Ghi nhớ nhanh các công thức và kiến thức trọng tâm.
Làm từng câu hỏi dưới áp lực thời gian.
Đọc văn bản sau:
GIẤC MƠ CỦA BÀ NỘI
(Trích)
Bao giờ cũng vậy, cứ đến chủ nhật là bà nội lại từ làng quê ngoại thành vào phố chơi với chúng tôi. Bà đến quãng chín giờ sáng. Đến là cho quà ríu rít và chuyện trò. Ôi, dường như là bao nhiêu thương nhớ sau một tuần xa cách và tích đọng từ bao năm, giờ mới có dịp bộc lộ. Bà giở cái túi xách tay ra. Cái túi xách bằng vải thô ông vẫn dùng từ ngày là nhân viên phục vụ trên tầu chạy đường Lao Cai - Hà Nội là cái túi có phép thần. Ở trong nó có đủ mùa nào thức ấy: Nhãn tháng sáu. Na tháng bảy. Roi mùa hạ. Gương sen mùa thu. Lại còn bột sắn cho mẹ tôi vốn hay bị mệt và hoa hòe cho bố tôi mới chớm bị tăng huyết áp. Vườn nhà bà có cây hòe. Hòe ra nụ, bà bắc thang hái rồi sao phơi, đóng vào từng bọc giấy báo mang ra.
- Bố anh ngày xưa cũng hay bị nhức đầu, hoa mắt, uống hoa hòe quanh năm là đỡ đấy. Bà chả nhớ sót điều gì. Thấy tôi mồ hôi mồ kê nhễ nhại, bà bảo, chẳng bù cho ông cháu, chả bao giờ thấy ra tí mồ hôi nào, kể cả lúc ngồi ở toa tàu bí gió. Ngày chủ nhật có bà đến chơi là ngày vui vẻ nhất đời. Với bà, đó cũng là những giờ phút bận rộn nhất. Bà sửa sang lại bàn thờ. Bà phủi bụi trên những tấm huân chương của bố tôi. Bà luôn chân luôn tay dọn dẹp, quét quáy. Bà lau chùi bát đĩa, bàn ghế. Bà đem quần áo của chúng tôi ra phơi phóng. Khô rồi cũng đem ra nắng phơi, cho nó thơm như lời bà nói. Bà chải đầu tết tóc cho cái Tú. Lại còn dạy nó chơi chuyền, chơi bắt hình dây chun. Nắm cổ tay tôi, bà kêu sao cháu bà gầy thế. Thấy tôi gãi đùi, gãi cẳng chân, bà bắt tôi kéo quần lên cho bà xem. Rồi bà giẫy nẩy lên: “Thằng bố, con mẹ mày nó bận công bận việc nhà tầu, nó chẳng để ý gì đến con cả. Ai lại để con gầy gò, ghẻ lở thế!”. Rồi bà ra chợ mua nắm lá về đun tắm cho tôi. Rồi giao hẹn với mẹ tôi, ngày nào cũng phải như thế. Phải cho tôi ăn uống ngon lành. Không thì bà đón về ở với bà. Bà ở làng một mình từ khi ông nội mất. Nhưng bà không thể ra ở với bố mẹ tôi được, vì như bà nói, còn họ hàng nội ngoại, nhà cửa, vườn tược, còn hàng xóm láng giềng, còn là nơi đi về của các hương hồn tiên tổ.
Thích nhất là những bữa ăn có bàn tay bà lo liệu. Đâu có phải chỉ là đồng tiền, mà còn là cả sự trìu mến ruột thịt. Nên bố tôi đi làm ở nhà ga về, ngồi vào mâm cơm, liền toét miệng cười, bảo mẹ tôi:
- Thấy chưa, không có bà thì bao giờ trẻ con nhà mình mới được ăn canh cua rau rút?
Mẹ tôi cười thèn lẹn, nhưng chưa kịp nói, đã được bà đỡ lời:
- Tôi có công lên việc xuống gì nữa đâu mà chả vẽ vời được. Mà dễ không ấy mà.
- À bà ơi, hôm nào bà nấu chân giò với dấm tỏi nhé. Lâu lâu, cháu chưa được ăn rồi. Cái Tú nũng nịu.
Bà gật đầu. Rồi bà ngồi chắp tay trước bụng nhìn chúng tôi ăn. Bố tôi nhấc đũa đưa bà, bà cầm rồi lại đặt xuống, kêu bụng dạ hồi này cứ lủng củng thế nào, không muốn ăn.
Cái Tú và cơm chan canh cua sùm sụp, ngẩng lên, cười tít mắt, nói:
- Bà ơi, bố mẹ ơi, cứ được mãi mãi như thế này thì thích quá nhỉ!
Mẹ tôi nguýt yêu cái Tú:
- Có bà, được ỷ vào bà, bà làm hộ hết mọi việc, gì mà chẳng thích!
Bà nheo nheo cặp mắt già, đưa tay vuốt mái tóc óng như tơ của cái Tú.[...]
(Trích tập truyện “Giấc mơ của bà nội”, Ma Văn Kháng, Nhà xuất bản Văn học, 1993)
Xác định lời nhân vật và lời người kể chuyện trong các câu văn sau:
Mẹ tôi cười thèn lẹn, nhưng chưa kịp nói, đã được bà đỡ lời:
- Tôi có công lên việc xuống gì nữa đâu mà chả vẽ vời được. Mà dễ không ấy mà.
Chỉ ra những chi tiết thể hiện hình ảnh người bà luôn chăm sóc, lo lắng cho các cháu.
Nêu tác dụng của biện pháp tu từ nói giảm nói tránh trong câu văn sau: “Bà ở làng một mình từ khi ông nội mất.”
Từ câu chuyện về bà nội trong đoạn trích, em rút ra được những bài học gì về cách đối nhân xử thế trong gia đình?
Viết đoạn văn (khoảng 300 chữ) ghi lại cảm xúc của em sau khi đọc bài thơ sau:
THẢ DIỀU
| Cánh diều no gióSáo nó thổi vangSao trời trôi quaDiều thành trăng vàngCánh diều no gióTiếng nó trong ngầnDiều hay chiếc thuyềnTrôi trên sông NgânCánh diều no gió Tiếng nó chơi vơiDiều là hạt cauPhơi trên nong trờiTrời như cánh đồngXong mùa gặt háiDiều em - lưỡi liềmAi quên bỏ lại | Cánh diều no gióNhạc trời réo vangTiếng diều xanh lúaUốn cong tre làngƠi chú hành quânCô lái máy càyCó nghe phơi phớiTiếng diều lượn bay?Tiếng diều vàng nắngTrời xanh cao hơnDây diều em cắmBên bờ hố bom1968 |
| (Trần Đăng Khoa, Góc sân và khoảng trời, NXB Văn hóa dân tộc, 1999) | |
Chú thích:
1. Tác giả: Trần Đăng Khoa (26/04/1958) quê làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, là một trong những cây bút tài hoa trước năm 1975. Các sáng tác của ông với bức tranh phong cảnh quê hương, thiên nhiên đã ánh lên vẻ đẹp giàu sức sống, sinh động, thể hiện cảm xúc chân tình của người con đã trải qua nhưng nốt thăng trầm với đất nước. Ông nhìn sự biến chuyển của tự nhiên qua con mắt tinh tế, cặn kẽ, thấy hiểu, làm nên những chất liệu quen thuộc, người đọc cũng dễ dàng hình dung, liên tưởng. Hình ảnh sống động, gieo vần có hồn, có nhịp, hòa làm một tựa như bản nhạc nhẹ nhàng, dịu êm.
2. Tác phẩm: Bài thơ “Thả diều” rút trong tập thơ “Góc sân và khoảng trời” là tập thơ xuất sắc của Trần Đăng Khoa được xuất bản đầu tiên năm 1968.