Ghi nhớ nhanh các công thức và kiến thức trọng tâm.
Làm từng câu hỏi dưới áp lực thời gian.
Đọc văn bản sau:
(1) Ai cũng có thể làm người tử tế. Rất nhiều câu chuyện đã cho ta thấy điều đó: Một anh chàng xe ôm công nghệ khi thấy cô sinh viên quên mang tiền, đã “lì xì” cuốc xe ôm cho cô kịp giờ học. Việc ấy rất nhỏ, thường tình và khi cô gái đưa chuyện lên mạng được nhiều người bình luận, chia sẻ tích cực. Hay như nhiều người già cả, neo đơn tự nguyện xin ra khỏi diện “hộ nghèo” để nhường sự hỗ trợ cho người khác. Bị người đi xe máy đâm vào làm hỏng ô tô đắt tiền, anh Huỳnh Bảo Toàn ở TP Hồ Chí Minh không những không bắt đền mà còn hỗ trợ người đi xe máy tiền sửa chữa và rồi hôm sau còn tặng chiếc xe máy mới, chỉ vì “người ta nghèo khổ hơn, giúp không được sao còn bắt đền?”.
(2) Suy nghĩ, hành động vì người khác, cho lợi ích của người khác trong khi sẵn sàng hứng chịu thiệt thòi, nguy hiểm về mình thật sự đáng quý, đáng trân trọng biết bao. Vô vàn những câu chuyện nhỏ bé như thế chúng ta vẫn chứng kiến hoặc nghe được hằng ngày. Tất cả những người làm việc tử tế đó đều là người bình thường, như chúng ta. Thậm chí, rất nhiều người có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập ít hơn, địa vị xã hội thấp hơn chúng ta...
(3) Thật ra, sự tử tế, lòng thiện lương tiềm ẩn trong ta, chờ ta cởi mở tấm lòng và thực hiện. Các nghiên cứu tâm lý học đã khẳng định, niềm hạnh phúc nhận được khi người ta làm việc tốt, việc thiện tạo nên cảm giác tự tin, ý thức bản ngã và nhất là mang lại sức mạnh tinh thần to lớn. Vậy là, khi ta sống tử tế với người khác, cũng chính là tử tế với cuộc đời mình.
(Trích Ai cũng có thể làm người tử tế, Báo Quân đội nhân dân, 21/03/2021)
Xác định luận đề của văn bản trên.
Trong đoạn (3), tác giả đã dùng lí lẽ nào để khẳng định “khi ta sống tử tế với người khác, cũng chính là tử tế với cuộc đời mình”?
Phân tích vai trò của bằng chứng được sử dụng trong đoạn (1).
Em hiểu gì về thái độ của tác giả khi bàn về vấn đề trên?
Bài học nào từ văn bản có ý nghĩa nhất đối với em? Vì sao?
Viết bài văn phân tích truyện ngắn “Bát phở” của nhà văn Phong Điệp.
(Lược trích một phần: Nhân vật “tôi” đi ăn phở tại một quán phở khá ngon, có tiếng ở Hà Nội. Tôi tình cờ được chứng kiến câu chuyện của hai người cha đang đưa hai cậu con trai từ quê lên Hà Nội thi Đại học. Hai người bố sau khi đã trao đổi với nhau mất vài phút, họ cùng bước vào quán phở chỗ “tôi” đang ngồi).
Cả bốn người họ nhìn sang tôi, nhìn sang những bàn khác, rồi tần ngần nhìn tới nhìn lui cái biển ghi trên cửa quán.
- Phở bò nhé? Tái hay chín? Thêm cả quả trứng cho chắc bụng nhé?
Hai cậu con nhè nhẹ gật đầu: “Vâng, gì cũng được”
- Thế thì cho hai phở bò chín. Hai trứng.
Thằng nhỏ chạy bàn vo cái khăn trong tay, tần ngần nhìn bốn người, ý chừng như muốn hỏi: “Sao bốn người mà chỉ có hai bát?”. Nó chạy ra chỗ ông chủ quán, chỏng lỏn: “Hai bò!”
… Trong tích tắc, hai bát phở sóng sánh được bê ra, đặt trịnh trọng trên bàn. Chúng màu ăn đi” – Một trong hai người cha lên tiếng. Đoạn hai ông kéo xích cái ghế ra ngoài một chút, thì thầm nói chuyện với nhau. Đại loại ba cái chuyện mùa màng, bò đẻ, vải thiều sụt giá… Rồi tới nữa là chuyện phòng trọ trên này sao đắt chi mà đắt. Sáng mốt ngủ dậy, mình phải trả phòng luôn, không là họ tính thêm một ngày nữa. Mình đợi chúng nó ngoài phòng thi, thi xong thì ra bến xe về luôn. Cần thì mua mấy tấm bánh mì, lên xe ăn tạm. Về đến quê rồi, chúng nó thích ăn gì, tha hồ ăn. Chứ trên này, chậc…chậc…
Cuộc sống nơi đây hẳn là khác rất xa với nơi họ vẫn sống hàng ngày, nơi mà họ đang thon thót về đợt vải năm nay, con bò sắp đẻ lại lăn đùng ra ốm. Họ chỉ vừa lên đây vài ba bữa mà đã thấy lâu quá trời quá đất. Bộ quần áo chỉn chu nhất trong tủ quần áo của hai ông bố nông dân ấy, đều đã mang cả ra đây để mặc rồi. Những bộ quần áo không còn rõ mầu sắc ban đầu của vải nữa. Nhưng dưới quê, chỉ có lễ trọng họ mới mặc mà thôi.
Trong khi ấy, hai cậu con vẫn cặm cụi ngồi với bát phở của mình. Chúng không nói gì. Không cả dám khen một câu đại loại: “phở ở đây ngon quá!”. Hàng phở này ngon thật. Tôi vốn rành ăn phở, những quán thế này không thật nhiều. Nhưng vì sao chúng không hồ hởi mà thốt ra một câu như thế?
Và tôi, không kìm nén được mình, cứ hướng sang phía bốn con người ấy. Bốn con người ngồi lặng một góc giữa cái quán ồn ã. Người cha sẽ đợi những đứa con của mình ăn đến tận thìa nước cuối cùng, rồi lẳng lặng moi cái ví bằng vải bông chần màu lam, cất trong ngực áo ra. Ông sẽ phải đếm một lúc cho những tờ hai nghìn, năm nghìn, mười nghìn để sao cho đủ ba mươi nghìn đồng, trả cho hai bát phở…
Hai cậu con trai lặng lẽ bên những người scha. Chúng nhìn những đồng tiền đi ra khỏi ví của cha. Trên gương mặt chúng hiển hiện rõ ràng nỗi âu lo, mỏi mệt. Những kì thi, những nẻo đường ngổn ngang phía trước… Hôm nay, chúng nợ cha ba mươi nghìn đồng. Cuộc đời này, chúng nợ những người cha hơn thế nhiều…
(Trích Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 5/2019, NXB Giáo dục Việt Nam, tr.61-63)
*Phong Điệp: sinh năm 1976, quê ở Nam Định. Truyện của Phong Điệp thường ít cảm xúc lai láng nghệ sĩ, mà tràn trề những câu văn miêu tả của người quan sát khách quan, nhẹ nhõm, dửng dưng nhưng lôi cuốn người đọc đến tận câu kết cuối cùng.