mẹ chồng già yếu, làm tròn bổn phận của một người con dâu hiếu thảo. Đến khi mẹ chồng qua đời, nàng lo ma chay chu đáo, thể hiện trọn vẹn đạo hiếu. Những chi tiết ấy cho thấy Vũ Nương không chỉ là người vợ thủy chung mà còn là người con dâu hiền thảo, tiêu biểu cho vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.

Tuy nhiên, số phận của Vũ Nương lại vô cùng bi thảm. Khi Trương Sinh trở về, chỉ vì lời nói ngây thơ của đứa con nhỏ mà nghi ngờ vợ không chung thủy. Không cần tìm hiểu rõ sự thật, Trương Sinh đã mắng nhiếc, đánh đuổi Vũ Nương. Trong xã hội phong kiến, nơi người phụ nữ không có quyền lên tiếng bảo vệ mình, Vũ Nương rơi vào tình cảnh oan ức, không thể giãi bày. Dù đã hết lời thanh minh, nàng vẫn không được tin tưởng. Bị dồn đến bước đường cùng, Vũ Nương đã chọn cái chết để chứng minh sự trong sạch của mình. Hành động gieo mình xuống sông Hoàng Giang không chỉ là sự tuyệt vọng mà còn là lời tố cáo mạnh mẽ đối với xã hội bất công đã đẩy con người vào bi kịch.

Bi kịch của Vũ Nương không chỉ xuất phát từ tính đa nghi của Trương Sinh mà còn phản ánh bản chất bất công của xã hội phong kiến. Trong xã hội ấy, người phụ nữ luôn ở vị thế thấp kém, không có quyền tự quyết số phận. Chỉ một lời nói vô tình cũng có thể hủy hoại cả cuộc đời họ. Qua đó, Nguyễn Dữ đã bày tỏ sự cảm thương sâu sắc đối với số phận người phụ nữ và lên án những hủ tục, định kiến đã gây ra những oan khuất không thể giải tỏa.

Chi tiết kì ảo ở cuối truyện, khi Vũ Nương được Linh Phi cứu giúp và sống ở thủy cung, mang ý nghĩa đặc biệt. Đây không chỉ là yếu tố làm tăng tính hấp dẫn cho câu chuyện mà còn thể hiện ước mơ của tác giả về sự công bằng. Ở thế giới thực, Vũ Nương không thể được minh oan, nhưng ở thế giới kì ảo, nàng được trả lại danh dự. Tuy nhiên, dù được giải oan, nàng vẫn không thể trở về cuộc sống trần gian, điều đó càng làm nổi bật nỗi đau và sự mất mát không thể bù đắp.

Nghệ thuật của tác phẩm cũng rất đặc sắc, với cách kể chuyện linh hoạt, kết hợp giữa yếu tố hiện thực và kì ảo. Ngôn ngữ truyện giản dị nhưng giàu cảm xúc, đặc biệt là những đoạn đối thoại và độc thoại nội tâm đã góp phần làm nổi bật tâm trạng nhân vật. Việc xây dựng tình huống truyện hợp lí, dẫn dắt tự nhiên cũng giúp câu chuyện trở nên hấp dẫn và giàu ý nghĩa.

Qua “Chuyện người con gái Nam Xương”, Nguyễn Dữ không chỉ kể một câu chuyện cảm động mà còn gửi gắm những suy tư sâu sắc về con người và xã hội. Hình ảnh Vũ Nương trở thành biểu tượng cho số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội cũ, đồng thời cũng là biểu tượng cho vẻ đẹp của lòng thủy chung, đức hi sinh và nhân cách cao quý. Tác phẩm vì thế vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay, khiến người đọc không khỏi xót xa và trân trọng hơn những giá trị của con người.

Bài mẫu 12

Khác với cái khốc liệt, trần trụi của Nam Cao, thế giới văn chương của Thạch Lam lại hiện lên như một bài thơ trữ tình đượm buồn. "Hai đứa trẻ" không có những xung đột gay gắt, không có những cao trào kịch tính, nhưng nó lại len lỏi vào tâm hồn người đọc bằng thứ ánh sáng nhạt nhòa của phố huyện nghèo và những kiếp người tàn tạ. Tác phẩm là sự rung động tinh tế trước nỗi đau của những con người bị lãng quên trong bóng tối của xã hội cũ.

Thạch Lam đã mở ra một buổi chiều quê "êm ả như ru" với những âm thanh quen thuộc: tiếng trống thu không, tiếng muỗi vo ve. Nhưng đằng sau cái vẻ yên bình ấy là sự lụi tàn của sự sống. Cảnh chợ tàn với những rác rưởi vỏ bưởi, vỏ thị và những đứa trẻ nhà nghèo cúi lom khom nhặt nhạnh chút gì còn sót lại gợi lên một nỗi buồn mênh mông về những thân phận nhỏ bé. Chị em Liên và An hiện lên với sự đảm đang, chín chắn trước tuổi, nhưng đôi mắt các em lại đầy sự quan sát và trắc ẩn trước những "kiếp người tàn" như mẹ con chị Tý, bà cụ Thi điên, hay gia đình bác xẩm.

Ánh sáng và bóng tối trong tác phẩm không chỉ là yếu tố miêu tả không gian mà còn mang giá trị biểu tượng sâu sắc. Phố huyện ngập chìm trong bóng tối, nơi ánh sáng chỉ là những hột sáng, khe sáng lọt qua kẽ lá hay quầng sáng nhỏ quanh ngọn đèn dầu của chị Tý. Cái bóng tối ấy như đang nuốt chửng những hy vọng mỏng manh của con người nơi đây. Thế nhưng, chính trong sự tù đọng ấy, Thạch Lam lại khắc họa một hành động đầy ý nghĩa của hai đứa trẻ: thức để chờ chuyến tàu đêm đi qua.

Chuyến tàu từ Hà Nội về không đơn thuần là một phương tiện giao thông, nó là biểu tượng của một thế giới khác – thế giới của ánh sáng rực rỡ, của sự giàu sang và âm thanh náo nhiệt. Đó là ký ức về những ngày tươi đẹp khi bố Liên chưa mất việc, khi gia đình còn được hưởng những thức quà xa xỉ. Hai đứa trẻ chờ tàu không phải để bán hàng, mà để được nhìn thấy sự chuyển động, để được sống lại những ước mơ và niềm an ủi trong chốc lát. Chuyến tàu vụt qua như một ngôi sao băng, để lại đằng sau là phố huyện càng thêm tĩnh lặng và tối tăm hơn.

Đọc "Hai đứa trẻ", ta thấy thương cho những kiếp người "nhai đi nhai lại" những công việc tẻ nhạt trong bóng tối, nhưng ta cũng trân trọng tâm hồn nhạy cảm của Liên – một cô bé dù còn nhỏ nhưng đã biết buồn cho những đứa trẻ nghèo, biết mơ về một tương lai tươi sáng hơn. Thạch Lam đã viết bằng tất cả lòng nhân ái, nhắc nhở chúng ta rằng: ngay cả trong cái nghèo nàn, xơ xác nhất, con người vẫn luôn có quyền ước mơ và cần được sẻ chia ánh sáng của tình thương.

Bài mẫu 13

Nếu ai đó hỏi tôi về nhân vật nào ám ảnh nhất trong chương trình văn học hiện thực, tôi sẽ không ngần ngại gọi tên Chí Phèo. Nam Cao không chỉ xây dựng một nhân vật, ông đã tạc một bức phù điêu đau đớn về thân phận con người trong xã hội cũ. Đọc "Chí Phèo", ta không chỉ thấy một gã say rạch mặt ăn vạ, mà còn thấy cả một cuộc đấu tranh tuyệt vọng để tìm lại hai chữ "lương thiện" đã bị vùi lấp dưới gót giày của bọn thống trị.

Bi kịch của Chí không bắt đầu từ lúc hắn đi tù, mà bắt đầu từ khi hắn sinh ra – một đứa trẻ không cha không mẹ, bị bỏ rơi bên cái lò gạch cũ. Chí đã lớn lên hiền lành như đất, từng mơ về một gia đình "chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải". Thế nhưng, cái xã hội thực dân nửa phong kiến tàn ác đã đẩy người nông dân ấy vào tù tội, để rồi khi trở về, Chí không còn là con người mà là một "con quỷ dữ của làng Vũ Đại". Nam Cao đã cực kỳ sắc sảo khi miêu tả quá trình lưu manh hóa của Chí: từ gương mặt đầy những vết sẹo ngang dọc đến tiếng chửi – một tiếng chửi bất lực nhắm vào cuộc đời, vào số phận và vào chính cái làng Vũ Đại đang quay lưng lại với hắn.

Thế nhưng, giữa vũng bùn tăm tối ấy, Nam Cao đã thắp lên một ánh sáng nhân đạo lấp lánh thông qua sự xuất hiện của thị Nở. Cuộc gặp gỡ đêm trăng và bát cháo hành ấm nóng của thị đã đánh thức cái phần người bấy lâu nay bị ngủ quên trong Chí. Lần đầu tiên Chí thấy sợ cô độc, lần đầu tiên Chí thèm làm hòa với mọi người. Bát cháo hành không chỉ là liều thuốc giải cảm, nó là biểu tượng của tình thương, là nhịp cầu duy nhất nối Chí trở lại với thế giới loài người. Khoảnh khắc Chí Phèo bâng khuâng nghe tiếng chim hót, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo, ta chợt nhận ra rằng: thiên tính con người chưa bao giờ mất đi, nó chỉ cần một chút hơi ấm để bừng tỉnh.

Kết thúc tác phẩm bằng cái chết của Chí Phèo và Bá Kiến là một kết thúc đầy sức nặng. Câu hỏi của Chí trước khi chết: "Ai cho tôi lương thiện?" vẫn mãi là tiếng vang nhức nhối. Chí phải chết vì không thể quay lại làm người lương thiện trong một xã hội vẫn còn những kẻ như Bá Kiến và sự định kiến nghiệt ngã như bà cô thị Nở. Cái chết ấy là lời tố cáo đanh thép nhất, đồng thời cũng là sự khẳng định phẩm giá: thà chết trên ngưỡng cửa làm người còn hơn sống kiếp thú vật. Nam Cao đã thực sự chạm đến tận cùng nỗi đau nhân thế, khiến mỗi chúng ta phải tự soi lại lòng mình về tình thương và sự thấu cảm giữa người với người.

Bài mẫu 14

Thạch Lam là một trong những cây bút tiêu biểu của nhóm Tự lực văn đoàn, nổi bật với phong cách nhẹ nhàng, tinh tế, giàu chất trữ tình. Không đi vào những xung đột gay gắt hay những biến cố lớn, truyện của ông thường khai thác những điều rất đỗi giản dị trong cuộc sống, nhưng lại gợi lên nhiều suy ngẫm sâu sắc về con người và tình đời. Truyện ngắn “Gió lạnh đầu mùa” là một tác phẩm như thế, vừa giản dị, nhẹ nhàng, vừa thấm đượm tình người ấm áp.

Câu chuyện mở ra trong khung cảnh những ngày đầu đông, khi những cơn gió lạnh đầu mùa bắt đầu tràn về. Trong không khí se lạnh ấy, hình ảnh hai chị em Sơn và Lan hiện lên với cuộc sống đủ đầy, êm ấm. Các em có quần áo ấm, có gia đình chăm lo, có một tuổi thơ yên bình. Tuy nhiên, điều đáng chú ý không nằm ở hoàn cảnh của Sơn và Lan, mà ở cách hai đứa trẻ cảm nhận và ứng xử với những người xung quanh, đặc biệt là với những đứa trẻ nghèo.

Khi nhìn thấy Hiên – một cô bé nghèo trong xóm – run rẩy trong cái lạnh vì không có áo ấm, Sơn đã cảm thấy thương xót. Đó không phải là một sự thương hại thoáng qua, mà là sự đồng cảm thật sự xuất phát từ trái tim. Chính cảm xúc ấy đã thôi thúc Sơn và Lan mang chiếc áo bông cũ của mình cho Hiên. Hành động ấy tuy nhỏ bé nhưng lại chứa đựng ý nghĩa lớn lao, thể hiện lòng nhân ái và sự sẻ chia giữa con người với con người.

Điều đặc biệt ở đây là tình thương của Sơn không phải là điều được dạy dỗ một cách gượng ép, mà là sự rung động tự nhiên của tâm hồn trẻ thơ. Trẻ em thường được coi là vô tư, hồn nhiên, nhưng trong truyện của Thạch Lam, các em còn mang trong mình một sự nhạy cảm sâu sắc trước nỗi khổ của người khác. Chính sự trong sáng ấy đã làm cho hành động của Sơn trở nên chân thành và đáng quý hơn.

Bên cạnh đó, hình ảnh người mẹ của Sơn cũng góp phần làm nổi bật chủ đề của tác phẩm. Khi biết chuyện, mẹ Sơn không trách mắng mà nhẹ nhàng giải thích, đồng thời tìm cách giúp đỡ Hiên một cách hợp lí hơn. Điều đó cho thấy tình thương không chỉ xuất phát từ cảm xúc mà còn cần có sự thấu hiểu và trách nhiệm. Qua đó, tác giả gửi gắm thông điệp rằng lòng nhân ái cần được nuôi dưỡng và hướng dẫn để trở nên đúng đắn và bền vững.

Không chỉ dừng lại ở việc ca ngợi tình người, “Gió lạnh đầu mùa” còn gợi lên sự đối lập giữa hai cuộc sống: một bên là sự đủ đầy, ấm áp; một bên là sự thiếu thốn, lạnh lẽo. Tuy nhiên, Thạch Lam không khai thác sự đối lập ấy theo hướng bi kịch hóa, mà nhẹ nhàng gợi mở để người đọc tự cảm nhận. Chính cách viết tinh tế này đã khiến câu chuyện trở nên sâu lắng, không ồn ào nhưng vẫn để lại dư âm lâu dài.

Về nghệ thuật, truyện mang đậm phong cách của Thạch Lam với lối kể chuyện nhẹ nhàng, giàu cảm xúc, ngôn ngữ giản dị nhưng tinh tế. Không có những tình tiết kịch tính, nhưng từng chi tiết nhỏ đều được lựa chọn kĩ lưỡng, góp phần làm nổi bật chủ đề. Đặc biệt, việc miêu tả tâm lí nhân vật rất tự nhiên, giúp người đọc dễ dàng đồng cảm với cảm xúc của các nhân vật.

Qua câu chuyện giản dị về một chiếc áo ấm trong ngày đầu đông, Thạch Lam đã gửi gắm một thông điệp sâu sắc về tình người. Trong cuộc sống, có thể chúng ta không làm được những điều lớn lao, nhưng chỉ cần một hành động nhỏ xuất phát từ lòng chân thành cũng đủ để mang lại hơi ấm cho người khác. Chính những điều giản dị ấy lại làm nên vẻ đẹp của con người và khiến cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn.

Bài mẫu 15

Trong dòng chảy miên viễn của văn chương cổ điển Trung Hoa, Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh hiện lên như một đóa hoa lạ, vừa hư thực, vừa liêu trai nhưng cũng đầy hơi thở của nhân thế. Giữa hàng trăm câu chuyện về hồ ly, ma quỷ, truyện ngắn "Dế chọi" (Xúc chức) nổi bật lên như một bản cáo trạng đanh thép, soi rọi vào những góc tối nhất của xã hội phong kiến đương thời. Tác phẩm không chỉ là một câu chuyện kỳ ảo đơn thuần, mà còn là một bức tranh hiện thực tàn khốc, nơi số phận con người bị rẻ rúng hơn cả một loài côn trùng bé nhỏ.

Mở đầu thiên truyện, Bồ Tùng Linh đã đặt người đọc vào một bối cảnh bi hài: thú vui chơi dế nơi cung đình. Từ một thú tiêu khiển phong lưu, việc dâng nộp dế chọi đã bị biến tướng thành một thứ "siêu thuế" tàn bạo, đổ ập xuống đôi vai gầy của người nông dân. Nhân vật Thành – một người hiền lành, trung hậu – đã trở thành nạn nhân điển hình cho bộ máy quan liêu ấy. Hình ảnh Thành chạy ngược chạy xuôi, lo lắng đến mất ăn mất ngủ vì một con dế, rồi bị đánh đập dã man khi không hoàn thành nghĩa vụ, đã phơi bày một nghịch lý đau xót: trong một xã hội mục nát, mạng sống của một con dân trăm họ chẳng bằng một con côn trùng mua vui cho thiên tử.

Bi kịch được đẩy lên đến đỉnh điểm thông qua một tình tiết đầy nghiệt ngã: đứa con trai nhỏ của Thành vô tình làm chết con dế quý – hy vọng sống sót cuối cùng của cả gia đình. Trong cơn hoảng loạn và tuyệt vọng tột cùng, đứa trẻ ấy đã chọn cái chết. Chi tiết này không chỉ là nỗi đau mất mát người thân, mà còn là lời tố cáo đanh thép sự tàn bạo của chế độ phong kiến. Khi nỗi sợ hãi quyền lực xâm chiếm đến cả tâm hồn trẻ thơ, khi một sinh linh bé nhỏ phải lấy cái chết để chuộc lỗi cho một con dế, thì đó là lúc xã hội ấy đã đi đến tận cùng của sự phi lý và bất công.

Tuy nhiên, nét bút của Bồ Tùng Linh không dừng lại ở sự bế tắc. Yếu tố kỳ ảo xuất hiện như một phép màu cứu rỗi khi linh hồn cậu bé hóa thân thành con dế "nhỏ mà tinh", một dũng sĩ trên đấu trường xúc chức. Con dế ấy không chỉ chiến đấu để giành chiến thắng trước những đối thủ to lớn, mà dường như nó đang chiến đấu với chính định mệnh nghiệt ngã của gia đình mình. Việc gia đình Thành giàu sang nhờ con dế thần ấy mang đậm màu sắc cổ tích, nhưng đằng sau đó lại ẩn chứa một nỗi xót xa khôn tả. Để có được sự no ấm, con người phải đánh đổi bằng chính hình hài và linh hồn của con em mình. Cái kết có hậu ấy thực chất là một "bi kịch lộn ngược", mỉa mai một thực tại mà con người chỉ có thể thoát khổ bằng con đường siêu nhiên, hoang đường.

Về phương diện nghệ thuật, Bồ Tùng Linh đã thể hiện bậc thầy trong việc đan cài giữa chất thực và chất kỳ. Ngôn ngữ kể chuyện cô đọng, hàm súc nhưng giàu sức gợi hình, tạo nên một không khí vừa u liêu, vừa nghẹt thở. Cách xây dựng tâm lý nhân vật từ lo âu, tuyệt vọng đến ngỡ ngàng, hạnh phúc được tác giả thực hiện vô cùng tinh tế, khiến người đọc không khỏi thổn thức theo từng biến cố của thiên truyện.

"Dế chọi" vượt xa giá trị của một câu chuyện giải trí để trở thành một tác phẩm nghệ thuật có sức nặng ngàn cân. Nó là tiếng khóc thương cho những thân phận nhỏ bé, là ngọn lửa cháy bỏng ước mơ về công lý và cũng là đòn roi chí mạng quất vào mặt bọn quan lại tham tàn. Gấp trang sách lại, độc giả vẫn thấy ám ảnh bởi hình ảnh con dế nhỏ bé lầm lũi chiến đấu – một biểu tượng đau xót về sự vùng vẫy của con người giữa lồng sắt phong kiến nghẹt thở.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 11 - Kết nối tri thức - Xem ngay

Group 2K9 Ôn Thi ĐGNL & ĐGTD Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...