Ghi nhớ nhanh các công thức và kiến thức trọng tâm.
Làm từng câu hỏi dưới áp lực thời gian.
Đọc đoạn trích sau:
(1) Toàn cầu hoá đã và đang tạo nên xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, giúp các dân tộc, quốc gia xích lại gần nhau để hợp tác, trao đổi, giao lưu, học hỏi, cùng nhau phát triển.
(2) Tuy nhiên, phát triển trong bối cảnh quốc tế mới với những diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, văn hoá dân tộc cũng chịu những tác động trái chiều, rõ nhất là mặt trái của quá trình toàn cầu hoá, kinh tế thị trường và sự lấn át của các phương tiện truyền thông mới, Internet, mạng xã hội. Biên cương văn hoá tư tưởng của quốc gia cũng chịu nhiều thách thức trước sự xâm lấn của các nền tảng xuyên biên giới.
(3) Từ thực tiễn cho thấy trong quá trình toàn cầu hoá, nhất là với lĩnh vực văn hoá, nếu không có bộ lọc đủ mạnh, thiếu bản lĩnh và tính sáng tạo sẽ nguy cơ dẫn tới tiếp thu một cách thụ động, vội vã, ồ ạt. Từ đó rất dễ dẫn đến tình trạng nguồn lực, sức mạnh nội sinh trong nước bị những yếu tố ngoại sinh lấn át, chi phối; từ đó làm triệt tiêu tính đa dạng văn hoá dân tộc, tự đánh mất bản sắc, cội rễ và truyền thống văn hoá của dân tộc mình. Không thể phủ nhận cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là bước phát triển nhảy vọt của văn minh nhân loại, mở ra những không gian mới, mang lại những loại hình dịch vụ, giải trí tiện lợi cho con người, hướng tới sự phát triển toàn diện.
[...]
(4) Cần nhận thức rằng việc tiếp thu văn hoá thế giới phải có sự chọn lọc trên cơ sở các giá trị truyền thống, bản lĩnh văn hoá dân tộc. Phải tạo sức đề kháng văn hoá với những bộ lọc, vách ngăn cần thiết để đẩy lùi và chống lại sự xâm lấn của những trào lưu phản văn hoá, các luồng tư tưởng có nội dung xấu độc. Công tác quảng bá, lan toả hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến với bạn bè quốc tế cần được đẩy mạnh.
(Nguyễn Huy Phòng, Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, dẫn theo nhandan.vn, 25- 07- 2023)
Xác định luận đề của đoạn trích.
Chỉ ra 01 thao tác lập luận được sử dụng trong đoạn (2).
Phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ ẩn dụ được sử dụng trong câu văn:“Phải tạo sức đề kháng văn hoá với những bộ lọc, vách ngăn cần thiết để đẩy lùi và chống lại sự xâm lấn của những trào lưu phản văn hoá, các luồng tư tưởng có nội dung xấu độc.”.
Nêu quan điểm của tác giả thể hiện trong đoạn trích.
Anh/ chị có đồng tình với ý kiến của tác giả khi cho rằng: “Công tác quảng bá, lan toả hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến với bạn bè quốc tế cần được đẩy mạnh.” không? Vì sao? (Trình bày khoảng 5 – 7 dòng).
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ) bày tỏ ý kiến của anh/chị về những việc tuổi trẻ cần làm để có được hạnh phúc mỗi ngày.
Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 - 500 chữ) phân tích nhân vật người cô trong đoạn trích sau:
(Lược một đoạn: Phần đầu truyện kể về hoàn cảnh của nhân vật cô tôi, một người phụ nữ xinh đẹp. Hoàn cảnh nghèo, đói đã xua đuổi cô tôi ra khỏi chốn quê hương, bản quán, cô phiêu dạt lên tận miền thượng du biên giới Lào Cai. Cô đã trải qua hai cuộc hôn nhân nhưng hạnh phúc đều không trọn vẹn. Cô có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc với người chồng đầu tiên, một “sự hoà hợp tuyệt hảo” nhưng cô chú lại không có con và ngoài bốn mươi tuổi, chú bị tai nạn, đột ngột qua đời, lúc đó cô mới 30 tuổi. Người chồng thứ hai, có ả nhân tình ngang ngược. Khi mọi chuyện vỡ lở người chồng cũng ân hận quá, xin lỗi vợ và tình nguyện ra một mặt trận ác liệt để lập công chuộc tội nhưng ông hi sinh ngay ở trận đầu...)
Cô tôi cả đời thiệt thòi nhưng luôn nín nhịn, hỉ xả, trọn vẹn nghĩa tình. Cô chăm chỉ, chịu thương chịu khó, việc thổ mộc, nhỏ như cắt cỏ, đánh gianh, lớn như cuốc cày, trồng tỉa, chăn nuôi, thảy đều thông minh, giỏi giang. Cô sống với ai cũng được người ta yêu mến, kính mộ vì cô luôn mến mộ, cưu mang họ [...]
Người đàn bà đẹp lấp nỗi trống trải không chồng, không con bằng việc vất vả, hiến dâng cho tập thể, được quan niệm như một thực thể thiêng liêng hơn cá nhân bà gấp bội.[...] nhớ đến cuộc hoả hoạn xuất kì bật ý năm nào thiêu trụi hơn phân nửa nhà cửa phân xưởng sản xuất bún đậu; bà là người nhặt nhạnh từng mảnh vụn tâm hồn người đang buồn nản, gom lại, thổi vào họ một nguồn sinh lực mới. Bà dốc đến lai vàng cuối cùng vào vốn liếng cuộc vui vầy mới của tập thể. Tận tâm tận lực với mọi người, không tơ hào một xu kẽm công của, không đòi hỏi một ưu đãi dù là cỏn con, chứ đừng nói là lạm dụng quyền hành, bà là nhân chứng sinh động của một luận đề ngày càng khó chứng minh: quyền lực có thể làm cho con người tốt đẹp thêm lên! Bà được tuyên dương là chủ nhiệm hợp tác xã gương mẫu...
Tôi lên Lào Cai làm giáo viên, gặp cô tôi lúc mọi sự làm ăn còn đang thuận chiều. Thân quyến họ hàng nội ngoại tôi chẳng còn ai ngoài tôi và cô tôi. Vì vậy, tìm được tôi, cô tôi càng quý mến tôi bội phần. Cô là người mẹ của vợ chồng tôi. Cô toả vào gia đình tôi một tình thương mến mẫu tử thực sự với một phong cách riêng: chuộng việc, chuộng tình, không chuộng lời.
Khi đã ngoài năm mươi, theo nằn nì của tôi, cô tôi bằng lòng về ở với gia đình tôi. Tuổi mỗi ngày một cao, sức mỗi ngày một yếu, tôi nghĩ hẳn là cô tôi cần sự nương tựa, cậy nhờ vào con cháu. Vậy mà trên thực tế bà chẳng bao giờ tỏ ra như vậy. Bà cho chúng tôi rất nhiều và chẳng bao giờ nhờ vả lại chúng tôi. Vẫn là phong thái một người lao động, quen sống tự lập, lắm khi bà cứ như một người khách lạ trong nhà, có một sự cách bức tế nhị, rất ngại phiền hà vợ chồng tôi [...]
(Trích Miền an lạc vĩnh hằng1, Ma Văn Kháng2, 100 truyện ngắn, NXB Hội Nhà văn, 2017, tr. 269 – 272)
* Chú thích:
1 Miền an lạc vĩnh hằng là truyện ngắn viết vào năm 1994, truyện khắc họa một bức tranh bi thương về cuộc đời nhân vật người cô, xuất thân từ một vùng quê nghèo khó, phải rời bỏ quê hương để phiêu bạt lên tận miền thượng du biên giới Lào Cai. Nỗi đau mất mát, sự bất hạnh dường như đeo bám cô suốt cuộc đời nhưng cô vẫn luôn giữ vững tinh thần lạc quan, kiên cường, chịu đựng mọi gian khổ, làm lụng vất vả để nuôi sống bản thân.
2 Ma Văn Kháng là cây bút nổi bật trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam. Ông đã sáng tác hơn 20 tiểu thuyết, gần 200 truyện ngắn, phần lớn lấy cảm hứng từ sử thi và thế sự đời tư. Truyện ngắn của Ma Văn Kháng có sự kết hợp giữa tính hiện thực và tính nhân văn, giữa triết lí và trữ tình; quan tâm đến vấn đề giá trị đạo đức giữa biến động lớn lao của thời cuộc.