Ghi nhớ nhanh các công thức và kiến thức trọng tâm.
Làm từng câu hỏi dưới áp lực thời gian.
Đọc đoạn trích sau:
Một bữa đổi gió, ba lôi từ hộc tủ ra một bọc đất sét. Len lén lúc mẹ sơ hở, ba chớp lấy cái thau inox, đổ vào chút nước rồi ngồi nghịch đất với đôi mắt sáng lung linh. Đứa con không biết tại sao nhà mình lại có bọc đất sét đó. Hỏi mẹ thì mẹ cười, “hồi ba mầy còn khỏe, ổng về quê móc cục đất sét ở bên hông nhà mang lên đây. Mỗi lúc nhớ đất quá, ổng lôi ra hít hà cho đỡ nhớ”.
Đó là hồi mà ba đang đứng sát ngạch cửa của nỗi nhớ và quên. Những chuyến về quê nhiều hơn nhưng vẫn không làm đứa con lo lắng. Nghĩ rằng ba mình tới tuổi hưu rồi, ngoài giữ nhà giữ cháu thì lâu lâu ông về quê một hai hôm có sao đâu. Nhưng đứa con đâu biết, ông về rồi lại trở lên phố ngay, mà lòng ông thì cứ hoài nặng trĩu như người mắc nợ phù sa.
Hồi còn khỏe mạnh, ba hay kể về xứ sở phù sa của ông, tổ tiên mình là những cư dân đầu tiên đi mở cõi phương Nam. Các cụ đã khai hoang, lập làng, đào kinh dẫn nước; mở mang nên một miền châu thổ phì nhiêu. Ba tự hào khoe với mấy ông bạn già trên phố rằng mình là dân gốc xứ Xẻo Bần, cái xóm nhỏ năm xưa không có một viên đạn. Chỉ mấy tổ ong rừng mà đánh tan một tiểu đoàn giặc, được phong xóm Xẻo anh hùng. Hay chuyện rằng “ở quê tui, có trái giác nấu canh chua lươn thì ngon bà lạy!”. Những món ăn dân dã và đậm chất miệt vườn của ba làm mấy ông bạn gốc người thành phố, khoái chí ao ước: “Phải chi tui cũng có một miền quê yên ả như ông”.
Đứa con thì không quan tâm nhiều đến gốc tích và những món ăn kia. Nguyên quán Xẻo Bần ghi trong chứng minh thư với đứa con chỉ là mớ ký ức chập chờn, rằng một bữa sau cơn bão dữ, xóm làng tan tác, nhà cửa bị trốt[1] cuốn tan hoang. Ba mẹ bò ra từ trong đống đổ nát quờ tìm đứa con trong đêm tiếng gió gào trộn lẫn tiếng khóc thét thê lương. Nương theo quán tính của tiếng khóc đứa con, ba mẹ tìm được nó bị mắc kẹt ở một nhánh cây. Vừa khóc, ba mẹ vừa bồng đứa nhỏ chạy trối chết. Thấy gió thì tìm chỗ trú, bớt chút lại đi. Tờ mờ sáng tới bến tàu đò, trong nỗi hoang mang còn vương trên đôi mắt, ba mẹ bấm bụng bán đôi nhẫn cưới rồi lên tàu đò rời quê đi thật xa, thật xa.
Chuyến ra đi, rời mảnh đất Xẻo Bần bốn đời chôn giữ dây rốn lá nhau, ban đầu vì nỗi ám ảnh tột cùng của cơn bão dữ. Vì xóm làng đã hóa bình địa như một trận bom rơi, và cũng vì những người thân không còn nữa, sau bão. Nhưng dần dà, nỗi nhớ quê hương át đi nỗi sợ. Nỗi nhớ như cây bần cây đước bị đổ ngã, bão lặng rồi thì bám đất đâm rễ vươn lên. Hơi thở đồng quê không thôi cựa mình trong ba, làm ông có ý muốn quay về. Lúc ấy cũng là lúc đứa con vừa vào lớp một, nó đã bén rễ, hòa vào hơi thở phố phường. Ba mẹ không nỡ bứng đứa con về đất Xẻo Bần xa xôi, đường đến trường lụy mấy chuyến đò. “Mình khổ cực cách mấy cũng được, nhưng ráng không để con ngu dốt. Hy sinh nửa đời mình để con có cuộc sống đủ đầy hơn. Rồi khi nó ổn định cuộc đời, yên bề gia thất thì mình sẽ về”. Lời tâm sự cũng là lời thề nguyện của ba mẹ dúi vào lòng nhau, dúi thật sâu vào mơ ước cuối đời, như ngọn đèn nhấp nháy phía cuối đường tàu mà con tàu không biết bao giờ là đích đến.
Ba tin rằng,“thành phố không giết chết ai bao giờ, mình mến nó thì ắt nó sẽ mến mình”.
(Trích Người của đất, Lê Quang Trạng, in trên trang Hội nhà văn Việt Nam, ngày 22 tháng 02 năm 2023)
Chú thích:
Lê Quang Trạng sinh năm 1996, quê ở An Giang, là nhà văn trẻ ghi dấu ấn với nhiều thể loại. Anh thường viết về quê hương mình với giọng văn nhẹ nhàng, sâu lắng, đậm chất Nam bộ.
[1] trốt: cơn lốc
Xác định dấu hiệu nhận biết ngôi kể của đoạn trích.
Chỉ ra chi tiết thể hiện lời giải thích của người mẹ khi có bọc đất sét trong nhà.
Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn sau:
“Lời tâm sự cũng là lời thề nguyện của ba mẹ dúi vào lòng nhau, dúi thật sâu vào mơ ước cuối đời, như ngọn đèn nhấp nháy phía cuối đường tàu mà con tàu không biết bao giờ là đích đến”.
Nhận xét tình cảm của người ba dành cho xứ Xẻo Bần trong đoạn trích.
Hai ngữ liệu sau đây có sự tương đồng nào về ý nghĩa?
- “Hồi ba mầy còn khỏe, ổng về quê móc cục đất sét ở bên hông nhà mang lên đây. Mỗi lúc nhớ đất quá, ổng lôi ra hít hà cho đỡ nhớ”.
(Người của đất, Lê Quang Trạng)
- “Chị Sứ yêu biết bao nhiêu cái chốn này, nơi chị oa oa cất tiếng khóc đầu tiên, nơi quả ngọt, trái sai đã thắm hồng da dẻ chị”.
(Hòn Đất, Anh Đức)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nghệ thuật trần thuật trong đoạn trích ở phần đọc hiểu.
Trong kỉ nguyên bùng nổ của công nghệ, các thiết bị như điện thoại thông minh, máy ảnh đã giúp con người lưu lại những thông tin, sự kiện, kí ức một cách lâu dài. Điều đó khiến không ít người cho phép bản thân được quyền lãng quên.
Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của việc giữ gìn những kí ức chung của cộng đồng, dân tộc trong thời đại số.